Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nghiệm pháp cho gân dưới vai

Nghiệm pháp cho gân dưới vai

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



ý đôi khi bệnh nhân duỗi khuỷu để giữ tay n theo u cầu và như vậy sẽ

khơng chính xác. Nghiệm pháp có nhược điểm là khơng thể thực hiện khi

bệnh nhân có giới hạn xoay trong cánh tay do đau. Độ nhạy và độ đặc hiệu

được cho là đạt đến 100% trong trường hợp rách hoàn toàn gân dưới vai

nhưng nghiệm pháp này không thể phát hiện các trường hợp rách bán phần bề

dày gân dưới vai. J.Barth et al (2006) cho rằng nghiệm pháp này đặc hiệu

nhưng độ nhạy chỉ là 17.6%.



Hình 1.19. Nghiệm pháp Gerber.

“Nguồn: Cleland J, et al (2011), Lippincott William & Wilkin Philadelphia” [32]



Nghiệm pháp ép bụng: nghiệm pháp này được đề nghị để thay thế cho

nghiệm pháp Gerber khi bệnh nhân có đau hoặc hạn chế xoay trong cánh tay.

Bệnh nhân được yêu cầu đặt lòng bàn tay lên bụng với cổ tay trung tính,

khuỷu trước thân mình. Người khám đặt lòng bàn tay mình vào lòng bàn tay

bệnh nhân và u cầu bệnh nhân ép tay vào thành bụng và giữ khuỷu ở tư thế

trước thân mình. Người khám sẽ đánh giá sức ép của bệnh nhân, nếu sức ép

yếu đi nghiệm pháp được xem là dương tính.



21



Hình 1.20. Nghiệm pháp ép bụng

“Nguồn: Cleland J, et al (2011), Lippincott William & Wilkin Philadelphia” [32]



Nghiệm pháp Napoléon: được làm với tư thế như nghiệm pháp ép

bụng, bệnh nhân được yêu cầu ép bàn tay vào bụng với cổ tay thẳng. Nghiệm

pháp dương tính khi bệnh nhân phải gập cổ tay, khuỷu đưa ra sau để dùng lực

của phần sau của cơ delta để ép bụng. Mức độ gập cổ tay cho phép tiên lượng

mức độ rách của gân dưới vai [26].



Hình 1.21. Nghiệm pháp Napoléon

Hình C nghiệm pháp bình thường, A và B nghiệm pháp dương tính khi bệnh nhân

gập cổ tay để ép bàn tay vào bụng, mức độ rách càng lớn của gân dưới vai tương

ứng với mức độ gập cổ tay.

“Nguồn: Burkhart S.S, et al (2011), Lippincott William & Wilkin Philadelphia” [25]



22



Nghiệm pháp cánh tay rơi: người khám dùng tay dạng thụ động cánh

tay bệnh nhân lên tầm độ cao nhất có thể được, sau đó bỏ tay ra và yêu cầu

bệnh nhân tự giữ cánh tay của mình và hạ từ từ xuống. Nếu bệnh nhân hạ

được xuống vị trí 100o và sau đó khơng còn giữ tay được nữa mà để nó rơi tự

do xuống thân mình thì nghiệm pháp được xem là dương tính. Thường gặp

trong rách hồn tồn và rách lớn của chóp xoay.



Hình 1.22. Nghiệm pháp cánh tay rơi

“Nguồn: Cleland J, et al (2011), Lippincott William & Wilkin Philadelphia” [32]

Cận lâm sàng:

X quang thường quy:

X quang khớp vai thẳng cánh tay tư thế trung tính: Khuỷu gấp 90o. Phim

đặt sau vai. Tia tập trung vùng 1/3 dưới khớp vai. Phim này cho thấy củ lớn

xương cánh tay, độ dày vỏ xương khoảng 1mm, bờ đều, khoang dưới mỏm

cùng cánh tay phải lớn hơn 7mm và sự chênh lệch hai bên khơng q 2mm.



23



Hình 1.23. X-quang khớp vai thẳng.

Phim cho phép đánh giá sự di lệch lên trên của chỏm xương cánh tay so với ổ chảo,

hình dạng củ lớn xương cánh tay, khoảng cách khoang dưới mỏm cùng vai. Trên

phim này chỏm di chuyển lên cao, củ lớn xương cánh tay có gai xương và mỏm

cùng bị xơ đặc xương.



“Nguồn: Tác giả”

X quang khớp vai thẳng cánh tay tư thế xoay ngoài: Tư thế bệnh nhân

như trên, xoay ngoài cánh tay. Phim này cho phép phân tích phần trước củ lớn

xương cánh tay và bờ của rãnh nhị đầu.

X quang khớp vai thẳng cánh tay tư thế xoay trong: Tư thế bệnh nhân

như trên ngoại trừ cánh tay xoay trong tối đa. Phim này cho phép phân tích bờ

sau củ lớn xương cánh tay là nơi bám gân dưới gai và tròn bé, ở phim này

khoang dưới mỏm cùng chứa gân dưới gai và tròn bé, nếu khoang này hẹp có

nhiều khả năng rách hai gân này.

