Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Nghiệm pháp kéo mi ra trước: nắm nhẹ lên da mi và kéo bờ mi ra xa nhãn cầu. Khi khoảng cách bờ mi - giác mạc là 6mm là bình thường, quá 10 mm là trương lực mi bất thường [12].

- Nghiệm pháp kéo mi ra trước: nắm nhẹ lên da mi và kéo bờ mi ra xa nhãn cầu. Khi khoảng cách bờ mi - giác mạc là 6mm là bình thường, quá 10 mm là trương lực mi bất thường [12].

Tải bản đầy đủ - 0trang

16



Hình 1.6. Nghiệm pháp kéo mi xuống dưới [12]

Trả nhanh

Kéo mi

Mi trở lại vị trí

xuống dưới ngay sau bng tay



Trả chậm

Mi trở lại vị trí từ

từ sau bng tay



Khơng trả

Mi mắt khơng trở lại

vị trí sau bng tay



Cũng theo tác giả Micheal LM [12] đánh giá trương lực dây chằng góc

trong mi bằng cách kéo mi ra phía ngồi và quan sát điểm lệ di lệch.



Hình 1.7. Đánh giá trương lực dây chằng góc trong mi [12]

Độ di lệch khi ấn vào

góc trong góc ngồi mi



Bình thường



Lật mi



<1 – 2 mm



> 1 – 2mm



Theo tác giả Brandsma [13] chức năng cơ vòng mi mắt được đánh giá

thành 5 độ như sau:

Độ 1: Liệt cơ vòng mi hồn tồn.

Độ 2: Mắt nhắm khơng hồn tồn, cơ vòng mi khơng co, xuất hiện hở

mi khi nhắm mắt nhẹ.

Độ 3: Mắt nhắm hoàn tồn nhưng cơ vòng mi khơng co.

Độ 4: Mắt nhắm hồn tồn, cơ vòng mi co ít hơn bình thường.

Độ 5: Mắt nhắm hồn tồn, cơ vòng cung mi bình thường.



17



Nghiên cứu của tác giả Tezis và Bruno [14] thì mức độ chớp mắt được

đánh giá như sau:

Độ 1: Rất kém. Khơng có phản xạ chớp mắt.

Độ 2: Kém. Chớp mắt rất ít. Chỉ thấy co kéo cơ.

Độ 3: Trung bình. Chớp mắt rất ít khi, nhưng biên độ chỉ 1/2.

Độ 4: Tốt.Thỉnh thoảng chớp mắt,nhưng biên độ chỉ 1/2.

Độ 5: Rất tốt. Chớp mắt liên tục thường xuyên.

1.3.1.5. Rối loạn cơ chế bơm nước mắt

Theo tác giả Phan Dẫn, Phạm Trọng Văn [15] chảy nước mắt nhiều sẽ

làm cho bệnh nhân khó chịu, chảy nước mắt do những nguyên nhân sau:

- Lật điểm lệ làm điểm lệ khơng còn tiếp xúc với kết mạc nhãn cầu.

- Bơm nước mắt khơng còn hoạt động do cơ vòng mi và cơ Horner bị

mất trương lực.

- Tăng chế tiết nước mắt phản xạ do giác mạc bị kích thích liên tục.

- Lệ đạo bị tắc do viêm kết mạc và hiện tượng sừng hoá.

- Chảy nước mắt sẽ gây tổn thương da (viêm da) làm cho lật mi càng

nặng và làm cho vòng xoắn bệnh lí thêm phức tạp.

1.3.1.6. Biến đổi kết giác mạc

Việc lật mi ra ngồi khiến cho mắt khơng thể khép kín lại được, dẫn đến

hở kết mạc gây ra hiện tượng sừng hóa, viêm giác mạc chấm nơng hay viêm

loét giác mạc.

- Chức năng tiết nước mắt: đánh giá chức năng bài tiết nước mắt bằng

quan sát đơn thuần, khơng dùng những thử nghiệm, có thể dẫn đến sai lầm,

bệnh nhân liệt mặt có thể chảy nước mắt rất nhiều. Thử nghiệm tiết nước mắt

có giá trị chẩn đoán và tiên lượng giới hạn, trừ phi việc sản xuất nước mắt

giảm trầm trọng hoặc khơng có nước mắt.



