Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đánh giá hiệu quả thể thủy tinh nhân tạo ba tiêu cự 3D POD F(Fine Vision) trong phẫu thuật Phaco điều trị bệnh đục thể thuỷ tinh.

Đánh giá hiệu quả thể thủy tinh nhân tạo ba tiêu cự 3D POD F(Fine Vision) trong phẫu thuật Phaco điều trị bệnh đục thể thuỷ tinh.

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN



1.1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU THỂ THỦY TINH VÀ BỆNH ĐỤC THỂ

THỦY TINH

1.1.1. Giải phẫu thể thủy tinh

1.1.1.1. Hình thể và kích thước

Thể thủy tinh là một thấu kính trong suốt 2 mặt lồi được treo vào vùng

thể mi nhờ các dây chằng zinn. Thể thủy tinh dày khoảng 4mmm, đường kính

8 - 10mm, bán kính đọ cong của mặt trước là 10mm, mặt sau 6mm. Công suất

quang học 20 - 22D [8].

Thể thủy tinh nhân tạo có 2 mặt trước sau, nơi hai mặt gặp nhau gọi là

xích đạo. Mặt trước tiếp xúc với mặt sau của mống mắt, mặt sau tiếp xúc với

màng dịch kính, xích đạo thể thủy tinh cách thể mi khoảng 0,5mm.

1.1.1.2. Cấu trúc tổ chức học

Bao của TTT là một màng đáy trong suốt, đàn hồi, được cấu tạo bởi

collagen do những tế bào biểu mô sinh ra. Bao thể thủy tinh dày nhất ở vùng

trước xích đạo của bao trước và mỏng nhất ở vùng trung tâm của bao sau.

Biểu mô bao TTT: Nằm sát bao trước TTT là một lớp đơn tế bào biểu mơ.

Các tế bào này chuyển hóa rất tích cực, chúng sinh sản theo kiểu gián phân.

Nhân và vỏ TTT: Mỗi sợi TTT là một tế bào biểu mơ kéo dài. Các sợi

này uốn cong hình chữ U đáy quay về xích đạo, đầu quay về phía trung tâm.

Các sợi tiếp nối với sợi phía bên đối diện ở vùng trung tâm tạo lên khớp chữ

Y ở mặt trước và chữ Y ngược ở mặt sau TTT.



9



Dây chằng zinn: Là một hệ thống những sợi dạng gel gần giống như dịch

kính. Dây chằng zinn giữ TTT tại chỗ và truyền các hoạt động của cơ thể mi

đến bao TTT [9].

1.1.2. Bệnh đục thể thủy tinh

1.1.2.1. Khái niệm

Đục thể thủy tinh là hiện tượng mất tính trong suốt thường có của TTT

tự nhiên. Hiện tượng này có thể là hậuquả của sự phá vỡ cấu trúc protein

thông thường, sự lắng đọng bất thường của các protein trong lòng TTT hoặc

sau kết hợp của 2 yếu tố gây ra.



Hình 1.1. Hình ảnh đục TTT

(Nguồn: www.eyeround.org)

1.1.2.2. Các hình thái đục thể thủy tinh tuổi già[1]

Ba hình thái chính của đục TTT tuổi già:

- Đục nhân TTT

- Đục vỏ TTT

- Đục TTT dưới bao sau

1.2. THỂ THỦY TINH NHÂN TẠO ĐA TIÊU CỰ

1.2.1. Khái niệm thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu cự

Thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu cự là một loại kính quang học đặt nội

nhãn, dùng để thay thế cho thể thủy tinh đục đã được lấy đi. Khác với thể

thủy tinh nhân tạo chỉ nhìn được ở khoảng cách nhất định, thể thủy tinh nhân

tạo đa tiêu cự giúp người bệnh có thể nhìn rõ nét ở cả ba khoảng cách xa, gần,

trung gian đồng thời hạn chế được hiện tượng quầng sáng, chói lóa.



10



1.2.2. Phân loại thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu cự

1.2.2.1. Thể thủy tinh nhân tạo khúc xạ

Thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu khúc xạ cấu tạo gồm các vùng đồng tâm có

cơng suất khúc xạ khác nhau (thường tập trung cho tiêu cự gần và xa).

