Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



nghiệp phát triển, mặt hàng ôtô xuất khẩu hàng năm chiếm tỉ trọng lớn trong

tổng kim ngạch xuất khẩu nhưng hàng năm Mỹ vẫn nhập khẩu một lượng lớn

ôtô của Nhật, bởi vì mặt hàng này có khả năng đáp ứng cao nhu cầu sử dụng

của người dân như giá rẻ, tính năng ưu việt... Bên cạnh đó, thương mại quốc

tế còn giúp cho các nước kém phát triển, với cơng nghiệp còn lạc hậu được

tiêu dùng các sản phẩm có hàm lượng kĩ thuật cao, hiện đại mà nước đó chưa

sản xuất được.

Thương mại quốc tế làm thay đổi cơ cấu sản phẩm, cơ cấu ngành nghề, cơ

cấu vật chất của sản phẩm. Trước đây khi nền kinh tế của các quốc gia chưa

phát triển, nền sản xuất còn khép kín theo chế độ tự cấp tự túc thì hầu hết các

nước đều sản xuất những mặt hàng phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con

người như lương thực, thực phẩm... Khi xuất hiện trao đổi, các quốc gia có lợi

thế hơn trong sản xuất thì sản xuất nhiều hơn mức tiêu dùng trong nước để

đổi lấy các sản phẩm khác như may mặc, hàng công nghiệp... Những năm gần

đây, khi khoa học kĩ thuật đặc biệt là công nghệ trở thành yếu tố đi đầu của

lực lượng sản xuất thì người ta quan tâm nhiều hơn đến việc chế tạo những

sản phẩm có hàm lượng kĩ thuật cao, giảm càng nhiều càng tốt yếu tố vật chất

của sản phẩm. Trong mơi trường cạnh tranh tồn cầu gay gắt như hiện nay,

các sản phẩm như vậy mới có khả năng thu hút khách hàng và bán được hàng

ngày càng nhiều hơn.

Thực tế đã chứng minh rằng, không một quốc gia nào xây dựng được nền

kinh tế hoàn chỉnh mang tính tự cấp tự túc. Bởi vì, muốn làm được điều này

đòi hỏi phải mất nhiều thời gian, tốn kém về vật chất mà trong bối cảnh nền

kinh tế thế giới hiện nay, chi phí cơ hội để làm được điều đó còn lớn hơn

nhiều so với việc mở cửa nền kinh tế, liên kết, hợp tác với tất cả các nước để

cùng nhau phát triển kinh tế. Đối với các quốc gia còn kém phát triển về kinh

tế, nghèo nàn, lạc hậu về cơng nghệ thì thương mại quốc tế đem đến cho họ

cơ hội hoà nhập vào nền kinh tế thế giới, tránh nguy cơ tụt hậu. Hầu hết các

quốc gia này đều thiếu vốn, kĩ thuật, thị trường và khả năng quản lí, vì vậy

4



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



cần phải có các chính sách tạo điều kiện thuận lợi trong các lĩnh vực như thu

hút vốn đầu tư, chuyển giao cơng nghệ, sử dụng có hiệu quả các khoản vốn

vay...

2. Nguồn gốc của thương mại quốc tế

Có thể nói nhu cầu trao đổi xuất hiện từ thời cổ đại, nhưng chỉ từ khi ra đời

nền sản xuất hàng hoá tư bản chủ nghĩa mới dẫn đến sự phá vỡ tính chất đóng

kín của từng đơn vị kinh tế trong từng quốc gia và của từng nước.

Tiền đề xuất hiện sư trao đổi chính là phân cơng lao động xã hội. Sự tiến

bộ khoa học kĩ thuật, phạm vi chun mơn hố ngày càng tăng, số lượng sản

phẩm, dịch vụ để thoả mãn nhu cầu con người ngày càng dồi dào thì sự phụ

thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày càng tăng lên.

Theo quan điểm của chủ nghĩa trọng thương thì mỗi nước muốn đạt được

sự thịnh vượng phải gia tăng khối lượng tiền tệ, muốn có của cải, các nước

phải phát triển bn bán với nước ngồi.