18



* Đo độ bền vững của phim nước mắt (thời gian phá hủy phim nước mắt)

(test TBUT)

Sử dụng đèn khe 1mm và ánh sáng xanh quét trên bề mặt giác mạc đã

được nhuộm fluorescein cho đến khi xuất hiện những chấm hoặc vệt đen trên

bề mặt giác mạc xanh bóng thì tính thời gian.

Thời gian phá hủy phim

nước mắt



Bình thường



Khơ mắt



≥ 10 giây



< 10 giây



* Đánh giá phản xạ giác mạc:

Bệnh nhân mở to hai mắt, nhìn vào ngón tay người khám ở bên đối diện.

Dùng que bơng đưa từ ngồi chạm nhẹ vào giác mạc mắt. Hỏi bệnh nhân có

cảm thấy kích thích giác mạc khơng và quan sát phản xạ giác mạc ở hai mắt.

+ Phản xạ giác mạc bình thường: Phản xạ giác mạc ở hai mắt như nhau.

+ Giảm phản xạ giác mạc: Mắt bị liệt thần kinh VII bị giảm phản xạ giác

mạc khi bị kích thích so với mắt bình thường.

+ Mất phản xạ giác mạc: Mắt bị liệt thần kinh VII khơng có phản xạ giác

mạc khi bị kích thích.

- Viêm kết giác mạc: theo tác giả Phan Dẫn, Phạm Trọng Văn [15] thì

khả năng nhắm mắt kém dẫn đến lộ bề mặt nhãn cầu đồng thời mi mắt khơng

duy trì được màng phim nước mắt ổn định dẫn đến khô mắt. Bề mặt nhãn cầu

bị kích thích lại làm tăng chế tiết nước mắt phản xạ. Vòng xoắn bệnh lý này

dẫn đến những tổn thương kết giác mạc. Biểu hiện viêm kết mạc: cương tụ đỏ

rõ nhất ở cùng đồ và nhạt dần khi ra đến vùng rìa, trường hợp nặng có thể

xuất hiện màng giả trên kết mạc. Giác mạc ít khi bị thâm nhiễm, mặc dù trong

những trường hợp nặng có thể thấy chấm nông giác mạc và thẩm lậu vùng rìa.

Trong trường hợp lật mi kèm hở mi lâu dài, có thể gây ra hiện tượng viêm loét



19



giác mạc với những ổ bắt màu khi ta nhuộm fluorescein và khám dưới ánh

sáng xanh.

Cơ chế gây ra lật mi

Rất nhiều các tác giả trên thế giới đồng quan điểm là có rất nhiều các

nguyên nhân gây ra lật mi và sẽ được phân loại theo nhóm nguyên nhân. Theo

tác giả G.Lang [16] và Myron Yanoff [17] thì lật mi được phân loại như sau:

- Lật mi bẩm sinh.

- Lật mi mắc phải: do tuổi già, do liệt, do sẹo, do cơ học.

Để phân biệt hoàn toàn tách biệt các nguyên nhân của lật mi là việc

tương đối khó khăn vì thực tế trong các yếu tố liệt cũng có thể có những yếu

tố gây lật mi ở người già, hay lật mi do sẹo cũng chứa đựng những yếu tố liệt

dây thần kinh mặt, liệt Bell.... do đó khi chuẩn đốn nguyên nhân gây lật mi ta

sẽ đánh giá theo nguyên nhân chính gây ra hiện tượng này.

1.3.2. Lật mi bẩm sinh

Lật mi bẩm sinh rất hiếm gặp, nguyên nhân chủ yếu là do các bệnh di

truyền hệ thống liên quan đến biến đổi gen. Lật mi bẩm sinh hay gặp trong

hội chứng Down, hội chứng Collins... ảnh hưởng đến cả 4 mi mắt. Lật mi bẩm

sinh cũng được gặp trong hội chứng hẹp khe mi, điều này có thể do tự phát.

