Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM -NHẬT BẢN

II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM -NHẬT BẢN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



nhập... Những vấn đề này có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân mặt khác

rất khó giải quyết nếu thiếu vốn, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật.

Như vậy với mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững,

trong những năm, tới chính phủ Việt Nam cần dung hoà các hướng đầu tư của

nguồn vốn ODA: vừa vào lĩnh vực kinh tế ,vừa vào lĩnh vực xã hội (giáo dục,

y tế...). Đó chính là phương hướng chủ đạo trong việc tiếp nhận viện trợ phát

triển chính thức của Việt Nam trong những năm tới.

2. Về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản tại Việt Nam.

Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn FDI nói chung và của Nhật

Bản nói riêng, chính phủ Việt Nam vẫn chủ trương tích cực thu hút bằng

nhiều biện pháp. Bên cạnh đó, yếu tố khoa học công nghệ mà FDI mang lại

cho Việt Nam trong những năm qua chưa thực sự như mong muốn. Vì vậy

trong những năm tới, việc chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực

tiếp nước ngoài sẽ được khuyến khích mạnh mẽ hơn.

Ngồi ra, một trong những chính sách lâu dài của Việt Nam là đẩy mạnh

xuất khẩu, mà trong lĩnh vực này, các liên doanh hoặc các công ty 100% vốn

nước ngồi rất có tiềm năng. Hiện nay, Việt Nam đã phát triển những khu chế

xuất chính là một biện pháp quan trọng để khuyến khích xuất khẩu từ các

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngơài. Trong thời gian tới, các khu

chế xuất này sẽ ngày càng được phát triển với qui mô lớn hơn, nhiều điều

kiện ưu đãi hơn, trở thành những cửa ngõ chính thu hút FDI của Nhật Bản và

các nước khác.

Về mặt cơ cấu đầu tư, phương hướng trong những năm tới là đẩy mạnh thu

hút vốn FDI vào các nghành mũi nhọn, đồng thời cũng là thế mạnh của Nhật

Bản , như ngành dệt, ngành chế tạo ô tô, xe máy... Hiện nay, tuy đã có những

bước tiến đáng kể, nhưng ngành công nghiệp điện tử vẫn chưa phát triển

tương xứng với tiềm năng của hai nước. Trong lĩnh vực này mới chỉ có một số

ít dự án đầu tư vào điện tử dân dụng còn điện tử cơng nghiệp với các sản



57



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



phẩm rất cần thiết cho công cuộc hiện đại hố Việt Nam thì vẫn còn thiếu. Do

đó, chú trọng thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp điện tử là một phương

hướng chủ đạo trong chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam đối với Nhật

Bản.

3.Về thương mại giữa hai nước.

Trên cơ sở xem xét những vấn đề còn tồn tại, những thuận lợi và tiềm

năng, kết hợp những dự báo được phân tích ở trên phương hướng phát triển

quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật Bản như sau:

Một là, Việt Nam vẫn phải duy trì chính sách thay thế nhập khẩu đối với

những mặt hàng đã có khả năng sản xuất ở trong nước.

Hai là, Việt Nam phải có những biện pháp hiệu quả nhằm chuyển dịch cơ

cấu xuất nhập khẩu có lợi cho mình nhiều hơn, đáp ứng được nhu cầu cấp

thiết trong nước. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng

giảm và tiến tới loại bỏ các nguyên, nhiên liệu thô, gia tăng tỷ trọng của

những mặt hàng đã qua chế biến. Cơ cấu nhập khẩu cũng phải chuyển dịch

theo hướng ưu tiên đáp ứng nhu cầu cơng nghiệp hố, hiện đại hố trong

nước. Các cơng nghệ hiện đại sẽ chiếm tỷ trọng cao trong giá trị nhập khẩu

của Việt Nam từ Nhật Bản, bởi vì Nhật Bản là một nước có tiềm lực khoa

học, cơng nghệ rất mạnh.Các mặt hàng tiêu dùng, nếu khơng phải là thiết yếu

thì sẽ không nhập khẩu hoặc chỉ nhập khẩu với tỷ trọng không đáng kể, ưu

tiên dành mọi nguồn lực cho nhập khẩu máy móc, cơng nghệ phục vụ cơng

nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.