Thương mại quốc tế còn bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiên của

các nước. Sự khác nhau về điều kiện sản xuất sẽ dẫn đến sự trao đổi giữa các

nước với nhau về những mặt hàng như dầu lửa, lương thực...

Theo lí thuyết lợi thế so sánh của nhà kinh tế học người Anh, David

RicaRdo, cho rằng nếu mỗi nước chun mơn hố vào các sản phẩm mà nước

đó có hiệu quả sản xuất so sánh thì thương mại sẽ có lợi cho cả hai bên.

Nguồn gốc của thương mại quốc tế còn do sự chênh lệch giữa các nước về

chi phí cơ hội của hàng hố tạo ra.

Sự khác nhau về sở thích và mức cầu cũng là một nguyên nhân để dẫn đến

buôn bán. Ngày nay, do những tiến bộ của khoa học kĩ thuật làm cho lượng

sản phẩm sản xuất ra ngày càng nhiều, qui mô sản xuất tăng, cơ cấu đa dạng,

cung gặp cầu dẫn đến có sự trao đổi.

Như vậy, có nhiều lí do làm xuất hiện sự buôn bán giữa các quốc gia. Trong

bối cảnh nền kinh tế thế giới hiện nay, xu hướng tồn cầu hố đang đưa các



5



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



nước ngày càng quan hệ chặt chẽ với nhau trên tất cả các lĩnh vực của đời

sống xã hội

3. Khu vực hoá, tồn cầu hố- mối quan hệ kinh tế quốc tế trong giai

đoạn hiện nay

Trong số các xu hướng mang tính toàn cầu nổi lên trong mấy thập niên gần

đây, xu hướng tồn cầu hố đang trở thành một đặc trưng phổ biến của sự

phát triển thế giới, nó bao trùm hầu hết mọi lĩnh vực của đời sống xã hội .

Tồn cầu hố kinh tế là hệ quả của những biến đổi trong lĩnh vực công nghệ

truyền thông và thông tin và chính ba nhân tố kĩ thuật, thơng tin và tiền vốn

lưu chuyển xuyên quốc gia đã trở thành các động lực thúc đẩy q trình tồn

cầu hố. Với nền kinh tế tồn cầu hố, việc tổ chức sản xuất và khai thác thị

trường trong phạm vi một nước đã nhanh chóng chuyển sang tổ chức sản xuất

và khai thác thị trường trên phạm vi thế giới và do vậy, sự phát triển kinh tế

của bất kì nước nào đều vượt ra khỏi biên giới quốc gia.

Tồn cầu hố là xu hướng tất yếu đã được dự đoán từ lâu. Về logic, xu

hướng này bắt nguồn từ bản chất của hệ thống kinh tế thị trường là hệ thống

“mở” không bị giới hạn bởi các đường biên giới quốc gia. Đây là kết quả của

q trình phân cơng lao động quốc tế được đẩy nhanh trong mấy thập niên

gần đây. Phân công lao động quốc tế đã đạt tới trình độ khơng chỉ chun

mơn hố sản phẩm hồn chỉnh mà là chun mơn hố chi tiết sản phẩm cho

từng quốc gia. Trên cơ sở đó xuất hiện hình thái quan hệ hợp tác, ràng buộc

và phụ thuộc lẫn nhau trong phân công lao động giữa các nước. Hiện nay sản

xuất của một nước phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động của một nước khác, bất

kể nước đó là phát triển hay kém phát triển và khơng còn tình trạng chỉ có

nước nhỏ, nước kém phát triển phụ thuộc một chiều, phụ thuộc tuyệt đối vào

các nước lớn, nước phát triển mà đã xuất hiện và gia tăng xu hướng ngược lại:

nước lớn, nước phát triển cũng phụ thuộc vào nước nhỏ, lạc hậu.



6



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



Về thị trường hàng hoá, từ năm 1950 đến nay, trong khi GDP của toàn

thế giới chỉ tăng 5 lần thì khối lượng thương mại quốc tế tăng 16 lần. Sự khác

biệt về tốc độ này bộc lộ xu thế gia tăng nhanh chóng hơn các mối liên kết

kinh tế giữa các nước so với mức tăng tiềm lực sản xuất. Các quốc gia mở

rộng nhanh chóng quan hệ kinh tế quốc tế, xích lại gần nhau hơn về kinh tế,

và do đó phụ thuộc vào nhau nhiều hơn làm cho quan hệ kinh tế quốc tế trở

nên tự do hơn, bình đẳng hơn.