1.2.2.2. Thể thủy tinh nhân tạonhiễu xạ

Thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu nhiễu xạ sử dụng sự nhiễu xạ ánh sáng

dựa vào các vi cấu trúc nhiễu xạ trên bề mặt thể thủy tinh.

Những kính đa tiêu cự như MIOL-Record trifocal IOL, Tecnic Multifocal

ZM 900, ATLisa 809 cho thị lực nhìn gần rất tốt, thị lực xa và trung gian khá

tốt nhưng tỷ lệ bệnh nhân than phiền về hiện tượng quầng sáng, chói lóa và

khó khăn khi nhìn ban đêm tương đối cao như Tecnic Multifacal ZM 900 là

(9/23 bệnh nhân chiếm khoảng 39%), đối MIOL-Record trifocal IOL tỷ lệ

bệnh nhân than phiền về hiện tượng quầng sáng 22%, chói lóa là 16.7%, khó

khăn khi nhìn vào ban đêm là 22.3% [10],[11].

Để giảm hiện tượng quầng sáng, chói lóa về đêm và tăng thị lực trung

gian, các nhà khoa học đã phát minh ra thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu cự 3D

POD F (Fine vision)

1.2.3. Thể thủy tinh nhân tạo đa tiêu cự 3D POD F( Fine Vision)



Hình 1.2. Kính đa tiêu cự 3D POD F(fine vision)

(http://www.physiol.eu/en/multifocal-iol/finevision-(pod-f/)

1.2.3.1. Cấu tạo



11



Thể thủy tinh nhân tạo 3D POD F (fine vision) là thể thủy tinh nhân tạo

đa tiêu cự, với thiết kế dựa trên sự kết hợp hai cấu trúc nhiễu xạ được điều

chỉnh để cung cấp thêm +3.50 D cho tầm nhìn gần và thêm +1.75 D cho tầm

nhìn trung gian.

Bằng sự thay đổi chiều cao của các bậc thang, lượng ánh sáng vào được

phân bố ở những tiêu điểm gần, xa, trung gian được điều chỉnh theo kích

thước đồng tử. Phần optic của thể thủy tinh được thiết kế để phân bổ 43%

năng lượng ánh sáng để nhìn xa, 28% tầm nhìn gần, và 15% cho tầm nhìn

trung gian,14% năng lượng ánh sáng bị mất.

Ưu điểm của Fine Vision:

-



Khả năng quan sát ở mọi khoảng cách



-



Tăng cường độ tương phản



-



Hiệu chỉnh tối đa hiện tượng tán xạ ánh sáng và chói lóa



-



Bệnh nhân khơng lệ thuộc kính đeo sau phẫu thuật



-



Tỷ lệ thành cơng trên 98%



-



Giảm hiện tượng quầng sáng chói lóa sau phẫu thuật



Bảng 1.1. So sánh một số loại thể thủy tinh đa tiêu cự dựng phổ biến hiện nay

Loại thể

thủy tinh

Hãng sản xuất

Chất liệu

Đường

optic

Thiết kế



RESTOR



Alcon

Hydrophobic

Acrylic

kính 6mm

Phi cầu



Tiêu điểm nhìn

+4D, +3D

gần



TECNISZM001

Amo

Silicon

6mm



FINE VISION

chất liệu Acrylic kỵ

nước

6mm



Phân bổ ánh sáng

41% xa, 41%

nhìn gần. Hình

cầu



Phân bổ ánh sáng

43% xa, 28% gần,

15% trung gian.

Phi cầu, không lệ

thuộc kích thước đồng

tử, SMP



+4D



+3.75D



12



Cơng suất

18D đến 28D

5D đến +34D

6D đến +35D

Đường mổ

2.2mm đến 2.8mm 2.8mm

2mm đến 2.8mm

Ruiz-Mesa R và cộng sự (2017) đã tiến hành một nghiên cứu 40 mắt đặt

3D POD F Fine Vision (nhóm 1) và 40 mắt đặt TECNISZM (nhóm 2) cho

thấy khơng có sự khác biệt đáng kể về TL nhìn xa khơng kính và có chỉnh

kính giữa hai nhóm ở thời điểm 3 tháng sau phẫu thuật(p ≥ 0,5), tuy nhiên TL

nhìn gần và nhìn trung gian khơng kính, có chỉnh kính ở nhóm đặtPOD F Fine

Visioncho kết quả tốt hơn (p<0,01) [12].

