Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phân loại theo độ dày và vị trí chỗ rách

Phân loại theo độ dày và vị trí chỗ rách

Tải bản đầy đủ - 0trang

26



- Rách nhỏ <1cm, rách vừa: 1-3cm, rách lớn: 3-5cm, rách rất lớn: >5cm.

Rách rất lớn (massive tear) là loại rách có kèm theo co rút nhiều, độ thối hóa

mỡ cao và có thể khơng thể khâu hồi phục được (irrepairable).

Theo hình dạng

- Hình liềm hay hình chữ C, hình chữ U, hình chữ L và rách rất lớn



Hình 1.26. Phân loại rách chóp xoay theo hình dạng rách: từ trái sang

phải là các kiểu rách hình chữ C, hình chữ U, hình chữ L, và kiểu rách rất

lớn.

“Nguồn: Burkhart S.S, et al (2006), Lippincott Williams & Wilkins Philadelphia” [24]



Phân loại rách một phần theo Ellman [44]: Độ 1: <3mm, độ 2: 3-6mm và

độ 3: >6mm



Hình 1.27. Hình nội soi rách bán phần mặt khớp gân chóp xoay và kỹ

thuật đo bề dày từ trong ra ngồi của kích thước lỗ rách, mỗi vạch đánh

dấu chiều dài 5mm. FP: diện bám gân chóp xoay.

“Nguồn: Burkhart S.S, et al (2006), Lippincott Williams & Wilkins Philadelphia” [24]



Như vậy có thể thấy bốn gân cảu chóp xoay bám vào đầu trên xương



27



cánh tay có vai trò quan trọng trong vận động khớp vai nhưng lại có những

khu vực yếu dễ bị rách do thối hóa. Trên thế giới bệnh lý rách chóp xoay,

phân loại rách, các phương pháp chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng đã được

nghiên cứu rõ để từ đó hình thành nên các kỹ thuật khâu gân chóp xoay vào

đầu trên xương cánh tay.

1.2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN KHÂU CHĨP XOAY QUA

NỘI SOI

1.2.1. Kỹ thuật đóng neo vào xương

Bằng nghiên cứu cơ học, Burkhart [25] đã chứng minh trong điều kiện

sinh lý bình thường kỹ thuật khâu chóp xoay bằng chỉ neo có lực cố định vào

xương tốt hơn kỹ thuật khâu với đường hầm xuyên xương. Như vậy, phẫu

thuật viên có thể thực hiện kỹ thuật khâu qua nội soi với chỉ neo.



“Nguồn: Burkhart S.S, et al (2006), Lippincott; “Nguồn: Tác giả”

Williams & Wilkins Philadelphia” [24]



Hình 1.28. Kỹ thuật đóng neo chỉ vào xương (hình bên trái). Hình bên phải

là neo đã đóng vào xương khi khâu gân.

1.2.2. Kỹ thuật khâu một hàng

Được thực hiện bằng cách đặt những mỏ neo theo đường thẳng tuyến

tính (thường sử dụng 1 hoặc 2 mỏ neo đặt bên ngoài).



28



1.2.3. Kỹ thuật khâu hai hàng

Bao gồm kỹ thuật khâu mà ở hàng trong các mỏ neo được đặt sát bờ bề

mặt sụn khớp của chỏm xương cánh tay và hàng thứ hai bên ngoài được đặt

dọc theo bờ ngoài của nơi bám chóp xoay dọc theo củ lớn xương cánh tay.



Hình 1.29. Kỹ thuật khâu hai hàng.

“Nguồn: Burkhart S.S, et al (2006), Lippincott Williams & Wilkins Philadelphia” [24]



1.2.4. Kỹ thuật khâu bắc cầu



Hình 1.30. Kỹ thuật khâu bắc cầu hay kỹ thuật khâu tương đương với khâu

xuyên xương.

“Nguồn: Stephan P (2010), Arthroscopy: The Journal of Arthroscopic and Related Surgery” [100]



Phần lớn các báo cáo hiện nay đều cho rằng hầu như khơng có sự khác

biệt về theo dõi lâm sàng giữa kỹ thuật khâu 1 hàng hay 2 hàng [50], [71],

[87], [88], [92], [98]. Mặc dù một vài nghiên cứu cho rằng kỹ thuật khâu 2

hàng cố định và lấp khoảng trống tốt hơn nên dễ lành hơn so với kỹ thuật



29



khâu 1 hàng.

