Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Kết quả nghiên cứ có thể ứng dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học của

thầy và trò trong các Trường Đại học, Học viện, Cao đẳng và trung học chuyên

nghiệp đào tạo về ngành kinh tế.



INFORMATION ON RESEARCH RESULTS

1. General information:

- Project title: Effects of Foreign Direct Investment on income inequality between

rural and urban areas in Viet Nam

- Code number: ĐH 2016 – TN08 – 03

- Coordinator: Nguyen Ngoc Hoa, Master.

- Implementing institution: University of Economics and Business Administration

- Duration: 1/2016-12/2017

2. Objective(s)

2.1. General objective

The research analyzes the impact of FDI on income inequality between rural

and urban areas in Viet Nam. Basing on the results the study recommends several

implications to enhance the quality of FDI and reduce income inequality in Viet

Nam

2.2. Specific objectives

- Enriching literature reviews of current empirical studies of the impact of

FDI and income inequality in Viet Nam. Furthermore, the study provides empirical

evidence of effects of FDI on income inequality in both rural and urban arrears in

Vietnam

- Analyzing and assessing the existing reviews of FDI and income inequality

between rural and urban arrears in Vietnam

- Seeking for the factors affecting income inequality between rural and urban

areas in Vietnam, in which, the research focuses on the impact of FDI on income

inequality between rural and urban areas in Vietnam

- Proposing recommendations to enhance the quality of FDI and reduce

income inequality between rural and urban areas in Vietnam

3. The new scientific findings

The project synthesizes and analyzes the existing literature of FDI attraction

into Vietnam, and income inequality between rural and urban areas in Vietnam.

Addition, the project evaluates the impact of FDI on income inequality between



rural and urban areas in Vietnam. Although there are several empirical studies on

the existing attraction of FDI and income inequality between rural and urban areas,

the impact of FDI on income inequality between rural and urban areas in Vietnam is

still limited.

4. Research results

The project has researched the theories and literature reviews of FDI and

income inequality between rural and urban areas. Additionally, the project evaluated

the impact of FDI on income inequality between rural and urban areas in Vietnam.

The results of the project followed:

-



Introducing the foundation of concepts, characteristics, categories of



effects of FDI on socio-economic development

-



Providing the definitions, measurement of income inequality and the



impact of income inequality on socio-economic development

-



Providing the existing literature on FDI inflows and income inequality



between rural and urban areas in Vietnam

Basing on the empirical results, the project also proposes several

recommendations to attract FDI inflows and to focus mainly on the structure and

quality of FDI such as attracting more FDI inflows with lower Carbon emissions,

advanced technologies, and higher quality of human resource. In addition, the

project proposes recommendations to reduce income inequality between rural and

urban areas and foster institutional reinform and to foster agricultural goods or to

diversify income sources in rural areas.

5. Products

1. Nguyễn Ngọc Hoa, Nguyễn Thị Phương Hảo (2017), “ Income inequality

between rural and urban arears in Vietnam”, Asia –Pacific Economic Review,

12/2017(507), tr. 40 -42.

2. Nguyễn Ngọc Hoa, Nguyễn Thị Thúy Vân (2017), “ Assessing the existing

attraction of FDI inflows in Vietnam”, Review of Finance, (670), tr. 76 -78.



6. Transfer alternatives of research results adaptability

The research results are a useful reference for the People's Councils and

People's Committees of the provinces in Vietnam to attract FDI and reduce income

inequality between rural and urban areas.

The research results might be applied in teaching and researching for lecturers

and students in Universities, Academies, Colleges, and

schools in the fields of economics



vocational secondary



1

LỜI MỞ ĐẦU



1. Tính cấp thiết của đề tài

Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam bắt đầu từ những năm

1980 thông qua các liên doanh khai thác, thăm dò dầu khí, trồng cao su… Ngày 29

tháng 12 năm 1987, Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tiên được Quốc hội Việt

Nam thông qua, hoạt động của khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi chính

thức được triển khai và mở rộng. Tuy nhiên, đến tháng 11 năm 2006, sau khi Việt

Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), hoạt động đầu tư trực tiếp

nước ngồi tăng lên nhanh chóng, góp phần quan trọng quyết định tốc độ tăng

trưởng của một số ngành công nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và giải quyết có

hiệu quả nhiều vấn đề xã hội và hội nhập kinh tế tồn cầu.

