Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Cầu thận là một phần quan trọng tạo nên chức năng thận. Chúng có hình cầu, đường kính khoảng 200-300 mcm, được cấu tạo bởi 3 thành phần: chùm mao mạch, bao Bowman và các tế bào mesangial [9],[11].

Cầu thận là một phần quan trọng tạo nên chức năng thận. Chúng có hình cầu, đường kính khoảng 200-300 mcm, được cấu tạo bởi 3 thành phần: chùm mao mạch, bao Bowman và các tế bào mesangial [9],[11].

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



tiểu động mạch đi ra khỏi cầu thận. Đối diện với cực mạch là cực niệu, ở đó

khoang Bowman thơng với ống gần. Lá ngồi khoang Bowman được lót bởi

biểu mô lát đơn. Ở cực niệu, biểu mô này nối tiếp với biểu mô của ống lượn

gần. Lá trong được cấu tạo bởi những tế bào hình sao gọi là tế bào có chân

(podocytes). Từ thân tế bào tỏa ra những nhánh bào tương bậc 1 và 2 đến tiếp

xúc với màng đáy bởi những chân phình. Những nhánh của các tế bào có chân

cách nhau bởi những khe lọc rộng 25-35 nm [11].

Các tế bào mesangial nằm xung quanh các mao mạch cầu thận và

được cho là điều hòa diện tích màng lọc cầu thận. Chúng có khả năng co giãn.

Khi chúng co lại làm giảm diện tích lọc và ngược lại khi chúng giãn ra làm

tăng diện tích lọc. Chính đáp ứng này cung cấp một điều hòa ngược âm tính

để giảm diện tích lọc khi áp lực lọc tăng lên. Hơn nữa, các tế bào mesangial

đáp ứng với một số trung gian hóa học bao gồm angiotensin II và endothelin

làm co tế bào này hay khí NO và ANP làm giãn tế bào này. Ngoài ra các tế

bào mesangial còn có tác dụng chống đỡ và có khả năng ẩm bào, thực bào [9].

1.2.2. Chức năng sinh lý cầu thận

Cầu thận có chức năng chính là lọc các chất trong huyết tương để tạo ra

nước tiểu đầu tiên chứa trong khoang bao Bowman. Bình thường mỗi phút có

120-130 cm3 chất siêu lọc của huyết tương lọt qua bộ phận lọc của cầu thận.

Chất siêu lọc gồm có nước chứa các chất như glucose, ure, acid uric… chất

điện giải, acid amin và protein có trọng lượng phân tử nhỏ [11].

Từ phía mạch máu sang khoang Bowman, bộ phận lọc của cầu thần

gồm: tế bào nội mơ có lỗ thủng đường kính 160 Angterong của mao mạch;

màng đáy lót ngồi nội mơ (màng nền cầu thận) là một mạng lưới sợi

collagen và proteoglycan có các lỗ nhỏ đường kính 110 Angterong, tích điện

âm; ngồi cùng là những khe giữa chân của các tế bào có chân có đường kính

70-75 Angterong. Khe giữa chân của tế bào có chân chứa nhiều polyanions



8



như heparan sulfate. Những đại phân tử có điện tích âm này kết hợp với màng

nền cầu thận đẩy lùi các anion làm chúng khó thốt khỏi huyết tương kể cả

khi trọng lượng phân tử rất thấp như albumin [10].



Hình 1.3. Màng lọc cầu thận dưới kính hiển vi điện tử

(a) và tế bào có chân (b) [9]

LD, LRI, LRE: Màng nền cầu thận

PC: Chân của tế bào có chân



SD: Khoảng giữa chân của tế bào có chân

EndC: Tế bào nội mô mạch máu



EpC (the epithelial cell cytoplasm): Tế bào chất của tế bào biểu mô



Màng lọc cầu thận là một phức hợp ma trận ngồi tế bào hình thành bởi tế bào

nội mơ và tế bào có chân. Chúng chứa collagen typ IV, laminin, fbronectin,

entactin và phức hợp proteoglycan với polyanionic glycosaminoglycans như

heparan sulfate. Ngoài ra màng lọc câu thận còn sự tham gia của tế bào

mesangial giữa các tế bào nội mơ mạch máu có tác dụng như đã nói ở phần trên.

Độ dày của màng lọc này thay đổi theo tuổi, trung bình 373 nm ở nam

và 326 nm ở nữ. Ở trẻ em, màng lọc mỏng khi sinh nhưng nhanh chóng tăng

độ dày vào năm thứ 2 của cuộc đời và đạt độ dày như người lớn vào khoảng

6-7 tuổi [9].

Chính những đặc điểm trên làm cầu thận có tính thấm chọn lọc rất cao.

