Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN TỚI

NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN TỚI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



độ như tên bắn, 30 năm gần đây lượng kiến thức nhân loại có được về khoa

học kĩ thuật bằng tổng số kiến thức thu được trong 2000 năm trước đó .

-Sự gia tăng xu thế tồn cầu hố thúc đẩy mạnh hơn tiến trình tự do hố

thương mại, đầu tư, chuyển dịch lao động, tạo cho các quốc gia có cơ hội tận

dụng nguồn lực bên ngồi để phát huy, khai thác tốt hơn nguồn lực bên trong

cho tăng trưởng. Và chính những tác động của q trình tồn cầu hố, tính tuỳ

thuộc của các nền kinh tế ngày càng gia tăng, tạo ra các cơ chế hỗ trợ, tương

tác, hạn chế nguy cơ của sự bùng nổ các cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế

giới.

Trong quan hệ kinh tế quốc tế, gần đây đã hình thành các xu thế mới và

các xu thế này còn kéo dài và ảnh hưởng đến các nước trong tương lai không

xa. Các xu thế có thể kể đến như

-Sự đẩy mạnh một bước tự do hoá thương mại và đầu tư quốc tế theo xu

hướng khu vực hố mở và tồn cầu hoá.

-Xuất hiện ngày càng rõ nét xu hướng hội tụ trong và giữa các tổ chức

kinh tế khu vực.

-Xuất hiện xu hướng “ Châu Á hoá thế giới”. Nếu cách đây khơng lâu,

chúng ta mới chỉ nghe nói hay dự báo về một “kỷ nguyên Châu Á” tương lai.

Đến nay, vị thế của Châu Á đã thể hiện đậm nét ở sự gia tăng đột ngột các

hoạt động ngoại giao không chỉ giữa các nước trong khu vực mà còn giữa các

nước ngồi khu vực như các cường quốc Mỹ, Nhật, Pháp, Trung Quốc ...

Trong tương lai, bất chấp xu hướng phát triển chững lại, các nước khu vực

này vẫn tiếp tục giữ vững tăng trưởng cao nhất toàn cầu, các con rồng Châu Á

sẽ tạo ra 1/3 tổng sản lượng thế giới (theo Nghiên cứu kinh tế tháng 5 /1997)

3.Dự báo tình hình phát triển kinh tế Nhật Bản

Ngày nay, khi đã bước sang thế kỉ XXI, mặc dù Nhật Bản vẫn còn là một

cường quốc kinh tế nhưng nhiều người cho rằng: một thực tế là Nhật Bản đã

và đang là một nước dễ bị tổn thương xét cả về kinh tế lẫn chính trị. Nguyên

52



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



nhân là do sự gián đoạn của luồng lưu thông tài nguyên có trật tự và những

bất ổn trong nền kinh tế tồn cầu. Nhật Bản còn bị đe doạ bởi những yếu kém

trong nước về dân số, xã hội và chính trị. Tuy Nhật Bản vẫn là một nước giàu

có, năng động, mạnh về kinh tế nhưng về chính trị, Nhật Bản bị hạn chế bởi

sự phụ thuộc về an ninh vào một đồng minh hùng mạnh lại vừa là kình địch

về kinh tế, đó là Mỹ.

Sau một thập kỷ suy thoái, nền kinh tế Nhật Bản vào những năm cuối của

thế kỉ XX đang có dấu hiệu phục hồi và khơng ít người cho rằng, trong tương

lai, Nhật Bản sẽ có bước phát triển khả quan, tiếp tục khẳng định vai trò của

mình trong phát triển kinh tế của cả khu vực. Tuy vậy, bên cạnh những dự

đoán tốt đẹp về tương lai của Nhật Bản cũng có ý kiến cho rằng một vài thập

niên đầu của thế kỉ mới sẽ là thời kì mất mát lớn nhất đối với Nhật Bản. Để có

những đánh giá chính xác nhất về tình hình phát triển của Nhật trong thời gian

tới, chúng ta hãy xem xét qua các yếu tố cơ bản có thể ảnh hưởng đến nền

kinh tế, cả tích cực cũng như tiêu cực.