Việt Nam cần tích cực hơn nữa trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu thị

trường theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá các bạn hàng, các đối tác,

không nên chỉ phụ thuộc vào các bạn hàng truyền thống như Nhật Bản và các

nước Châu á khác. Mục đích của việc này, một phần là để hạn chế, chia nhỏ

những rủi ro cho các nhà xuất khẩu Việt Nam khi các thị trường truyền thống

bị chấn động, mặt khác nâng cao tính cạnh tranh, vị thế của các hàng hoá Việt

Nam trên thị trường quốc tế, tránh bị ép giá do khơng có đầu ra.



58



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



III.NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ-THƯƠNG MẠI VIỆT

NAM - NHẬT BẢN

1. Đối với Nhà nước

Trên cơ sở phân tích thực trạng của quan hệ kinh tế-thương mại Việt NamNhật Bản trong thời gian qua và xu hướng phát triển trong thời gian tới, về

phía chính phủ xin đưa ra một số đề xuất chủ quan nhằm mục đích phát triển

hơn nữa mối quan hệ này.

1.1 Trong quan hệ kinh tế với Nhật Bản.

Về lĩnh vực thu hút ODA, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản

lý và điều hành công tác tiếp nhận nguồn vốn ở các cấp sao cho nguồn vốn

này được phân bổ hợp lý cho những ngành, những cơng trình thực sự cần thiết

và mang lại hiệu quả cao. Mặt khác, phải tăng cường công tác đào tạo cho

những cán bộ thuộc bộ phận có liên quan đến việc xác định nhu cầu và đàm

phán, ký kết những hiệp định với đối tác nước ngoài nhằm nâng cao hơn nữa

số lượng và chất lượng nguồn vốn thu hút được. Cơng tác này có thể được

thực hiện dưới các hình thức như mở lớp đào tạo ngắn về những kiến thức có

liên quan đến thủ tục, điều kiện cung cấp ODA...

Bên cạnh đó, các ngành, địa phương có nhu cầu về cung cấp ODA cần

nghiên cứu kỹ những chính sách ưu tiên của đối tác nước ngoài cũng như quy

chế quản lý và sử dụng nguồn ODA, tạo điều kiện giải quyết nhanh trong việc

lập hồ sơ dự án và các thủ tục có liên quan.

Đối với hoạt động đầu tư, để tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư đồng

thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI, chính phủ cần quan tâm đến

các vấn đề như luật pháp, thủ tục cấp giấy phép, nâng cao điều kiện cơ sở hạ

tầng cũng như nâng cao hiệu sử dụng vốn.

Trước hết, để môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn, hệ thống luật pháp

về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và một số luật có liên quan cần được hồn

thiện, đảm bảo tính thống nhất và ổn định. Cần học hỏi những kinh nghiệm



59



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



của các nước trong khu vực như Thái Lan, Inđơnêxia...về hệ thống luật pháp,

chính sách của họ đối với vấn đề thu hút đầu tư.

Việt Nam không những phải duy trì lợi thế sẵn có mà còn phải nâng cấp

để tận dụng tối đa những thuận lợi mà mình có. Việc nâng cấp bao gồm khai

thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, bảo vệ nguồn tài nguyên tránh lãng

phí. Đối với lợi thế về nguồn nhân lực, chính phủ nên có chính sách hỗ trợ

đào tạo nhằm nâng cao trình độ nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng

của các nhà đầu tư.

Cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải, thông tin liên lạc ở Việt Nam còn yếu

kém đã gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào

Việt Nam. Trong lĩnh vực bưu chính viễn thơng, tình trạng độc quyền làm cho

giá dịch vụ khá cao so với các nước trong khu vực. Trong thời gian tới nên

đầu tư cơng nghệ tiên tiến cho ngành này.

Chính phủ cần quản lý chặt chẽ cơ cấu đầu tư theo đúng hướng đã đề ra,

kiểm sốt cơng nghệ dược chuyển giao tránh tình trạng nhập khẩu các cơng

nghệ đã lỗi thời.

Để tăng cường hoạt động hướng ra xuất khẩu, chính phủ cần có những

biện pháp, chính sách ưu đãi đối với hoạt động xuất khẩu ở các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngồi, đặc biệt trong các lĩnh vực có giá trị xuất khẩu cao.

1.2 Trong quan hệ thương mại với Nhật Bản.

Trong những năm qua Việt Nam luôn xuất siêu sang thị trường Nhật Bản

và được chính phủ Nhật Bản khuyến khích. Nếu xét trong tổng kim ngạch

xuất nhập khẩu của Việt Nam thì Việt Nam vẫn nhập siêu mặc dù tỷ lệ này

không cao. Sau đây là một số đề xuất nhằm tăng cường hoạt động xuất khẩu

của Việt Nam vào Nhật Bản:

-Tiếp tục chuyển hướng cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu



60



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



-Nhà nước nên có các hình thức ưu đãi nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, và nhập

khẩu theo hướng tạo điều kiện cho q trình cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước.

-Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bằng cách đặt văn phòng

đại diện hoặc trung tâm xúc tiến thương mại Việt Nam tại Nhật Bản cũng như

giúp các doanh nghiệp trong việc tìm đối tác, mở rộng thị trường

2. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Như đã đề cập ở trên, quan hệ kinh tế -thương mại Việt Nam-Nhật Bản

được phân tích trên ba khía cạnh đầu tư, viện trợ phát triển chính thức và

buôn bán. Do nền kinh tế Việt Nam chưa phát triển nên trong phần này chỉ nói

về giải pháp phát triển thương mại giữa hai nước dưới góc độ doanh nghiệp.

Nhiều cơng ty nước ngồi đã nắm bắt được những nét đặc trưng của xã

hội Nhật Bản và những đặc điểm nổi bật của thị trường này. Họ cũng rất am

hiểu xu hướng tiêu dùng của người Nhật cũng như những qui định và bộ luật

liên quan của Nhật Bản. Cùng với những kiến thức của mình, họ đã thành

công trên thị trường Nhật Bản. Sau đây là một số nhận xét, đánh giá được đúc

kết bởi rất nhiều các cơng ty nước ngồi đã thành cơng trên đất Nhật, để từ đó

giúp các doanh nghiệp Việt Nam tìm ra con đường đi đến sự thành công.

-Thâm nhập thị trường Nhật Bản cần chiến lược lâu dài. Thị trường Nhật

Bản đòi hỏi một chiến lược với tầm nhìn sâu rộng. Điều này đạt được bằng

cách nghiên cứu kỹ các yếu tố như: dung lượng thị trường, các đối thủ cạnh

tranh, kênh phân phối, mức giá, giới hạn thời gian, những diễn biến đối với

người sử dụng và người tiêu dùng, những xu hướng nghiên cứu và phát triển.

Trước khi có thể thâm nhập thị trường Nhật Bản, các cơng ty phải điều tra

nghiên cứu thị trường này. Do đặc điểm của cơng việc, chính sách kinh doanh

và cách thức thành lập công ty ở Nhật, việc đưa ra quyết định ở Nhật thường

tốn nhiều thời gian hơn so với các nước khác. Việc tìm kiếm lợi nhuận nhanh

chóng tại thị trường Nhật Bản là điều khơng thích hợp. Điều cốt yếu là không



61



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



được bỏ cuộc giữa chừng, muốn thành cơng phải có sự quyết đốn và lòng

kiên trì.