Một bộ phận quan trọng khác của hệ thống thị trường thế giới là thị

trường tài chính cũngphát triển nhanh chóng. Thậm chí, trình độ tồn cầu hố

của thị trường tài chính đạt mức cao hơn nhiều so với thị trường sản phẩm.

Hàng ngày, lượng tiền tệ lưu chuyển trên thị trường tài chính thế giới cao gấp

30 lần khối lượng hàng hố lưu chuyển trên phạm vi toàn cầu. Trong khi mậu

dịch quốc tế của giai đoạn 1990- 1997 chỉ tăng 5%/năm thì dòng vốn tư nhân

lưu chuyển tăng 30%/năm. Điều này chỉ ra rằng tồn cầu hố hệ thống tài

chính đang là mũi nhọn của xu hướng tồn cầu hố nói chung, đồng thời cho

thấy các nước trên thế giới phụ thuộc rất chặt chẽ với nhau về tài chính.

Sự phát triển nhanh chóng của mạng lưới thơng tin tồn cầu tạo ra một số

chuyển biến quan trọng, kết nối tất cả các quốc gia, các vùng địa lí trên trái

đất vào một hệ thống, đồng thời làm đẩy nhanh tốc độ vận động của các qúa

trình kinh tế- xã hội- chính trị- qn sự- văn hố tồn cầu. Như vậy mạng lưới

thơng tin là một khâu của xu hướng tồn cầu hố, đồng thời đóng vai trò là

cơng cụ, là phương thức đẩy nhanh xu hướng đó.

Những năm 1996- 1997 là điểm khởi đầu của những nỗ lực toàn cầu

nhằm thử nghiệm và khởi động một số quan hệ hợp tác phù hợp với xu thế

thời đại. Xu hướng tự do hoá thương mại và đầu tư được thúc đẩy bởi sự gia

tăng mạnh mẽ các hoạt động của các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực hiện

có cũng như đang hình thành. Các khối, tổ chức kinh tế ngày càng đóng vai

trò quan trọng trong các cuộc thương lượng, sắp xếp và giải quyết các vấn đề

khu vực và quốc tế trong việc thúc đẩy tự do hố và giao lưu kinh tế tồn cầu.

7



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



Bất kì nước nào muốn phát triển được trong tương lai đều phải tìm cách trở

thành thành viên của ít nhất một tổ chức kiểu như vậy. Q trình tồn cầu hố

đã dẫn tới việc hình thành các khối kinh tế- mậu dịch khu vực. Đây là xu

hướng vừa thuận chiều vừa ngược chiều với q trình tồn cầu hố. Là thuận

chiều theo nghĩa khu vực hoá là một bước, một khâu đệm trong lộ trình gia

nhập vào hệ thống tồn cầu của mỗi nước. Là ngược chiều ở chỗ trong khuôn

khổ xu hướng toàn cầu, với các qui tắc mở cửa, tự do hố và quan hệ bình

đẳng giữa các nước thì khu vực hố lại có nghĩa là phân chia thế giới theo

mảng, khối tạo ra sự phân biệt đối xử mang tính khu vực trong cuộc cạnh

tranh khơng ngang bằng về thể chế giữa nhóm nước trong khu vực với các

nước và nhóm nước ngồi khu vực. Nhưng dẫu sao khu vực hoá cũng đang là

một xu thế tất yếu, thậm chí là xu thế nổi bật trong giai đoạn hiện nay.