Các yếu tố khách quan có tác động tới nền kinh tế Nhật Bản có thể kể đến

như sự phát triển của khoa học công nghệ, xu hướng khu vực hố tồn cầu

hố, xu hướng hồ dịu và hợp tác giữa các quốc gia cũng như tốc độ phát

triển kinh tế thế giới. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật mà ngày

nay là khoa học công nghệ chắc chắn sẽ làm biến đổi nhanh chóng cơ cấu

kinh tế thế giới cũng như bản thân mỗi nền kinh tế. Nhật Bản có thể tận dụng

thị trường bên ngoài mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và nhập khẩu

nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho sự phát triển của đất nước. Nhật Bản vốn

là một nước có ưu thế về cơng nghệ ứng dụng nên trong thời gian tới, khi mà

cạnh tranh ngày càng gay gắt thì Nhật Bản có nhiều lợi thế hơn. Trong những

năm qua, do quá chú trọng đến phát triển công nghệ, không quan tâm đúng

mức đến vấn đề bảo vệ môi trường nên hiện nay Nhật phải đối mặt với việc

giải quyết tình trạng ơ nhiễm mơi trường trầm trọng. Trong tương lai, khi mà

xu hướng hoà dịu và hợp tác trở nên rõ ràng hơn, Nhật Bản có thể nhận được

53



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



sự hợp tác của các nước để giải quyết vấn đề này. Bên cạnh một số thuận lợi,

Nhật Bản gặp phải khơng ít khó khăn do những xu hướng này tạo ra. Sự gia

tăng xu hướng toàn cầu hoá thúc đẩy cạnh tranh mạnh mẽ hơn, tạo áp lực cho

một số ngành kinh tế của Nhật Bản còn dựa vào bảo hộ cao trong nước nhất là

lĩnh vực nông nghiệp. Do sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin làm

thay đổi phong cách quản lý trong các doanh nghiệp. Yêu cầu đặt ra đối với

các doanh nghiệp Nhật Bản là phải thay đổi phương thức quản lý truyền thống

( xem trọng kinh nghiệm ) cho phù hợp với tính năng động nhạy bén của thị

trường trong thời gian tới. Ngoài ra, do tốc độ phát triển của kinh tế thế giới

trong những thập niên đầu thế kỷ XXI sẽ không cao làm ảnh hưởng đến nhịp

độ phục hồi của Nhật Bản sau một thời gian dài suy thoái.

Các yếu tố bên trong nền kinh tế Nhật Bản có ảnh hưởng tích cực đến q

trình phát triển kinh tế có thể kể đến như mức tiêu dùng trong nước sẽ tăng

cao trong thời gian tới. Nguyên nhân là do Nhật Bản đang chuyển từ tăng

trưởng dựa vào nhu cầu bên ngoài sang dựa vào nhu cầu trong nước. Do sự

phát triển của nền kinh tế tri thức, đời sống ngày một nâng cao nên nhu cầu

tiêu dùng cho các sản phẩm thuộc lĩnh vực giải trí, du lịch, văn hố...sẽ tăng

nhanh. Điều này kích thích sự phát triển các ngành dịch vụ, ngành đại diện

cho xu thế phát triển của khoa học công nghệ. Vấn đề già hoá dân số trong vài

thập kỉ trở lại đây là một trong những vấn đề nan giải, đáng quan tâm nhất

trong sự phát triển của Nhật Bản. Già hoá dân số sẽ làm thay đổi cơ cấu và

chất lượng lao động. Điều này gây khó khăn cho việc phát triển các ngành

kinh tế kĩ thuật mới. Số người cao tuổi ngồi kinh nghiệm vốn có thì việc đào

tạo và tiếp thu tri thức mới bị hạn chế, làm giảm tính năng động, sáng tạo

trong hoạt động sản xuất. Điều này còn ảnh hưởng đến việc chuyển dịch cơ

cấu ngành kinh tế cho phù hợp với nhu cầu và thị hiếu tiêu dùng của người

cao tuổi. Do sự phát triển mạnh của nền kinh tế đã đưa Nhật Bản từ chỗ phụ

thuộc sang thành đối tác cạnh tranh chủ yếu của Mỹ và các nước tư bản khác.