-Lựa chọn đúng đối tác. Khi thành lập một công ty con hay một liên

doanh để thâm nhập thị trường Nhật Bản, chiến lược quản lý của phía đối tác

Nhật Bản sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của công ty, những hoạt động

kinh doanh sau này của phía Nhật Bản cũng gây nhiều ảnh hưởng tương tự.

Câu hỏi chính ln được đặt ra là liệu có hay khơng sự tương đồng về triết lý

và chủ thuyết kinh doanh giữa hai bên. Nếu hai bên có sự tương đồng thì sự

hợp tác kinh doanh sẽ diễn ra trôi chảy, nhưng nếu hai bên có sự bất đồng thì

cần sớm có sự bàn bạc ( tham khảo ý kiến). Nếu rơi vào tình trạng trên, hai

bên cần có những cuộc tranh luận, bàn bạc, tham khảo để tăng cường sụ hiểu

biết lẫn nhau.

-Coi trọng chất lượng và hoạt động kinh doanh. Đối với các loại sản

phẩm, người tiêu dùng và người sử dụng Nhật Bản đòi hỏi cao về tiêu chuẩn.

Có một số cơng ty nước ngồi phàn nàn những tiêu chuẩn mà người Nhật Bản

đề ra là quá cao và việc đáp ứng những tiêu chuẩn và những yêu cầu đó là

khơng thể được vì q tốn kém. Tuy nhiên những công ty thành công ở Nhật

đều nhận ra rằng, người Nhật không bao giờ bỏ qua về mặt chất lượng. Các

cơng ty này nhận về mình trách nhiệm phải đáp ứng được những tiêu chuẩn

này và độ an toàn của hàng hoá đối với người tiêu dùng Nhật Bản.

-Nét độc đáo và khác biệt. Sự thật là một sản phẩm độc đáo tất nhiên sẽ

hấp dẫn khách hàng. Nhưng khách hàng sẽ còn bị cuốn hút hơn khi cơng ty đó

và sản phẩm của nó độc đáo, khác biệt với các sản phẩm của đối thủ cạnh

tranh. Để có được tính độc đáo của sản phẩm cần đầu tư cho các khâu quảng

cáo và tiếp thị, trình độ cơng nghệ, nghiên cứu và phát triển.Điều chủ yếu

phải tạo được sự khác biệt giữa cơng ty mình và đối thủ cạnh tranh, bí quyết ở

đây chính là tính sáng tạo.

-Đầu tư cho công nghệ, nghiên cứu và phát triển. Trong ngành sản xuất,

chế tạo, công ty cần phải quan tâm tới các hoạt động nghiên cứu- phát triển và

62



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



cộng nghệ. Rất nhiều công ty khi thâm nhập thị trường Nhật đã đầu tư khá

nhiều tiền của và nguồn nhân lực cho bộ phận nghiên cứu-phát triển.

-Hiểu rõ những nhu cầu của thị trường Nhật Bản. Nhiều cơng ty nước

ngồi thường cho rằng, sản phẩm của mình tiêu thụ được ở thị trường nội địa

chẳng có nghĩa lý gì lại không bán được ở thị trường Nhật Bản. Tuy nhiên,

những sản phẩm và dịch vụ đó lại khơng đáp ứng được nhu cầu ở thị trường

Nhật Bản nên kết cục thường thất bại. Một nhà sản xuất thiết bị gia dụng Mỹ

đã thử bán sản phẩm tủ lạnh của mình ở Nhật nhưng khơng thành cơng vì tủ

lạnh của cơng ty này quá to, không phù hợp với nhà ở của người Nhật Bản.

Trường hợp khác, một công ty liên doanh nước ngoài chuyên sản xuất đồ nội

thất đã thành cơng khi sản xuất ghế sơ pha có gầm thấp sát dưới sàn phù hợp

với thói quen ngồi dưới sàn nhà của người Nhật Bản. Một cán bộ công ty lý

giải “ sản xuất đồ nội thất là ngành liên quan mật thiết đến đặc điểm từng khu

vực và những khách hàng sống ở khu vực đó, chúng tơi thiết kế và làm ra

những sản phẩm mà mgười tiêu dùng địa phương mong muốn”.