Lật mi bẩm sinh có thể cấp tính, do hậu quả của co thắt cơ vòng cung mi khi

trẻ em mới sinh.

Hội chứng Treacher Collins (TCS) là một rối loạn bẩm sinh tương đối

hiếm gặp (xuất hiện với tỷ lệ 1/50.000 trẻ còn sống khi mắc bệnh) với những

biến đổi bất thường vùng sọ mặt kèm theo những biến đổi vùng mắt, tai,

mũi... đây là kết quả của đột biến ở gen TCOF1 [18].



20



Hình 1.8. Lật mi với Hội chứng Collins [18].

Hội chứng Down liên kết với một loạt các bất thường về giải phẫu và

sinh hóa bao gồm: chậm phát triển tâm thần bẩm sinh, tim bẩm sinh, khiếm

khuyết thiếu sót của hệ miễn dịch và bất thường tại mắt (đục thể thủy tinh,

giác mạc hình chóp, lác...) [19].

Theo tác giả Moriss [19] khi nghiên cứu trên 45 bệnh nhân mắc hội

chứng Down thì có 10 bệnh nhân có các vấn đề liên quan đến bất thường mi

mắt và trong đó có 5 bệnh nhân bị lật mi.



Hình 1.9. Bệnh nhân lật mi (trên, dưới) trong hội chứng Down [19].



21



1.3.3. Lật mi tuổi già

Lật mi tuổi già do mi mắt và các tổ chức mất dần trương lực. Collagen

mất dần làm cho da mi lỏng lẻo, nhăn và lớp bì da bị teo cơ. Mỡ mắt teo gây

ra lõm mắt vừa phải. Cân hốc mắt yếu gây thoát vị mỡ mi. Các gân dây chằng

mi giãn, làm cho bề ngang khe mi ngắn dần, mi mắt khơng còn áp sát lên

nhãn cầu nữa. Lật mi tuổi già thường ở mi dưới có thể do tác dụng tăng thêm

của trọng lực và sụn mi dưới tương đối kém ổn định. Đặc điểm phổ biến nhất

của hầu hết các trường hợp lật mi tuổi già là mi lỏng lẻo theo chiều ngang do

nhánh dưới của gân góc mắt bị đứt hoặc giãn, đặc biệt gân góc ngồi. Cũng có

thể do các cơ mở mi dưới bị chùng hoặc đứt, mặc dù mi lật vào hơn là lật ra.

Tuổi càng cao thì khả năng mi bị lật ra ngồi càng lớn, theo tác giả

Paul Mitchell [20] với 3564 người già được khám thì 0,3% bị lật mi với độ

tuổi dưới 60, 1,2% lật mi nằm trong độ tuổi 61 – 69, 6,7% lật mi nằm trong

độ tuổi 70 – 79 và với người có độ tuổi lớn hơn 80 là 16,7%.

Theo tác giả Kocaoglu FA [21] nghiên cứu mô bệnh học của những bệnh

nhân bị quặm và lật mi thì:

- Sự tắc nghẽn do các tế bào viêm của tuyến meibomius liên quan đến lật

mi nhất là trong trường hợp thời gian kéo dài.

- Teo cơ vòng cung mi kết hợp với thối hóa sụn mi bởi các ngun bào

sợi lão hóa phân mảnh collagen.



Hình 1.10. Lật mi dưới do tuổi già [22]



22



1.3.4. Lật mi do liệt

Lật mi do liệt thường xảy ra sau liệt thần kinh VII nhất thời hoặc lâu dài.

Theo tác giả Phan Dẫn, Phạm Trọng Văn [15] khi liệt thần kinh VII mi dưới

sẽ cách xa vùng rìa, sa xuống làm hở lộ kết mạc nhãn cầu. Khe mi mất đối

xứng. Nhắm mắt khơng kín để hở kết mạc hoặc giác mạc. Do sức nặng và co

kéo từ vùng má, mi dưới dần dần sẽ bị lật mi.