1.2.3.2. Đặc tính sinh học

IOL Fine vision được làm bằng chất liệu Acrylic kỵ nước với độ ngậm

nước 0,3%, chiết suất 1,55 làm giảm hiện tượng đục bao sau so với các chất

liệu của kính nội nhãn khác. Đã có một số cơng trình nghiên cứu chứng minh

1.2.3.3. Ngun lý hoạt động

Trong điều kiện ánh sáng tốt, đồng tử hẹp, ánh sáng đi qua khu vực có

gờ sẽ bị nhiễu xạ, phân bố năng lượng cho cả gần và xa. Trong điều kiện ánh

sáng kém, đồng tử giãn rộng, ánh sáng đi qua vùng khơng có gờ và sẽ hồn

tồn hội tụ tại tiêu điểm xa. 3D POD F(fine vision) có vùng khúc xạ rộng , do

đó năng lượng dành cho tiêu điểm xa cũng sẽ nhiều. Khi đồng tử khoảng dưới

3,0 mm thì năng lượng cung cấp cho nhìn gần là cao nhất, sau khi đồng tử

giãn rộng từ 3 mm trở lên thì năng lượng cho nhìn gần giảm, năng lượng cho

nhìn xa tăng phù hợp với sinh lý con người trong tối ưu tiên nhìn xa hơn nhìn

gần. Sự kết hợp giữa hai cấu trúc nhiễu xạ làm giảm hiện tượng tán xạ nguyên nhân gây phân tán năng lượng ánh sáng đối với kính đa tiêu.



13



TĐ: Gần



Trung gian



Xa



Hình 1.3. Cơ chế hình thành các tiêu điểm xa, gần, trung gian

(Nguồn: http://www.alconsurgical.co.za/acrysof-iq-restor-2-5-d-iol.aspx)

Giả sử ở hình trên bệnh nhân đang nhìn xa, phần lớn lượng ánh sáng vào

mắt qua kính đa tiêu sẽ hội tụ trên võng mạc tạo nên tiêu điểm xa, một phần

lượng ánh sáng đi qua kính đa tiêu bị trễ pha hội tụ trước võng mạc tạo nên

tiêu điểm gần. Và tiêu điểm trung gian được hình thành do sự giao thoa ánh

sáng trong khoảng được giới hạn bởi tiêu điểm xa và gần. Do đó lợi ích của

việc giảm độ cộng xuống sẽ làm cho tiêu điểm gần gần hơn tiêu điểm xa làm

cho lượng ánh sáng giao thoa giữa tiêu điểm xa và gần nhiều hơn nên tiêu

điểm trung gian rõ nét hơn.

1.3. HIỆU QUẢ CỦA TTTNT ĐA TIÊU CỰFINE VISION CÓ THỂ ĐO

LƯỜNG QUA CÁC CHỈ SỐ SAU



14



1.3.1. Thị lực

Thị lực là khái niệm thường dùng để chỉ giá trị chức năng của vùng võng

mạc được khám. Thị lực là số đo mức độ nhìn rõ của một người khi mắt nhìn

thẳng vào một vật [13].

1.3.1.1. Thị lực xa

Khái niệm:







Thị lực xa là thị lực dùng cho các công việc như xem ti vi, đi lại, lái xe,

chơi thể thao,…và được đo ở khoảng cách 3m, 4m, 5m, 6m tùy theo thiết kế

của từng loại bảng thị lực.





Bảng thử



Hình 1.4. Các loại bảng thị lực xa

(Nguồn:http://0.tqn.com/d/pediatrics/1/0/p/S/Snellen_Chart.jpg)





Bảng Snellen: mỗi dòng thị lực đều được ghi số, phân số Snellen: tử số

là khoảng cách từ bảng thử đến bệnh nhân, mẫu số là khoảng cách mà

một người thị lực bình thường có thể đọc được dòng đó.