Vì vậy cuối thập kỉ 70 và đầu thập kỉ 80 trở lại đây,các nước này đã điều

54



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



chỉnh chính sách làm hạn chế các dòng chảy cơng nghệ vào Nhật Bản. Do đó,

Nhật Bản phải có những chính sách mới trong phát triển công nghệ, từ chú

trọng nhập khẩu sang nghiên cứu phát triển nhằm tạo lập những cơ sở sáng

chế mới để từng bước tự chủ trong công nghệ sản xuất. Yêu cầu đặt ra đối với

Nhật Bản là phải cải cách hệ thống giáo dục đào tạo. Nếu trước đây, trong hệ

thống đào tạo chỉ nhằm tạo ra những con người chun mơn hố đơn điệu thì

hệ thống đào tạo mới phải tạo ra những con người không chỉ biết vâng lời mà

còn phải phát huy khả năng làm việc độc lập sáng tạo. Hiện nay nhịp độ

chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Nhật Bản tỏ ra chậm chạp hơn so với Mỹ và

các quốc gia tư bản khác. Nếu quá trình chuyển đổi này diễn ra chậm sẽ làm

cho tình hình tài chính thêm khó khăn, thâm hụt ngân sách thêm trầm trọng,

nợ dài hạn của chính phủ sẽ tăng nhanh chóng và khả năng về một cuộc

khủng hoảng mới khơng phải là xa vời.

4.Dự báo tình hình phát triển kinh tế-thương mại Việt Nam

Vài năm trở lại đây, trong khi các nước trong khu vực khắc phục hậu quả

suy thoái kinh tế và tốc độ tăng trưởng đang nhích dần lên thì Việt Nam vẫn

đạt mức tăng trưởng khá, các chỉ tiêu về kinh tế, xã hội đạt được đều khả

quan. Năm qua, tốc độ tăng trưởng đạt 6,7%, vượt mức kế hoạch đề ra trước

đó 5,5%-6% và cao hơn mức của năm 1999 ( 4,8% ). Giá trị sản xuất công

nghiệp tăng 15,5% ( kế hoạch 10,5- 11% ). Trong nông nghiệp tuy bị thiên tai

nặng nề nhưng vẫn tăng 4,9%. Về hoạt động xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất

nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu tăng mạnh, cà phê tăng 65,4%, chè 36%,

cao su 18,3%, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới.

Mặc dù vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn chỉ là đang phát triển và còn kém xa

các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đối với nền cơng nghiệp của Việt Nam, khó khăn nằm cả ở đầu vào lẫn đầu

ra. Khó khăn lớn nhất ở đầu vào của sản xuất công nghiệp là thiếu vốn, bao

gồm cả vốn lưu động để sản xuất và vốn đầu tư đổi mới thiết bị kỹ thuật. Khó



55



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



khăn ở đầu ra của sản xuất công nghiệp là thị trường và giá cả tiêu thụ sản

phẩm, sản phẩm của Việt Nam chưa tìm được chỗ đứng trên thị trường vì sức

cạnh tranh thấp, giá cả hàng hoá lại cao. Trong những năm tới, chúng ta tiếp

tục thực hiện chính sách mở cửa, thực hiện công cuộc cải cách đất nước theo

hướng cơng nghiệp hố-hiện đại hố nền kinh tế. Một vài năm tới, khi Việt

Nam thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan (CEPT) chắc chắn sẽ là một

sự kiện lớn có ảnh hưởng đến nền kinh tế đất nước.

II. MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM

-NHẬT BẢN

1.Về viện trợ phát triển chính thức của Nhật Bản cho Việt Nam.

Là một nước đang phát triển trong giai đoạn đầu của cơng nghiệp hố, Việt

Nam cần có nhiều nguồn lực làm cơ sở cho việc phát triển kinh tế xã

hội.ODA, đặc biệt là ODA từ Nhật Bản có vai trò quan trọng trong việc tạo ra

những cơ sở đó.