Đối với nước ta, với bước chuyển mình sang nền kinh tế thị trường, xu

hướng này tác động mạnh, có ảnh hưởng sâu sắc, tồn diện đến tất cả các khía

cạnh của đời sống kinh tế -chính trị- xã hội. Hiện nay, càng tiến sâu vào quá

trình hội nhập quốc tế, chúng ta càng cảm nhận rõ hơn những mặt tích cực

cũng như tiêu cực của q trình này. Nhưng nổi bật lên trên hết là những

thách thức to lớn và gay gắt mà xu hướng này đặt ra. Những ảnh hưởng của

cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ, những vấn đề về cạnh tranh phải đối mặt

khi gia nhập AFTA hay các thách thức Việt Nam gặp phải khi tham gia các tổ

chức quốc tế khác: APEC, WTO... đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu một cách

tồn diện, triệt để những cơ hội và thách thức mà vấn đề tồn cầu hố đặt ra

để thiết kế đường lối và hoạch định chiến lược phát triển của đất nước trong

thời gian tới.

II. QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN, SỰ CẦN THIẾT PHÁT

TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ,THƯƠNG MẠI VIỆT NAM-NHẬT BẢN

1.Một số đặc điểm về đất nước Nhật Bản.

1.1Đất nước Nhật Bản

8



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



Quần đảo Nhật Bản nằm ở phía Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương, bao

gồm hơn 3300 đảo với tổng diện tích là 378000 km 2. Nhật Bản là một nước

nghèo tài nguyên nhưng lại giàu phong cảnh.

Về vị trí địa lí, Nhật Bản nằm ngay trên “vành đai lửa” Thái Bình Dương

nên điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như núi lửa, động đất, sóng thần là những

hiểm hoạ mà người dân Nhật ln phải gánh chịu. Biển cả đóng một vai trò

quan trọng trong đời sống cũng như cho nền kinh tế Nhật. Nhật Bản có những

bãi cá tự nhiên giàu trữ lượng nhất trên thế giới nên ngành công nghiệp đánh

hải sản cũng rất phát triển. Bên cạnh đó, biển còn đóng vai trò quan trọng

trong hoạt động giao thơng vận tải, giao lưu thương mại trong nước cũng như

quốc tế.

Nhật Bản có rất ít tài ngun, khống sản. Mặc dù Nhật Bản có một số mỏ

than nhưng chất lượng khơng tốt và chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu trong

nước. Hầu hết các nguyên nhiên liệu chiến lược cần cho công nghiệp hiện đại

và cuộc sống hàng ngày đều phải nhập từ các nước.

1.2 Con người Nhật Bản

Theo số liệu năm 1999 Nhật Bản có 126,7 triệu dân, đứng thứ 7 trên thế

giới. Nhưng với diện tích tương đối nhỏ, mật độ dân số của Nhật Bản là 335

người/ 1km2. Dân cư Nhật Bản có độ thuần nhất rất cao và phân bố không

đều. Điều kiện tự nhiên buộc họ phải tập trung ở những vùng đất chật hẹp như

các vùng đồng bằng ven biển, các lưu vực sông.

1.3. Về văn hố, tơn giáo và phong tục tập qn của người dân Nhật Bản

Đặc điểm nổi bật của văn hoá Nhật Bản là sự tồn tại song song của các yếu

tố truyền thống và hiện đại. Trước đây, tư tưởng của người Nhật Bản chịu

nhiều ảnh hưởng của Khổng giáo nhưng sau phục hưng Minh Trị, các tư

tưởng phương Tây đã được du nhập và hiện nay để lại dấu ấn sâu sắc trong

kiến trúc nhà ở, thói quen ăn uống kiểu châu Âu. Một nét khác về văn hoá

9



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



Nhật Bản được thể hiện trong cách nghĩ và làm việc tập thể. Họ thường gạt bỏ

cái tôi, đề cao cái chung, tìm sự hồ hợp giữa cá nhân và cộng đồng. Về mặt

tơn giáo, ở Nhật Bản có nhiều tơn giáo khác nhau. Có thể thấy Nhật Bản và

Việt Nam có nhiều nét tương đồng, cùng chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung

Quốc, thể hiện ở tư tưởng Khổng giáo và Phật giáo. Đây là một trong những

điều kiện thuận lợi trong quan hệ giữa hai nước không chỉ về mặt văn hố mà

còn về mặt kinh tế, chính trị.

1.4 Khái quát tình hình phát triển kinh tế Nhật Bản

Bắt đầu từ năm 710, Nhật Bản bước vào giai đoạn phong kiến chủ nghĩa.