1.2.5. Các kỹ thuật cột chỉ trong nội soi khớp vai

* Khái niệm [25]

Trong lúc cột chỉ, cần phân định rõ ràng sợi trụ và sợi quấn. Sợi trụ

được kéo căng để sợi quấn vòng xung quanh và tạo nên nút chỉ. Do được hình

thành bên ngoài cơ thể, các nút chỉ thường trượt vào trong dọc theo các sợi trụ

được kéo căng.



Hình 1.31. Sợi quấn và sợi trụ



Hình 1.32. Nút thắt và vòng chỉ



“Nguồn: Burkhart S.S, et al (2006), Lippincott Williams & Wilkins Philadelphia” [24]



Một nút chỉ gồm 2 thành phần: nút thắt và vòng chỉ. Để một nút chỉ có

hiệu quả, cả nút thắt và vòng chỉ cần phải chắc chắn. Mức độ chắc của nút

thắt phụ thuộc vảo 3 yếu tố: lực ma sát, sự đan xen trong nút chỉ và đoạn

chùng giữa các vòng chỉ.

* Các biến chứng trong phẫu thuật nội soi khâu chóp xoay

Nghiên cứu trên xác của Meyer [77] và cộng sự cho thấy các đường

vào của nội soi khớp vai là an tồn và khơng làm tổn thương bó mạch thần

kinh ngoại trừ tĩnh mạch đầu và đường vào ở vị trí 5 giờ (thường dùng cho

trật khớp vai). Như vậy việc nội soi khớp vai khơng có nguy cơ tổn thương

các cấu trúc quan trọng, giảm thiểu nguy cơ tổn thương thần kinh nách.

Marmor, Tang Ha và cộng sự [116] tổng kết các biến chứng của phẫu



30



thuật nội soi chi trên bao gồm 364 ca nội soi tiền cứu được thực hiện bởi 50

phẫu thuật viên trong đó có 16 ca có biến chứng chiếm tỉ lệ 4.93%. 12 ca có

biến chứng về dụng cụ, 3 trường hợp chảy máu sau mổ và 1 ca bị xẹp phổi. 9

ca đổi phương pháp mổ do khó khăn về kỹ thuật và nội soi chỉ dùng để chẩn

đoán. Sau 1 tháng có 5/133 ca có biến chứng bao gồm 1 ca liên quan đến gây

mê, 1 ca bị chảy máu, 1 dò dịch khớp, hai ca cứng khớp. Khơng có tổn

thương thần kinh hay nhiễm trùng. Như vậy nội soi chi trên nói chung hay

khớp vai nói riêng tuy khơng hồn tồn vơ hại nhưng cho thấy tỉ lệ biến

chứng thấp. Hai biến chứng quan trọng là thần kinh và nhiễm trùng gần như

không thấy. Weber [101] đã ghi nhận các biến chứng nội soi khớp vai gồm tổn

thương một phần đám rối thần kinh cánh tay do kéo dãn, thốt dịch trong lúc

mổ ra các mơ xung quanh, cứng khớp vai sau mổ, tổn thương gân do thầy

thuốc tạo ra, tạo hình mỏm cùng chưa đạt, gãy xương, rách chóp xoay trở lại,

gãy dụng cụ mỏ neo.

* Các bảng đánh giá chức năng khớp vai sau khâu chóp xoay

Bảng thang điểm Constant-Murley [37] (xem chi tiết phần mục lục): có

100 điểm, đánh giá khách quan và chủ quan chức năng khớp vai. Đau chiếm

15 điểm, hoạt động hàng ngày 20 điểm, tầm vận động vai 40 điểm, sức cơ

vùng vai 25. Đây là thang điểm được dung rộng rãi ở Châu Âu tuy nhiên

nhược điểm của thang điểm này nằm ở chỗ đánh giá sức cơ. Tác giả lấy sức

cơ người 25 tuổi có thể nâng vật nặng 25 pound khơng khó khăn làm chuẩn

và cho 25 điểm. Tuy nhiên theo tác giả Katolik [60] điều này không đúng vì

có sự khác biệt về sức cơ giữa các nhóm tuổi, giữa nam và nữ, giữa tay thuận

và tay không thuận. Tác giả Katolik đã đưa ra bảng thang điểm Constant cải

biên dựa trên việc đánh giá sức cơ của 441 người bình thường. Ơng cũng

khuyến cáo nên sử dụng thang điểm cải biên cho từng dân tộc khác nhau.

Bảng thang điểm của Đại học California, Los Angeles (UCLA) bao



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phân loại theo độ dày và vị trí chỗ rách

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×