-Tận dụng mọi sự ưu đãi. Những cơng ty có cơ sở sản xuất và nhà máy ở

những vùng xa trung tâm có thể nhận được những ưu đãi về thuế, trợ giá và

những khoản vay nhẹ lãi. Đây là những biện pháp ưu đãi mà chính phủ Nhật

cũng như các nước khác áp dụng để khuyến khích phát triển, các doanh

nghiệp có vốn nước ngồi có thể tận dụng những hệ thống cho vay nhẹ lãi

điều hành bởi các cơ quan tài chính của chính phủ.

Từ những kinh nghiệm của một số công ty đã thành công trên thị trường

Nhật Bản, theo ý kiến của bản thân tôi, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động

trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trước khi thâm nhập vào thị trường Nhật Bản

nên chú ý đến những khía cạnh sau:

2.1. Tiếp tục nghiên cứu thị trường Nhật Bản..

Nhật Bản là một thị trường lớn và ngày càng có nhiều cơ hội để các

doanh nghiệp Việt Nam có thể kinh doanh thành công. Các công việc của



63



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



nghiên cứu thị trường bao gồm nghiên cứu cung cầu, giá cả hàng hoá, tình

hình hoạt động của các đối thủ...

Có thể nói từ trước đến nay Việt Nam chỉ là một bạn hàng nhỏ bé của

Nhật trong lĩnh vực buôn bán. Thu nhập trung bình của người dân Nhật rất

cao nên nhu cầu của họ về các loại hàng hoá cũng rất đa dạng. Ngoài các sản

phẩm vật chất phục vụ cho sinh hoạt thơng thường thì nhu cầu về giải trí, văn

hố, du lịch ngày càng cao. Yếu tố cung trên thị trường Nhật Bản cũng đa

dạng. Vì Nhật Bản là một thị trường lớn nên có rất nhiều cơng ty danh tiếng

của nước ngồi muốn làm ăn ở đó. Trong khi đó, về kinh doanh xuất nhập

khẩu, Việt Nam chỉ chiếm chưa đầy 1% dung lượng thị trường. Bên cạnh đó,

các doanh nghiệp Việt Nam gặp phải khó khăn nữa là cạnh tranh trên thị

trường thế giới nói chung và trên thị trường Nhật Bản nói riêng ngày càng gay

gắt. Các đối thủ Việt Nam gặp phải toàn là những đối thủ mạnh như Trung

Quốc, Italia, Hàn Quốc đối với hàng dệt may, Thái Lan, ẤN Độ đối với hải

sản; Trung Quốc, Anh, Đức đối với đồ gốm sứ... Vấn đề đặt ra đối với Việt

Nam khi đối đầu với những đối thủ lớn như vậy là phải làm sao nâng cao sức

cạnh tranh hàng hoá của Việt Nam ở thị trường Nhật Bản. Muốn vậy, các

doanh nghiệp cần phải nâng cao chất lượng hàng hoá, hiểu biết tốt nhu cầu,

thị hiếu của người Nhật về những mặt hàng Việt Nam kinh doanh, tìm được

các đối tác đáng tin cậy... Việt Nam hiện đã thành lập ban xúc tiến thương mại

với một phần chức năng là hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam thuộc mọi thành

phần kinh tế mở rộng thị trường tìm, kiếm đối tác, phát triển sản phẩm. Nội

dung hoạt động của ban xúc tiến thương mại là cung cấp các dịch vụ tư vấn,

tạo các cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp Việt Nam, tổ chức hội trợ

triển lãm... Khi chuẩn bị thâm nhập thị trường Nhật Bản, các doanh nghiệp

bằng cách này hay cách khác nên tìm hiểu thị trường Nhật Bản thật kỹ để hạn

chế rủi ro.