Nguồn vốn ODA như một chiếc cầu nối để mở rộng các quan hệ song

phương về đầu tư, thương mại cùng những thay đổi trong chính sách ODA

của Nhật Bản, chính phủ Việt Nam vẫn chủ trương tiếp tục tận dụng nguồn

vốn ODA từ Nhật Bản.Trong tình hình hiện nay, do những khó khăn, hạn chế

của bản thân kinh tế trong nước dẫn đến tình trạng nguồn vốn ODA chưa

được sử dụng hiệu quả, hơn nữa do tình hình cung cấp ODA của Nhật Bản

đang dần bị thu hẹp về qui mơ nên vấn đề đặt ra đối với chính phủ Việt Nam

là phải làm sao nâng cao hiệu quả sử dụng vốn này, tránh tình trạng sử dụng

tuỳ tiện, khơng tính đến hậu quả và để lại gánh nặng cho nền kinh tế.

Một định hướng quan trọng khác cần phải chú ý, đó là mục tiêu sử dụng

vốn ODA nói chung, và vốn ODA của Nhật Bản nói riêng. Rút kinh nghiệm

từ bài học của những nước đang phát triển trong khu vực, không nên quá

thiên về mục tiêu trước mắt mà xem nhẹ những vấn đề xã hội mang tính chất

lâu dài như vấn đề dân số, ơ nhiễm mơi trường, vấn đề bất bình đẳng về thu



56



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



nhập... Những vấn đề này có ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân mặt khác

rất khó giải quyết nếu thiếu vốn, thiếu kiến thức khoa học kỹ thuật.

Như vậy với mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững,

trong những năm, tới chính phủ Việt Nam cần dung hoà các hướng đầu tư của

nguồn vốn ODA: vừa vào lĩnh vực kinh tế ,vừa vào lĩnh vực xã hội (giáo dục,

y tế...). Đó chính là phương hướng chủ đạo trong việc tiếp nhận viện trợ phát

triển chính thức của Việt Nam trong những năm tới.

2. Về đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật Bản tại Việt Nam.

Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn vốn FDI nói chung và của Nhật

Bản nói riêng, chính phủ Việt Nam vẫn chủ trương tích cực thu hút bằng

nhiều biện pháp. Bên cạnh đó, yếu tố khoa học cơng nghệ mà FDI mang lại

cho Việt Nam trong những năm qua chưa thực sự như mong muốn. Vì vậy

trong những năm tới, việc chuyển giao công nghệ qua các dự án đầu tư trực

tiếp nước ngồi sẽ được khuyến khích mạnh mẽ hơn.

Ngồi ra, một trong những chính sách lâu dài của Việt Nam là đẩy mạnh

xuất khẩu, mà trong lĩnh vực này, các liên doanh hoặc các công ty 100% vốn

nước ngồi rất có tiềm năng. Hiện nay, Việt Nam đã phát triển những khu chế

xuất chính là một biện pháp quan trọng để khuyến khích xuất khẩu từ các

doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngơài. Trong thời gian tới, các khu

chế xuất này sẽ ngày càng được phát triển với qui mô lớn hơn, nhiều điều

kiện ưu đãi hơn, trở thành những cửa ngõ chính thu hút FDI của Nhật Bản và

các nước khác.

Về mặt cơ cấu đầu tư, phương hướng trong những năm tới là đẩy mạnh thu

hút vốn FDI vào các nghành mũi nhọn, đồng thời cũng là thế mạnh của Nhật

Bản , như ngành dệt, ngành chế tạo ô tô, xe máy... Hiện nay, tuy đã có những

bước tiến đáng kể, nhưng ngành công nghiệp điện tử vẫn chưa phát triển

tương xứng với tiềm năng của hai nước. Trong lĩnh vực này mới chỉ có một số

ít dự án đầu tư vào điện tử dân dụng còn điện tử cơng nghiệp với các sản



57



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



phẩm rất cần thiết cho công cuộc hiện đại hố Việt Nam thì vẫn còn thiếu. Do

đó, chú trọng thu hút đầu tư vào ngành công nghiệp điện tử là một phương

hướng chủ đạo trong chính sách thu hút đầu tư của Việt Nam đối với Nhật

Bản.