Bảng thị lực thập phân, bảng logMAR.







Bảng thị lực chữ C, chữ E, bảng hình để phù hợp thử thị lực cho các đối

tượng khác nhau như người không biết chữ.









Cách đo



Giải thích cho bệnh nhân việc sắp làm.



15







Đo thị lực lần lượt từng mắt.







Tư thế của bệnh nhân: che đúng mắt, mắt mở, chớp bình thường, khơng ấn

mạnh lòng bàn tay lên, chỉ giữ nhẹ nhàng tay lên mắt, khơng che mắt bằng

các ngón tay, khơng ngả người về phía trước.







Đo thị lực khơng có kính và thị lực có kính.







Khuyến khích bệnh nhân cố gắng nhìn, đơi khi bệnh nhân cảm thấy xấu hổ

khi đọc sai. Một số người dễ từ bỏ, nếu không động viên họ cố gắng bạn có

thể cho rằng thị lực của họ thấp hơn thực tế [14].







Biểu hiện sinh lý bình thường

Người có thị lực xa bình thường: ≥ 6/18 (20/60 ở bảng Snellen) hay 0,48

ở bảng log MAR (WHO) [14].







Những yếu tố ảnh hưởng đến thị lực xa





Tật khúc xạ: viễn thị trung bình và nặng, cận thị, loạn thị.







Các bệnh lý ở mắt: đục các môi trường trong suốt (sẹo giác mạc, đục

thể thủy tinh, đục dịch kính), bệnh lý viêm màng bồ đào, bong võng

mạc, bệnh lý hoàng điểm, gai thị…



1.3.1.2. Thị lực trung gian





Khái niệm:

Thị lực trung gian là thị lực xấp xỉ chiều dài cánh tay, thường được đo ở



khoảng cách như 50 cm, 63 cm, 70 cm, 80 cm, 100 cm và thị lực được sử

dụng trong các nhiệm vụ như làm máy vi tính, xem đồng hồ tốc độ trong xe ơ

tơ, cắt tóc, cạo râu, đọc bản nhạc khi chơi đàn piano, violon…





Bảng thử: Bảng thị lực Snellen ở khoảng cách 63 cm, 100 cm (hình 1.3).







Cách đo: Giống cách đo thị lực xa.







Những yếu tố ảnh hưởng thị lực trung gian:





Tật khúc xạ: viễn thị nặng, cận thị trung bình và nặng, loạn thị.



16







Các bệnh lý ở mắt: đục các môi trường trong suốt (sẹo giác mạc, đục

thể thủy tinh, đục dịch kính), bệnh lý viêm màng bồ đào, bong võng

mạc, bệnh lý hồng điểm, gai thị…



1.3.1.3. Thị lực gần





Khái niệm:

Thị lực gần là thị lực cho các cơng việc nhìn gần như đọc sách báo, khâu



vá, sửa chữa đồ điện tử…và thường được đo ở khoảng cách từ 30 cm đến 40 cm.





Bảng thử





Các bảng thử thị lực gần cũng như các bảng thị lực xa, chỉ khác là các

chữ thử có kích thước nhỏ hơn hoặc có các đoạn câu chữ kích thước

khác nhau, khơng phải các dòng chữ đơn.







Bảng có thể dùng phân số Snellen hoặc dùng thang điểm “N”, “G” hoặc

thang điểm Jaeger hoặc logMAR được thiết kế ở các khoảng cách

khoảng 30 cm hay 40 cm.







Cách đo







Dựa trên kết quả đo thị lực xa.







Đo thị lực gần hai mắt mở hoặc mắt phải rồi đến mắt trái.