2.2. Tìm hiểu thói quen, thị hiếu tiêu dùng của người Nhật Bản.



64



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



-Về thực phẩm. Người Nhật quan tâm đến những món ăn ngon, các đồ ăn

để hưởng thụ trong khi đó các đồ ăn tiết kiệm thời gian cũng rất thích hợp với

cuộc sống ở Nhật. Bên cạnh đó, một phần lớn người dân ưa thích các thực

phẩm giá rẻ, tránh những nơi mà giá dịch vụ quá cao. Nhưng tất cả người dân

Nhật đều quan tâm đến sức khoẻ, đòi hỏi chất lượng đảm bảo. Các sản phẩm

có thành phần dinh dưỡng vừa phải, thích hợp với mỗi độ tuổi được người

tiêu dùng rất ưa chuộng.

-Các khuynh hướng trong thời trang. Do cuộc sống gần đây trở nên đa

dạng hơn, thời kỳ của việc gắn bó q nhiều với hàng hố có nhãn hiệu đang

chấm dứt dần và thời trang cũng trở nên đa dạng hơn. Người tiêu dùng, bên

cạnh đó cũng đang cố gắng giảm bớt chi tiêu cho quần áo trong thời kỳ suy

thoái và lựa chọn những sản phẩm có giá cả hợp lý.

-Nhà cửa, ngày càng phổ biến việc sử dụng bàn ghế, giường tủ và các đồ

đạc gỗ vì vậy đồ gỗ gia dụng cũng ngày một đa dạng hơn.

Người Nhật Bản được coi là một trong số những người đòi hỏi chất lượng

sản phẩm cao nhất, gồm cả độ bền và khả năng hoạt động. Bên cạnh đó, thị

hiếu của người tiêu dùng bắt nguồn từ truyền thống và điều kiện của Nhật

Bản trở thành một yếu tố quan trọng trong việc bán và phát triển sản phẩm

hàng hoá. Do khủng hoảng kinh tế kéo dài gần đây nên người tiêu dùng Nhật

Bản thích mua các hàng hố có giá cả hợp lý.

Các doanh nghiệp Việt Nam khi thâm nhập thị trường Nhật Bản cần chú ý

đến tiêu chuẩn chất lượng mà người Nhật Bản đòi hỏi cũng như thị hiếu, thói

quen tiêu dùng để từ đó có cách thức đáp ứng cho phù hợp. Các doanh nghiệp

nên có chính sách hỗ trợ đào tạo để tìm hiểu nhu cầu cũng như thói quen tiêu

dùng của người Nhật tại Nhật. Mời các chuyên gia Nhật Bản , các nhà cố vấn

Việt Nam tư vấn về các lĩnh vực kiểm tra chất lượng, mẫu mã bao bì ... Hình

thức liên doanh với các công ty Nhật Bản cũng hỗ trợ đắc lực cho các doanh

nghiệp Việt Nam thâm nhập tốt hơn vào thị trường Nhật Bản



65



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



2.3. Tìm hiểu chính sách xuất nhập khẩu của Việt Nam và Nhật Bản

2.3.1 Những đổi mới trong chính sách xuất nhập khẩu và đầu tư của Việt Nam

Chính sách ngoại thương của Việt Nam trong thời gian tới là hướng mạnh

vào xuất khẩu, thay thế nhập khẩu. Đối với những ngành hàng khác nhau cơ

chế, chính sách xuất nhập khẩu có những đặc điểm khác biệt mà doanh

nghiệp phải nghiên cứu và nắm rõ. Chính sách chung là khuyến khích xuất

khẩu, tuy nhiên chế độ ưu đãi đối với mỗi mặt hàng là khác nhau, thậm chí

từng thời điểm cũng khác nhau. Chúng ta đang ở trong giai đoạn hồn thiện

các chính sách nên thường có sự điều chỉnh chính sách giữa các ngành hàng

xuất nhập khẩu.Vì vậy các yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp kinh doanh

xuất nhập khẩu là:

-Nghiên cứu mức thuế suất tại thời điểm kinh doanh đối với mặt hàng

mình kinh doanh. Lựa chọn thời điểm xuất, nhập hàng thích hợp sẽ góp phần

giảm chi phí và như vậy làm giảm giá thành sản phẩm.