3.Về thương mại giữa hai nước.

Trên cơ sở xem xét những vấn đề còn tồn tại, những thuận lợi và tiềm

năng, kết hợp những dự báo được phân tích ở trên phương hướng phát triển

quan hệ thương mại Việt Nam-Nhật Bản như sau:

Một là, Việt Nam vẫn phải duy trì chính sách thay thế nhập khẩu đối với

những mặt hàng đã có khả năng sản xuất ở trong nước.

Hai là, Việt Nam phải có những biện pháp hiệu quả nhằm chuyển dịch cơ

cấu xuất nhập khẩu có lợi cho mình nhiều hơn, đáp ứng được nhu cầu cấp

thiết trong nước. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sẽ phát triển theo hướng

giảm và tiến tới loại bỏ các nguyên, nhiên liệu thô, gia tăng tỷ trọng của

những mặt hàng đã qua chế biến. Cơ cấu nhập khẩu cũng phải chuyển dịch

theo hướng ưu tiên đáp ứng nhu cầu cơng nghiệp hố, hiện đại hố trong

nước. Các cơng nghệ hiện đại sẽ chiếm tỷ trọng cao trong giá trị nhập khẩu

của Việt Nam từ Nhật Bản, bởi vì Nhật Bản là một nước có tiềm lực khoa

học, cơng nghệ rất mạnh.Các mặt hàng tiêu dùng, nếu khơng phải là thiết yếu

thì sẽ khơng nhập khẩu hoặc chỉ nhập khẩu với tỷ trọng không đáng kể, ưu

tiên dành mọi nguồn lực cho nhập khẩu máy móc, cơng nghệ phục vụ cơng

nghiệp hố, hiện đại hố đất nước.

Việt Nam cần tích cực hơn nữa trong việc thực hiện chuyển dịch cơ cấu thị

trường theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá các bạn hàng, các đối tác,

không nên chỉ phụ thuộc vào các bạn hàng truyền thống như Nhật Bản và các

nước Châu á khác. Mục đích của việc này, một phần là để hạn chế, chia nhỏ

những rủi ro cho các nhà xuất khẩu Việt Nam khi các thị trường truyền thống

bị chấn động, mặt khác nâng cao tính cạnh tranh, vị thế của các hàng hoá Việt

Nam trên thị trường quốc tế, tránh bị ép giá do khơng có đầu ra.



58



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



III.NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ-THƯƠNG MẠI VIỆT

NAM - NHẬT BẢN

1. Đối với Nhà nước

Trên cơ sở phân tích thực trạng của quan hệ kinh tế-thương mại Việt NamNhật Bản trong thời gian qua và xu hướng phát triển trong thời gian tới, về

phía chính phủ xin đưa ra một số đề xuất chủ quan nhằm mục đích phát triển

hơn nữa mối quan hệ này.

1.1 Trong quan hệ kinh tế với Nhật Bản.

Về lĩnh vực thu hút ODA, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản

lý và điều hành công tác tiếp nhận nguồn vốn ở các cấp sao cho nguồn vốn

này được phân bổ hợp lý cho những ngành, những cơng trình thực sự cần thiết

và mang lại hiệu quả cao. Mặt khác, phải tăng cường công tác đào tạo cho

những cán bộ thuộc bộ phận có liên quan đến việc xác định nhu cầu và đàm

phán, ký kết những hiệp định với đối tác nước ngoài nhằm nâng cao hơn nữa

số lượng và chất lượng nguồn vốn thu hút được. Cơng tác này có thể được

thực hiện dưới các hình thức như mở lớp đào tạo ngắn về những kiến thức có

liên quan đến thủ tục, điều kiện cung cấp ODA...

Bên cạnh đó, các ngành, địa phương có nhu cầu về cung cấp ODA cần

nghiên cứu kỹ những chính sách ưu tiên của đối tác nước ngồi cũng như quy

chế quản lý và sử dụng nguồn ODA, tạo điều kiện giải quyết nhanh trong việc

lập hồ sơ dự án và các thủ tục có liên quan.