Theo D. G. James [23] thì liệt Bell là nguyên nhân hay gặp nhất của liệt

thần kinh mặt, chiếm khoảng 49% đến 51% các bệnh nhân liệt thần kinh mặt.

Chấn thương là nguyên nhân hay gặp thứ hai chiếm từ 8 đến 22 % số bệnh

nhân. Các nguyên nhân phổ biến tiếp theo là do nhiễm trùng và do khối u.

Bệnh nhân bị liệt Bell thường bị yếu hoặc liệt hoàn toàn vận động của tất

cả các cơ ở một bên mặt nhưng cảm giác của vùng mặt vẫn còn. Các nếp nhăn

trên khuôn mặt biến mất, mi mắt nhắm khơng kín. Khi bệnh nhân cố gắng

nhắm mắt thì nhãn cầu vận động lên trên gọi là hiện tượng Bell [24].

Nguyên nhân liệt Bell còn chưa được biết rõ tuy gần đây có nhiều nghiên

cứu được cơng bố kết luận rằng virus herpes kích hoạt lại từ các hạch thần

kinh sọ não có vai trò quan trọng trong bệnh này. Một số nghiên cứu cho thấy

Herpes simplex virus được phát hiện trong 50% các trường hợp và herpes

zoster virus trong khoảng 13% các trường hợp [25].



Hình 1.11. Lật mi do liệt Bell: mắt nhắm khơng kín, méo miệng [12].

1.3.4. Lật mi do sẹo



23



Lật mi do sẹo có thể xuất hiện ở mi trên hoặc mi dưới, có thể là do bỏng

nhiệt hoặc bỏng hóa chất, chấn thương cơ học, chấn thương phẫu thuật, hoặc

co rút lớp nông của mi do viêm mạn tính, đơi khi kèm theo lật mi tuổi già.

Ngoài các trường hợp sẹo trực tiếp trên các vùng mi mắt, chấn thương

vùng mặt cũng có thể gây ra hiện tượng lật mi, ngay cả trong trường hợp vùng

chấn thương không liên quan đến mi mắt. Điều này là hệ quả do sự co kéo của

các cơ vùng mặt (như cơ gò má nhỏ, cơ gò má lớn, cơ cau mày...) đến các

nhóm cơ vòng của mi mắt trên vùng mặt trong quá trình liền vết thương.

Sẹo co kéo: do quá trình tăng sinh các nguyên bào sợi cơ, các sợi tạo

keo, dẫn tới một quá trình giảm các thớ cơ, hình thành các dải xơ ở dưới sẹo,

dưới lớp cân. Q trình co kéo có thể chỉ do sẹo da đơn thuần hoặc có thể co

kéo cả lớp cân, gân, cơ, bao khớp, dây chằng, do các dải xơ dưới sẹo gây nên.

Quá trình hồi phục sẹo kéo dài khoảng 4 tháng, sẹo co kéo không hồi phục lại

được. Chính vì khơng khơi phục lại được nên các vùng sẹo trên mặt kéo cho

cơ vòng mi trễ xuống hình thành nên lật mi.



Hình 1.12. Lật mi dưới do sẹo co kéo [26]

Trong một nghiên cứu về chấn thương mắt tại Bệnh viện Mắt Trung

ương năm 2002, tác giả Đỗ Như Hơn, Nguyễn Quốc Anh [27] đánh giá 2861



24



bệnh nhân trên 2945 mắt thì có 277 mắt chấn thương mi chiếm 9,4%. Như

vậy hàng năm số lượng bệnh nhân ở Việt Nam có di chứng để lại sẹo chấn

thương mi không phải là nhỏ.

Lật mi do sẹo cũng gặp trong viêm mạn tính của mi mắt do các bệnh da như

viêm da trứng cá đỏ, viêm da kiểu atopi, viêm da dạng eczema, hoặc bệnh zona.

1.3.5. Lật mi cơ học

Lật mi cơ học có thể do những khối u lớn của mi mắt. Dịch tích tụ, mỡ

hốc mắt thốt vị, thâm nhiễm tế bào lympho, phù mãn tính cũng có thể tạo

thành một yếu tố cơ học gây lật mi.