Những chất có đường kính dưới 70 Angterong (trọng lượng phân tử khoảng

15 000 Dalton) đi qua được màng; những chất có đường kính và trọng lượng



9



phân tử lớn hơn 80 000 Dalton như globunin không đi qua được màng.

Những phân tử có kích thước trung gian hay bé nhưng mang điện tích âm như

albumin khó đi qua màng hơn các phân tử khơng mang điện tích. Các chất

gắn với protein không qua được màng.

Để đánh giá chức năng lọc của cầu thận, chúng ta dựa vào mức lọc cầu

thận (GFR), đó là lưu lượng máu lọc qua thận trong một đơn vị thời gian.

GFR thay đổi tùy theo lứa tuổi [12].

Bảng 1.1. Mức lọc cầu thận thay đổi theo tuổi [13]

GFR (Mean ± SD)



Tuổi

Trẻ sơ sinh trong tuần đầu (29-34 tuần thai)

Trẻ từ tuần 2-8 sau sinh (29-34 tuần thai)

Trẻ sau 8 tuần (29-34 tuần thai)

Trẻ sơ sinh đủ tháng trong tuần đầu

Trẻ sinh đủ tháng sau 2-8 tuần

Trẻ sinh đủ tháng sau 8 tháng

Trẻ em từ 2-12 tuồi

Trẻ nam 13-21 tuổi

Trẻ nữ 13-21 tuổi



(ml/phút/1.73m2)

15.3 ± 5.6

28.7 ± 13.8

51.4

41 ± 15

66 ± 25

96 ± 22

133 ± 27

140 ± 30

126 ± 22



Trên lâm sàng để tính nhanh mức lọc cầu thận chúng ta thường áp dụng

công thức Schwartz:

GFR (ml/phút/1.73m2) =

- K là hằng số.

- [Creatinin] là nồng độ Creatinin huyết tương (mcmol/l)



Bảng 1.2. Hằng số K thay đổi theo đổi theo tuổi trong

công thức Schwartz [14]

Lứa tuổi



Creatinin (mg/dl)



Creatinin (mcmol/l)



Sơ sinh nhẹ cân ≤ 1 tuổi



0.33



29.2



10



Sơ sinh đủ tháng ≤ 1 tuồi



0.45



39.8



Trẻ em 2-12 tuồi



0.55



48.6



Nữ 13-21 tuồi



0.55



48.6



Nam 13-21 tuồi



0.70



61.9



1.3. Tổng quan về viêm cầu thận hình liềm

1.3.1. Bệnh học viêm cầu thận hình liềm

Những thành phần chính tham gia vào cơ chế hình thành liềm là các

protein đơng máu, đại thực bào, tế bào T, nguyên bào sợi và các tế bào biểu

mô ngoại và nội tạng (parietal and visceral epithelial cells) [7],[15]. Sự thay

đổi miễn dịch như đáp ứng miễn dịch tế bào Th1 cũng góp phần hình thành

bệnh [7],[8].

Khởi đầu là sự xuất hiện khoảng cách vật lý giữa mạch máu cầu thận và

màng đáy cầu thận, đó là những đại thực bào và các tế bào lympho T. Sự tổn

thương các mạch máu dẫn đến sự di chuyển các protein huyết tương và các

chất trung gian gây viêm vào khoang Bowman, hình thành fibrin, gia tăng các

đại thực bào và các tế bào T, giải phóng các cytokine tiền viêm như

interleukin–1 (IL – 1) và yếu tố hoại tử u (TNF). Sự tổn thương bao Bowman

cho phép các tế bào và chất trung gian hóa học từ khoảng kẽ vào khoang

Bowman và ngược lại dẫn đến viêm xung quanh cầu thận.

Ngoài các đại thực bào, thành phần tế bào khác trong tổn thương liềm

là các tế bào biểu mô tăng sinh nội và ngoài tạng [16]. Sự phát triển của tổn

thương liềm là kết quả của các yếu tố đông máu, các tế bào tăng sinh, chủ

yếu là các đại thực bào, các tế bào biểu mô cầu thận và các nguyên bào sợi

kẽ. Sự hiện diện của các yếu tố đơng máu trong khoang Bowman dẫn đến sự

hình thành cục fibrin và lôi kéo các đại thực bào. Các bạch cầu đa nhân

trung tính và bạch cầu hạt hoạt động giải phóng các yếu tố tiền đơng tế bào,

IL – 1, TNF, serin proteinases (như elastase, PR3) và phức hợp



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Cầu thận là một phần quan trọng tạo nên chức năng thận. Chúng có hình cầu, đường kính khoảng 200-300 mcm, được cấu tạo bởi 3 thành phần: chùm mao mạch, bao Bowman và các tế bào mesangial [9],[11].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×