Trong thời kì này, kinh tế Nhật Bản chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp trồng

lúa, về cơ bản người ta dễ dàng cho rằng đó là nền kinh tế tự cấp tự túc, hoạt

động trao đổi chủ yếu là hàng đổi hàng, ít dùng tiền tệ. Trên thực tế, do có nền

chính trị ổn định nên vào giai đoạn cuối của thời kì phong kiến chủ nghĩa,

Nhật Bản đã có một nền kinh tế hàng hố phát triển tương đối rộng khắp, làm

lung lay những nền tảng của chế độ phong kiến. Khi Nhật Bản chuyển sang

giai đoạn cải cách Minh Trị, chính quyền Minh Trị đã thực hiện nhiều cuộc

cải cách sâu rộng trên tất cả các mặt của đời sống kinh tế - xã hội nhằm hai

mục tiêu chiến lược: hiện đại hoá quân sự và phát triển kinh tế. Thời gian này,

Nhật Bản có chủ trương học tập kinh nghiệm, tiếp thu các thành tựu của

phương Tây và nhờ vậy đã đạt được cả hai mục tiêu chiến lược của mình.

Kinh tế thời kì này phát triển nhanh chóng, thu nhập quốc dân tăng 3 lần từ

năm 1890 đến 1912. Đến cuối thời Minh Trị, những khó khăn ban đầu của

q trình cơng nghiệp hoá đã được khắc phục. Tuy đã đạt được nhiều thành

tựu đáng kể trong giai đoạn 1868- 1911 nhưng nền kinh tế Nhật Bản chỉ thực

sự cất cánh kể từ giai đoạn 1912- 1936. Đây là giai đoạn nền kinh tế Nhật Bản

chuyển mạnh từ nền kinh tế nông - công nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp

tư bản, nơng nghiệp chỉ giữ vai trò hỗ trợ cho q trình cơng nghiệp hố. Sau

chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế Nhật Bản hoàn toàn kiệt quệ do thiếu

10



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



nguyên - nhiên liệu cơ bản phục vụ cho công nghiệp. Mặt khác Nhật Bản là

nước thua trận nên phải bồi thường chiến tranh cho các nước đồng minh.

Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành nhiều cải cách, thủ tiêu độc quyền, dân chủ

hoá lao động và ban hành chính sách về tài chính tiền tệ nhằm khắc phục

tình trạng thất nghiệp( 20%), siêu lạm phát (8000%). Cùng với tác động tích

cực của các yếu tố bên ngồi, đến năm 1951, về cơ bản Nhật Bản đã phục hồi

được mức sản xuất trước chiến tranh và có thể tự quyết định chính sách kinh

tế cuả mình. Giai đoạn 1952- 1973 là thời kì tăng trưởng thần kì của nền

kinh tế Nhật Bản, và đến năm 1968 Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế

lớn thứ hai sau Mỹ.

Tuy nhiên nền kinh tế Nhật Bản vẫn mang tính chất khơng ổn định do phụ

thuộc gần như hoàn toàn vào nguồn ngun nhiên liệu nước ngồi. Từ năm

1974, sự thần kì của nền kinh tế Nhật Bản đã thực sự chấm dứt. GDP thời kì

này biến động thất thường và thấp hơn hẳn những kì trước. Nguyên nhân sâu

xa của tình trạng này là do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng năng lượng của

thế giới thời kì 1973- 1975. Chính phủ Nhật Bản lại một lần nữa tiến hành cải

cách, mở rộng nhu cầu trong nước, chuyển dịch cơ cấu kinh tế cho phù hợp

với nền kinh tế thế giới và những biện pháp này đã tỏ ra có hiệu quả. Nền

kinh tế Nhật Bản đã chuyển từ cơ cấu tăng trưởng chủ yếu dựa vào thị trường

nước ngoài sang cơ cấu tăng trưởng chủ yếu do nhu cầu nội địa thúc đẩy, từ

đó khắc phục được những ảnh hưởng tiêu cực do đồng Yên lên giá gây ra.