-Để hoạt động kinh doanh diễn ra liên tục, lâu dài thì các doanh nghiệp

phải biết dự đốn các chính sách trong tương lai có những thuận lợi hay bất

lợi gì cho doanh nghiệp. Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện chương trình cắt

giảm thuế quan giữa các nước ASEAN nên thuế suất của các mặt hàng sẽ có

nhiều thay đổi. Ngồi ra, doanh nghiệp phải nghiên cứu các chính sách liên

quan đến các mặt hàng có liên quan, các mặt hàng có khả năng thay thế đối

với mặt hàng mình kinh doanh.

-Nghiên cứu chính sách hỗ trợ xuất khẩu, khuyến khích xuất khẩu của nhà

nước. Các chính sách thuế, chính sách tài chính thuận lợi cũng sẽ hỗ trợ cho

doanh nghiệp trong khâu vốn, thanh tốn...

2.3.2 Những chính sách xuất nhập khẩu của Nhật Bản

Đối với hàng hoá nhập khẩu vào Nhật Bản, trong chế độ nhập khẩu , Nhật

Bản qui định thành nhóm các loại mặt hàng nhập khẩu không hạn chế , nhóm



66



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



mặt hàng nhập khẩu hạn chế. Về hệ thống ưu đãi thuế quan của nhật cũng

được qui định riêng cho từng nhóm mặt hàng riêng biệt. Nhật Bản đề ra một

số luật liên quan đến nhập khẩu một số nhóm hàng nhất định như luật vệ sinh

thực phẩm, luật kiểm dịch thực phẩm, luật chống bệnh dại và các bệnh truyền

nhiễm trong súc vật ni... Vì vậy, các sản phẩm muốn vào được thị trường

Nhật Bản phải qua nhiều khâu kiểm tra khắt khe. Đối với các doanh nghiệp

Việt Nam khi tham gia vào hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu với Nhật

Bản cần chú ý đến các chính sách liên quan đến các mặt hàng xuất nhập khẩu,

thủ tục xuất nhập khẩu của Nhật Bản cũng như của Việt Nam .



3. Biện pháp thúc đẩy xuất khẩu một số mặt hàng truyền thống của Việt Nam

3.1 Mặt hàng thuỷ hải sản.

Đây là một trong những mặt hàng chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu của Việt

Nam vào thị trường Nhật Bản. Hiện nay, ngành thuỷ hải sản xuất khẩu đang

gặp phải một số khó khăn. Đó là nguồn cung cấp nguyên liệu cho thuỷ hải sản

xuất khẩu đang giảm dần do tốc độ đánh bắt và nuôi trồng không đáp ứng kịp

nhu cầu xuất khẩu. Đặc biệt là việc nuôi trồng chưa phát triển và chưa trở

thành nguồn cung cấp ổn định. Hơn nữa công nghệ chế biến thuỷ hải sản của

Việt Nam còn thơ sơ, máy móc lạc hậu làm ảnh hưởng đến chất lượng vệ sinh

thực phẩm. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu tập trung vào Châu á

đặc biệt là Nhật Bản nên độ rủi ro cao. Để giải quyết những khó khăn trên, có

thể tập trung vào một số biện pháp sau:

-Xây dựng nguồn cung cấp nguyên liệu ổn định bằng việc cải thiện năng lực

sản xuất trong các khâu khai thác, ni trồng thuỷ sản. Điều này có thể thực



67



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM -NHẬT BẢN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×