Các nỗ lực của Chính phủ đã đem lại những kết quả đáng khích lệ về thu hút

vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam. Tính đến ngày 20/12/2017,

Việt Nam có 24.748 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 318,72 tỷ USD,

trong đó đầu tư vào lĩnh vực cơng nghiệp – chế biến – chế tạo là 186,1 tỷ USD

(chiếm 58,4% tổng vốn đầu tư), sau đó đến lĩnh vực kinh doanh bất động sản với

53,1 tỷ USD (chiếm 16,7% tổng vốn đầu tư). Riêng năm 2017, trên cả nước có thêm

2.591 dự án được cấp giấy phép, với tổng số vốn đăng ký là 21,27 tỷ USD, tăng

43,2% so với cùng kỳ năm 2016. Số doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước

ngoài năm 2005 là 3.697 doanh nghiệp, đến năm 2015 là 11.940 doanh nghiệp,

(chiếm khoảng 2,7% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động) . Với lượng vốn lớn đi

kèm với công nghệ tiên tiến khu vực có vốn đầu tư nước ngồi được cơng nhận

là một bộ phận quan trọng cấu thành của nền kinh tế.

Khơng thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn vốn đầu tư trực

tiếp nước ngoài đối với nền kinh tế. Đây là nguồn vốn có vai trò trực tiếp tác động

đến phát triển kinh tế Việt Nam cả về số lượng và chất lượng. Theo Niên giám

thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2015 khu vực FDI đóng góp

18,59% giá trị tổng sản phẩm trong nước; chiếm 19,16% giá trị tài sản cố định của

toàn khu vực doanh nghiệp; đã giải quyết việc làm cho 1,22 triệu lao động (2005),

3,7727 triệu lao động (2015). Một trong những đóng góp quan trọng nữa của khu



2

vực FDI là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao công nghệ qua các doanh nghiệp

có vốn FDI ln đi kèm với đào tạo nhân lực quản lý, vận hành, nhờ đó đã góp phần

hình thành một đội ngũ các cán bộ, cơng nhân có trình độ kỹ thuật và tay nghề cao.

Đối với một số khâu chủ yếu của dây chuyền công nghệ đặc thù, lao động Việt Nam

sau khi được tuyển dụng đều được đưa đi bồi dưỡng kỹ thuật và tay nghề tại các

cơng ty mẹ ở nước ngồi. Đến nay, hầu hết các công nghệ tiên tiến và đội ngũ công

nhân kỹ thuật cao đều tập trung chủ yếu trong khu vực có vốn FDI. Ngồi ra, FDI

cũng góp phần mở rộng hợp tác đầu tư với các nước và thúc đẩy quá trình hội nhập

kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương

mại thế giới (WTO).

Bên cạnh những đóng góp tích cực, FDI cũng đã và đang tạo ra những tác

động tiêu cực, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước. Phần lớn

các doanh nghiệp có vốn FDI tập trung vào khai thác lợi thế giá nhân cơng rẻ,

nguồn tài ngun có sẵn, thị trường tiêu thụ dễ tính để lắp ráp, gia công sản phẩm

tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Các doanh nghiệp có vốn FDI hiện có đóng góp quan

trọng vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tuy nhiên cơ cấu xuất khẩu của Việt

Nam không thay đổi, trong đó các mặt hàng nơng, thuỷ sản, thực phẩm và các mặt

hàng có giá trị gia tăng thấp như dệt may, tạp phẩm chiếm đến 49,4%. Hơn nữa, sự

liên kết giữa các doanh nghiệp có vốn FDI và các doanh nghiệp nội địa còn hạn chế.

Do vậy, chưa hình thành được chuỗi liên kết sản xuất, cung ứng hàng hoá và các

ngành công nghiệp phụ trợ. Tỷ trọng giá trị nhập khẩu các mặt hàng phục vụ hoạt

động gia công lắp ráp chiếm tỷ trọng khá cao trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa:

Kim ngạch nhập khẩu điện thoại các loại và linh kiện (trừ điện thoại di động) chiếm

33,3% kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại và linh kiện; kim ngạch nhập khẩu

vải chiếm 48,3% giá trị xuất khẩu hàng dệt may…Các doanh nghiệp có vốn FDI

cũng đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận thời

gian qua. Chất thải của công ty VEDAN là một ví dụ tiêu biểu. Bên cạnh đó, các

doanh nghiệp có vốn FDI chủ yếu tập trung vào đầu tư tại các khu vực đô thị lớn

mà chưa được phân bổ đều giữa các địa phương trong cả nước, điều này cũng là

một trong những nguyên nhân làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa vùng đô thị và



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×