X quang chóp xoay nghiêng hay khớp vai nghiêng kiểu Lamy: được

Lamy mô tả từ năm 1949. Bệnh nhân chụp tư thế đứng, mặt quay vào bàn,

nghiêng ra trước 45 đến 60o, mặt ngoài vai được chụp tựa vào phim, khuỷu gấp

90o và đưa ra sau để tránh chồng xương cánh tay lên xương bả vai, tia nằm

ngang và tập trung ở khớp vai. Trên phim, xương bả vai và các thành phần của

nó tạo thành hình chữ Y và nằm ngoài lồng ngực. X quang tư thế này cho phép



24



thấy hố trên gai và dưới gai, cho thấy gián tiếp tồn bộ chóp xoay bao quanh

chỏm xương cánh tay, cho phép định vị được khối calci hố cơ chóp xoay, thấy

lỗ rách gân chóp xoay khi có bơm thuốc cản quang, phân tích được hình dạng

của phần xa của mỏm cùng, mỏm quạ và xương bả vai. Dựa trên phim này,

Bigliani chia mỏm cùng ra làm 3 giạng là dạng phẳng, cong và móc.



Hình 1.24. X-quang khớp vai nghiêng kiểu Lamy cho phép đánh giá

hình dạng mỏm cùng vai.

“Nguồn: Tác giả”

Siêu âm: có độ nhạy và độ đặc hiệu lớn hơn 90% theo các báo cáo ở

nước ngoài. Chưa có cơng trình nghiên cứu trong nước cơng bố độ nhạy và độ

đặc hiệu.

Chụp cắt lớp điện tốn có bơm thuốc cản quang: phương pháp này

được các tác giả Pháp ưa thích, có độ nhạy là 99%, độ đặc hiệu là 100% cho

chẩn đoán rách gân trên gai, đối với gân dưới gai tỉ lệ này lần lượt là 97,44%

và 99,52%, đối với gân dưới vai là 64,71% và 98,17%. Cho những tổn thương

của phần đầu dài gân nhị đầu là 45,76% và 99,57% [28].

Cộng hưởng từ: có độ nhạy và độ đặc hiệu lớn hơn 90% đặc biệt khi có

tiêm thuốc tương phản từ cho phép chẩn đốn các rách bán phần bề dày mặt

hoạt dịch, mặt khớp hay trong gân.



25



Hình 1.25. MRI khớp vai có bơm thuốc cản từ cho thấy đầu gân rách tụt

vào trong, thuốc cản từ màu trắng nằm ở bên ngồi.

“Nguồn: Tác giả”

Chẩn đốn phân biệt:

- Viêm gân và túi cùng dưới mỏm cùng vai.

- Viêm co rút bao khớp vai

- Thối hóa khớp ổ chảo cánh tay

- Viêm khớp cùng đòn

- Bệnh lý thần kinh trên vai và bệnh lý rễ thần kinh cột sống cổ.

Phân loại

Có nhiều cách phân loại khác nhau về rách chóp xoay. Hiện tại các tác

giả có thể phân loại theo độ dày và vị trí nơi rách, theo kích thước và theo

hình dạng rách.

Phân loại theo độ dày và vị trí chỗ rách

- Rách bán phần bề dày ở mặt khớp, rách bán phần bề dày ở mặt hoạt

dịch dưới mỏm cùng vai (được gọi tắt là mặt hoạt dịch), rách trong gân và

rách hồn tồn.

Theo kích thước của De Orio: đối với loại rách hoàn toàn theo đường

kính lớn nhất [41]:



26



- Rách nhỏ <1cm, rách vừa: 1-3cm, rách lớn: 3-5cm, rách rất lớn: >5cm.

Rách rất lớn (massive tear) là loại rách có kèm theo co rút nhiều, độ thối hóa

mỡ cao và có thể khơng thể khâu hồi phục được (irrepairable).

Theo hình dạng

- Hình liềm hay hình chữ C, hình chữ U, hình chữ L và rách rất lớn



Hình 1.26. Phân loại rách chóp xoay theo hình dạng rách: từ trái sang

phải là các kiểu rách hình chữ C, hình chữ U, hình chữ L, và kiểu rách rất

lớn.

“Nguồn: Burkhart S.S, et al (2006), Lippincott Williams & Wilkins Philadelphia” [24]



Phân loại rách một phần theo Ellman [44]: Độ 1: <3mm, độ 2: 3-6mm và

độ 3: >6mm



Hình 1.27. Hình nội soi rách bán phần mặt khớp gân chóp xoay và kỹ

thuật đo bề dày từ trong ra ngồi của kích thước lỗ rách, mỗi vạch đánh

dấu chiều dài 5mm. FP: diện bám gân chóp xoay.

“Nguồn: Burkhart S.S, et al (2006), Lippincott Williams & Wilkins Philadelphia” [24]



Như vậy có thể thấy bốn gân cảu chóp xoay bám vào đầu trên xương



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nghiệm pháp cho gân dưới vai

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×