Đối với hoạt động đầu tư, để tăng sức hấp dẫn của môi trường đầu tư đồng

thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn FDI, chính phủ cần quan tâm đến

các vấn đề như luật pháp, thủ tục cấp giấy phép, nâng cao điều kiện cơ sở hạ

tầng cũng như nâng cao hiệu sử dụng vốn.

Trước hết, để môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn, hệ thống luật pháp

về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và một số luật có liên quan cần được hồn

thiện, đảm bảo tính thống nhất và ổn định. Cần học hỏi những kinh nghiệm



59



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



của các nước trong khu vực như Thái Lan, Inđơnêxia...về hệ thống luật pháp,

chính sách của họ đối với vấn đề thu hút đầu tư.

Việt Nam không những phải duy trì lợi thế sẵn có mà còn phải nâng cấp

để tận dụng tối đa những thuận lợi mà mình có. Việc nâng cấp bao gồm khai

thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên, bảo vệ nguồn tài nguyên tránh lãng

phí. Đối với lợi thế về nguồn nhân lực, chính phủ nên có chính sách hỗ trợ

đào tạo nhằm nâng cao trình độ nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng

của các nhà đầu tư.

Cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải, thông tin liên lạc ở Việt Nam còn yếu

kém đã gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp nước ngoài khi đầu tư vào

Việt Nam. Trong lĩnh vực bưu chính viễn thơng, tình trạng độc quyền làm cho

giá dịch vụ khá cao so với các nước trong khu vực. Trong thời gian tới nên

đầu tư cơng nghệ tiên tiến cho ngành này.

Chính phủ cần quản lý chặt chẽ cơ cấu đầu tư theo đúng hướng đã đề ra,

kiểm sốt cơng nghệ dược chuyển giao tránh tình trạng nhập khẩu các cơng

nghệ đã lỗi thời.

Để tăng cường hoạt động hướng ra xuất khẩu, chính phủ cần có những

biện pháp, chính sách ưu đãi đối với hoạt động xuất khẩu ở các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngồi, đặc biệt trong các lĩnh vực có giá trị xuất khẩu cao.

1.2 Trong quan hệ thương mại với Nhật Bản.

Trong những năm qua Việt Nam luôn xuất siêu sang thị trường Nhật Bản

và được chính phủ Nhật Bản khuyến khích. Nếu xét trong tổng kim ngạch

xuất nhập khẩu của Việt Nam thì Việt Nam vẫn nhập siêu mặc dù tỷ lệ này

không cao. Sau đây là một số đề xuất nhằm tăng cường hoạt động xuất khẩu

của Việt Nam vào Nhật Bản:

-Tiếp tục chuyển hướng cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu



60



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



-Nhà nước nên có các hình thức ưu đãi nhằm đẩy mạnh xuất khẩu, và nhập

khẩu theo hướng tạo điều kiện cho q trình cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá đất

nước.

-Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp bằng cách đặt văn phòng

đại diện hoặc trung tâm xúc tiến thương mại Việt Nam tại Nhật Bản cũng như

giúp các doanh nghiệp trong việc tìm đối tác, mở rộng thị trường

2. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam

Như đã đề cập ở trên, quan hệ kinh tế -thương mại Việt Nam-Nhật Bản

được phân tích trên ba khía cạnh đầu tư, viện trợ phát triển chính thức và

buôn bán. Do nền kinh tế Việt Nam chưa phát triển nên trong phần này chỉ nói

về giải pháp phát triển thương mại giữa hai nước dưới góc độ doanh nghiệp.

Nhiều cơng ty nước ngồi đã nắm bắt được những nét đặc trưng của xã

hội Nhật Bản và những đặc điểm nổi bật của thị trường này. Họ cũng rất am

hiểu xu hướng tiêu dùng của người Nhật cũng như những qui định và bộ luật

liên quan của Nhật Bản. Cùng với những kiến thức của mình, họ đã thành

cơng trên thị trường Nhật Bản. Sau đây là một số nhận xét, đánh giá được đúc

kết bởi rất nhiều các cơng ty nước ngồi đã thành cơng trên đất Nhật, để từ đó

giúp các doanh nghiệp Việt Nam tìm ra con đường đi đến sự thành công.