Tuy nhiên từ năm 1992 cho đến nay, Nhật Bản ln chìm sâu vào khủng

hoảng trì trệ. Tăng trưởng kinh tế trung bình thời 1992-1995 đạt 1,4%. Đến

năm 1996, tình hình phát triển kinh tế có khả quan hơn và đạt mức 3,6%.

Năm 1997 tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm mạnh, thậm chí đạt mức tăng

trưởng âm - 0,7% và giảm xuống mức - 1,8% năm 1998. Năm 1999, chỉ tiêu

này của Nhật Bản là 0,5% và năm 2000 là 1,2%.Vài năm trở lại đây, nền kinh

tế Nhật mặc dù chưa lấy lại được vị trí quan trọng trong phát triển kinh tế của



11



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



các nước trong khu vực nhưng phần nào có dấu hiệu phục hồi và đang dần

khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra gần đây.

Khi đề cập đến nền kinh tế Nhật Bản, yếu tố cơng nghệ khơng thể khơng

được nói đến bởi vì cơng nghệ là thế mạnh và làm nên sức cạnh tranh của các

sản phẩm Nhật trên trường quốc tế. Một số ngành công nghiệp của Nhật như

sản xuất ôtô, sản xuất thép và tự động hoá công nghiệp được coi là đứng đầu

thế giới. Nhưng về các lĩnh vực khác như vũ trụ, năng lượng, viễn thông,

công nghệ bảo vệ mơi trường... thì Nhật Bản còn kém xa các nước như Mỹ,

Nga...

Vấn đề đặt ra đối với kinh tế Nhật Bản là phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế

để thích ứng kịp thời với những biến đổi to lớn của tình hình thế giới cũng

như trong nuớc, xứng đáng với vai trò cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới

sau Mỹ.

1.5.Ngoại thương của Nhật Bản

Do những hạn chế về các điều kiện tự nhiên, Nhật Bản không đủ tài

nguyên để đáp ứng nhu cầu trong nước, vì vậy trong lịch sử kinh tế Nhật Bản,

ngoại thương đóng vai trò cực kì quan trọng, là động lực thúc đẩy nền kinh tế

phát triển. Trong thời kì đầu của q trình cơng nghiệp hố, việc xuất khẩu

những sản phẩm công nghiệp nhẹ như hàng dệt, may mặc đã là tiền đề cho

việc nhập khẩu những mặt hàng máy móc, cơng nghệ phục vụ cho cơng

nghiệp hố. Trong thời gian sau đó, việc nhập khẩu ngun nhiên liệu thơ để

tiến hành gia cơng trong nước sau đó tái xuất khẩu là chính sách đúng đắn và

mang lại thành cơng to lớn cho kinh tế Nhật. Tuy nhiên, sau khi gặp nhiều

khó khăn bắt nguồn từ tác động của các cuộc khủng hoảng nguyên nhiên liệu,

chính sách ngoại thương của Nhật Bản đã có nhiều thay đổi. Một mặt, Nhật

Bản tiến hành đa phương hoá nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu, mở rộng địa

bàn xuất khẩu, tránh tập trung xuất khẩu vào một số nước, một số khu vực, đa

dạng hoá mặt hàng xuất khẩu giảm tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào một số

12



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



mặt hàng. Những biện pháp này đã giúp Nhật Bản giảm bớt được tác động

của yếu tố bên ngoài. Mặt khác, Nhật Bản vẫn tiếp tục bảo hộ nền sản xuất

trong nước bằng các hàng rào thuế quan và phi thuế quan nghiêm ngặt. Vào

những năm gần đây, trong bối cảnh nền kinh tế thế giới tăng trưởng chậm do

ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực,

ngoại thương của Nhật cũng rơi vào tình trạng trì trệ. Nhìn chung xuất khẩu

giảm sút ở hầu hết tất cả các mặt hàng. Nhập khẩu của Nhật Bản cũng suy

giảm nghiêm trọng. Hầu hết nhập khẩu của Nhật từ các thị trường đều giảm,

trong đó giảm mạnh nhất từ khu vực các nước ASEAN, các nước NICs Châu

Á. Đối với các mặt hàng nhập khẩu, dầu thô luôn là mặt hàng chiếm tỉ trọng

lớn trong kim ngạch nhập khẩu giảm mạnh 36%

2.Tình hình phát triển kinh tế Việt Nam những năm qua

Quá trình phát triển và mở rộng thương mại quốc tế của Việt Nam gắn liền

với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc thời kì trước đây và

gắn liền với công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế đi lên theo định hướng xã

hội chủ nghĩa trong mấy chục năm trở lại đây.