Hình 1.5. Bảng thị lực gần Logarit ở khoảng cách 30 cm

“Nguồn: www.spectaclesdirect.net”





Bình thường:

Tùy thuộc nhu cầu nhìn gần của mỗi người, thông thường để đọc sách



báo chữ cỡ lớn chỉ cần đến N8 hoặc G7. Nếu đọc sách báo cỡ chữ nhỏ hơn



17



cần đến N5 hoặc G6 – G5. Nếu thị lực trên N5 hoặc từ G4-G1 là chữ quá nhỏ

phù hợp với những người làm nghề như dược sỹ, sửa chữa đồ điện tử tinh vi.





Những yếu tố ảnh hưởng đến thị lực gần







Sinh lý: lão thị







Tật khúc xạ: viễn thị trung bình, nặng, cận thị nặng, loạn thị vừa và nặng.







Bệnh lý khác: thiểu năng điều tiết, đục TTT dưới bao sau, các bệnh lý hoàng

điểm: phù hoàng điểm dạng nang, thối hóa hồng điểm tuổi già.

1.3.2. Độ nhạy cảm tương phản và hàm độ nhạy cảm tương phản





Khái niệm





Sự thay đổi độ sáng của một vật có thể biểu thị bằng một lượng được

gọi là tương phản.







Một vật tiêu gồm các chữ được in bằng mực đen tuyệt đối (tức là hồn

tồn khơng có phản xạ) trên giấy trắng (tức là phản xạ 100%) sẽ có

tương phản 100%.



Các yếu tố ảnh hưởng đến độ nhạy cảm tương phản











-



Kích thước đồng tử, tật khúc xạ: loạn thị, viễn thị, cận thị.



-



Bệnh đục thể thủy tinh, đục bao sau TTT sau phẫu thuật Phaco.



-



Bệnh lý gai thị gây biến đổi, phù giác mạc.



-



Bệnh lý võng mạc, thị thần kinh, glôcôm…

Đánh giá độ nhạy cảm tương phản

Có nhiều cách để đo độ nhạy cảm tương phản: có thể bằng những cách

thử sóng hình sin hoặc bằng các chữ thử tương phản khác nhau như bảng Pelli

– Robson, bảng Regan. Độ nhạy cảm tương phản được đo ở điều kiện ánh

sáng trong phòng bình thường.

Trong nghiên cứu này chúng tơi dùng bảng thị lực phối hợp tương phản

Colenbrander (Colenbrander mixed contrast chart) với độ nhạy cảm tương

phản thấp 10% ở khoảng cách 63 cm.



18



-



Bảng thị lực phối hợp tương phản Colenbrander [15], [16], [17]:

+ Được thiết kế bởi: Bác sĩ August Colenbrander.

+ Bảng thiết kế bên trái là các chữ có độ nhạy cảm tương phản cao, bên

phải là các chữ có độ tương phản thấp (10%).



Bảng thị lực phối hợp tương phản

Colenbrander (khoảng cách 63 cm)



Bảng thị lực phối hợp tương phản

Colenbrander (khoảng cách 100 cm)



Hình 1.6. Bảng thị lực phối hợp tương phản Colenbrander

(Nguồn www.ski.org)

+ Lề trái là kích thước chữ tính theo đơn vị M. Lề phải là thị lực theo

Snellen và hệ số thập phân. Có ba loại bảng được thiết kế cho các khoảng

cách 40 cm (16”), 63 cm (25”) và 100 cm (40”). Mỗi sợi dây trên mỗi bảng

đảm bảo sao cho khoảng cách lúc đo được chính xác.

+ Bảng tương phản này thuận tiện hơn bảng Pelli - Robson vì có thể thử

thị lực ở độ nhạy cảm tương phản cao, thấp trong cùng một bảng, điều này

giúp bệnh nhân không phải tái định vị và rút ngắn thời gian thử nghiệm.

+ Cách sử dụng: Khi có sự chênh lệch thị lực giữa độ nhạy cảm tương

phản cao (100%) và thấp (10%) hai đến ba dòng là bình thường, nếu chênh

lệch trên ba dòng là có giảm độ nhạy cảm tương phản.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đánh giá hiệu quả thể thủy tinh nhân tạo ba tiêu cự 3D POD F(Fine Vision) trong phẫu thuật Phaco điều trị bệnh đục thể thuỷ tinh.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×