-Thâm nhập thị trường Nhật Bản cần chiến lược lâu dài. Thị trường Nhật

Bản đòi hỏi một chiến lược với tầm nhìn sâu rộng. Điều này đạt được bằng

cách nghiên cứu kỹ các yếu tố như: dung lượng thị trường, các đối thủ cạnh

tranh, kênh phân phối, mức giá, giới hạn thời gian, những diễn biến đối với

người sử dụng và người tiêu dùng, những xu hướng nghiên cứu và phát triển.

Trước khi có thể thâm nhập thị trường Nhật Bản, các công ty phải điều tra

nghiên cứu thị trường này. Do đặc điểm của cơng việc, chính sách kinh doanh

và cách thức thành lập công ty ở Nhật, việc đưa ra quyết định ở Nhật thường

tốn nhiều thời gian hơn so với các nước khác. Việc tìm kiếm lợi nhuận nhanh

chóng tại thị trường Nhật Bản là điều khơng thích hợp. Điều cốt yếu là không



61



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



được bỏ cuộc giữa chừng, muốn thành cơng phải có sự quyết đốn và lòng

kiên trì.

-Lựa chọn đúng đối tác. Khi thành lập một công ty con hay một liên

doanh để thâm nhập thị trường Nhật Bản, chiến lược quản lý của phía đối tác

Nhật Bản sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động của công ty, những hoạt động

kinh doanh sau này của phía Nhật Bản cũng gây nhiều ảnh hưởng tương tự.

Câu hỏi chính ln được đặt ra là liệu có hay khơng sự tương đồng về triết lý

và chủ thuyết kinh doanh giữa hai bên. Nếu hai bên có sự tương đồng thì sự

hợp tác kinh doanh sẽ diễn ra trôi chảy, nhưng nếu hai bên có sự bất đồng thì

cần sớm có sự bàn bạc ( tham khảo ý kiến). Nếu rơi vào tình trạng trên, hai

bên cần có những cuộc tranh luận, bàn bạc, tham khảo để tăng cường sụ hiểu

biết lẫn nhau.

-Coi trọng chất lượng và hoạt động kinh doanh. Đối với các loại sản

phẩm, người tiêu dùng và người sử dụng Nhật Bản đòi hỏi cao về tiêu chuẩn.

Có một số cơng ty nước ngồi phàn nàn những tiêu chuẩn mà người Nhật Bản

đề ra là quá cao và việc đáp ứng những tiêu chuẩn và những yêu cầu đó là

khơng thể được vì q tốn kém. Tuy nhiên những công ty thành công ở Nhật

đều nhận ra rằng, người Nhật không bao giờ bỏ qua về mặt chất lượng. Các

cơng ty này nhận về mình trách nhiệm phải đáp ứng được những tiêu chuẩn

này và độ an toàn của hàng hoá đối với người tiêu dùng Nhật Bản.

-Nét độc đáo và khác biệt. Sự thật là một sản phẩm độc đáo tất nhiên sẽ

hấp dẫn khách hàng. Nhưng khách hàng sẽ còn bị cuốn hút hơn khi cơng ty đó

và sản phẩm của nó độc đáo, khác biệt với các sản phẩm của đối thủ cạnh

tranh. Để có được tính độc đáo của sản phẩm cần đầu tư cho các khâu quảng

cáo và tiếp thị, trình độ cơng nghệ, nghiên cứu và phát triển.Điều chủ yếu

phải tạo được sự khác biệt giữa cơng ty mình và đối thủ cạnh tranh, bí quyết ở

đây chính là tính sáng tạo.

-Đầu tư cho công nghệ, nghiên cứu và phát triển. Trong ngành sản xuất,

chế tạo, công ty cần phải quan tâm tới các hoạt động nghiên cứu- phát triển và

62



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN TRONG THỜI GIAN TỚI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×