2.1 Kinh tế Việt Nam trước cách mạng tháng 8-1945.

Thời kì này, nền kinh tế Việt Nam là một nền kinh tế nông nghiệp tự cấp,

tự túc, lại thường xuyên bị nạn ngoại xâm nên không thể có sự phân cơng lao

động xã hội cao trong nông nghiệp để thúc đẩy thủ công nghiệp phát triển một

cách mạnh mẽ.

Sản xuất hàng hố mang tính chất giản đơn, trong khi thị trường chật hẹp.

Trong nhiều thế kỷ, tình hình kinh tế trong nước ở trạng thái khan hiếm sản

phẩm. Quan hệ buôn bán của Việt Nam thời kỳ phong kiến chủ yếu là với

Trung Quốc, Nhật Bản, Hà Lan, Bồ Đào Nha... Hàng hoá bán ra bao gồm

nơng lâm hải sản q hiếm có sẵn trong tự nhiên như ngà voi, nấm hương..,



13



Lh SĐT 0353.764.719 để mua tài liệu bằng thẻ cào điện thoại!



hàng thủ công như lụa, đồ mỹ nghệ...Hàng hố bn bán với các nước không

phải do công nghiệp sản xuất ra mà chỉ là những sản phẩm thủ công, phụ

thuộc vào người mua đặt hàng. Thời kì này, hàng hố mua vào chia làm ba

loại: để thoả mãn tiêu dùng xa hoa của vua quan phong kiến như lụa là, gấm

vóc hổ phách..., để gìn giữ xã tắc như vũ khí..., để phục vụ tiêu dùng trong

nhân dân như gương lược, thuốc men..

Nhìn chung, tính chất của thương mại quốc tế thời kì này khơng có cơ sở

kinh tế bên trong thúc đẩy, hoạt động thương mại quốc tế hầu như chỉ mang

tính bị động.

Sang thời kỳ Pháp thuộc, dưới sự thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam là

một thuộc địa kém phát triển nhất trong các thuộc địa ở Châu Á của Pháp.

Trước chiến tranh thế giới thứ hai, lúc mà Việt Nam đạt mức phát triển cao

nhất dưới thời Pháp thuộc, nền kinh tế nước ta vẫn là một nền kinh tế nông

nghiệp lạc hậu, canh tác theo kĩ thuật cổ truyền. Còn cơng nghiệp tập trung

vào khai thác tài ngun thiên nhiên ( chủ yếu là ngành khai khống); cơng

nghiệp chế biến nhỏ bé, tập trung vào những ngành sử dụng nhiều lao động và

nguyên liệu tại chỗ hoặc những ngành đầu tư ít vốn, thu nhiều lợi nhuận, thu

hồi vốn nhanh. Với nền kinh tế như vậy, thương mại quốc tế kém phát triển cả

về quy mô, chủng loại mặt hàng và thị trường. Xuất khẩu chủ yếu của nước ta

thời kỳ này là nơng sản và khống sản với 3 mặt hàng chủ yếu là gạo, cao su

và than đá. Nhập khẩu chủ yếu là hàng tiêu dùng và một số nguyên liệu như

xăng dầu, bông vải. Máy móc thiết bị cũng có nhập nhưng chiếm tỷ lệ thấp, từ

1,4% đến 8,8%.

2.2. Kinh tế Việt Nam từ 1946 đến 1986.

Sau khi giành được độc lập, chính quyền non trẻ của chúng ta gặp phải rất

nhiều khó khăn về tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế chính trị, xã hội.

Cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ lớn: vừa cải tạo và xây dựng kinh

tế, phát triển văn hoá vừa phải tiến hành chiến tranh chống Mỹ cứu nước, xây

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHÁT TRIỂN QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×