Lật mi cơ học là do sự choán chỗ của các tổ chức khác làm thay đổi hình

dạng mi mắt, khiến mi mắt bị kéo ra, điều này có cơ chế hoàn toàn khác với

sự co kéo của lật mi do sẹo. Xác định rõ yếu tố này giúp cho ta chuẩn đốn

phân biệt trên lâm sàng giữa hai hình thái lật mi.



Hình 1.13. Lật mi do u mi dưới góc trong [22]

1.3.6. Chuẩn đốn

1.3.6.1. Chuẩn đốn xác định

Trên lâm sàng có thể dễ dàng nhận thấy mi khơng ở vị trí giải phẫu mà

lật ra ngồi để lộ ra phần kết mạc của mi mắt, trong trường hợp bị lật mi nặng

có thể lộ cả phần kết mạc cùng đồ.

Độ lật mi



25



Theo tác giả Rubin P [28] thì dựa vào tiến triển lâm sàng của lật mi được

phân ra 4 mức độ:

- Độ I: mi mắt mới chỉ không áp vào nhãn cầu.

- Độ II: mi mắt bị ngửa ra, nhìn thấy được phần kết mạc.

- Độ III: bắt đầu xảy ra hiện tượng xuất huyết kết mạc, sừng hóa kết mạc.

- Độ IV: ảnh hưởng đến giác mạc (khơ mắt, viêm lt giác mạc...)

1.3.6.2. Chuẩn đốn phân biệt

Lật mi và hở mi đơn thuần trên lâm sàng thường hay bị nhầm lẫn giữa

hai khái niệm:

- Hở mi: là tình trạng mi mắt khơng có khả năng nhắm kín hoàn toàn và

bảo vệ toàn bộ bề mặt nhãn cầu [13].

- Lật mi: bờ mi bị lật ra ngồi khơng áp vào nhãn cầu.

Như vậy, lật mi sẽ bị lộ phần kết mạc mi và điều này có thể dẫn đến lộ ra

bề mặt nhãn cầu. Hở mi khiến mi mắt nhắm khơng kín nhưng vẫn áp vào

nhãn cầu và không bị lộ phần kết mạc mi mắt.

1.3.7. Điều trị

1.3.7.1. Điều trị nội khoa

- Sử dụng các dạng nước mắt nhân tạo, thuốc mỡ khi có các dấu hiệu

viêm giác mạc chấm nơng, hay viêm kết mạc có nhú.

- Khơng khuyến khích tra corticoid tra tại mắt do đây khơng phải là một

giải pháp lâu dài và có thể dẫn đến các biến chứng như đục thủy tinh thể, tăng

nhãn áp.

- Tra kháng sinh dạng mỡ có corticoid có thể giúp cho việc chuẩn bị

phẫu thuật do có thể bơi trơn hay giảm bớt phù nề mi.

1.3.7.2. Điều trị ngoại khoa



26



Phẫu thuật điều trị lật mi thường được dựa theo nguyên nhân và cơ chế

gây lật mi để xác định hình thức phẫu thuật. Một số các nguyên tắc và phương

pháp phẫu thuật lật mi chủ yếu như:

- Cắt sụn hình ngũ giác



Hình 1.14. Cắt sụn hình ngũ giác

(Nguồn: Open ophthalmol J tr286)

- Tạo hình dây chằng góc trong



Chỉ định trong trường hợp lật mi có giãn dây chằng mi trong sau khi

kiểm tra các test dây chằng.....



Hình 1.15. Tạo hình dây chằng góc trong

(Nguồn: Arq Bras Oftalmol tr385 )

- Rút ngắn dây chằng mi ngoài



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Nghiệm pháp kéo mi ra trước: nắm nhẹ lên da mi và kéo bờ mi ra xa nhãn cầu. Khi khoảng cách bờ mi - giác mạc là 6mm là bình thường, quá 10 mm là trương lực mi bất thường [12].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×