Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Tải bản đầy đủ - 0trang

sản xuất. Do đó nó là cơng cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh.

- PTKD giúp DN nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mạnh cũng như những



hạn chế trong DN của mình. Chính trên cơ sở này các DN sẽ xác định đúng đắn mục

tiêu và chiến lược kinh doanh có hiệu quả.

- PTKD là công cụ quan trọng trong chức năng quản trị, là cơ sở để đề ra các



quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là trong các chức năng kiểm tra,

đánh giá và điều hành hoạt động SXKD trong DN.

- Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa và



ngăn chặn những rủi ro có thể xảy ra.

- Tài liệu PTKD còn rất cần thiết cho các đối tượng bên ngồi, khi họ có các



mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với DN, vì thơng qua phân tích họ mới có thể có

quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, cho vay...đối với DN nữa hay không?

1.1.3. Ðối tượng

Với tư cách là một khoa học độc lập, PTKD có đối tượng riêng:

“Đối tượng của phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình và kết quả của hoạt

động kinh doanh cùng với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến q trình và kết

quả đó, được biểu hiện thơng qua các chỉ tiêu kinh tế”

Kết quả kinh doanh mà ta nghiên cứu có thể là kết quả của từng giai đoạn riêng

biệt như kết quả mua hàng, kết quả sản xuất, kết quả bán hàng... hay có thể là kết quả

tổng hợp của quá trình kinh doanh, kết quả tài chính...v.v

Khi phân tích kết quả kinh doanh, người ta hướng vào kết quả thực hiện các

định hướng mục tiêu kế hoạch, phương án đặt ra.

Kết quả kinh doanh thông thường được biểu hiện dưới các chỉ tiêu kinh tế. Chỉ

tiêu là sự xác định về nội dung và phạm vi của các kết quả kinh doanh. Nội dung chủ

yếu của phân tích kết quả là phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh mà DN đã đạt

được trong kỳ, như doanh thu bán hàng, giá trị sản xuất, giá thành, lợi nhuận...Tuy

nhiên, khi phân tích các chỉ tiêu kết quả kinh doanh chúng ta phải luôn luôn đặt trong

mối quan hệ với các điều kiện (yếu tố) của quá trình kinh doanh như lao động, vật tư,

tiền vốn, diện tích đất đai...vv. Ngược lại, chỉ tiêu chất lượng phản ánh lên hiệu quả

kinh doanh hoặc hiệu suất sử dụng các yếu tố kinh doanh như giá thành, tỷ suất chi

phí, doanh lợi, năng suất lao động...vv.



7



Dựa vào mục đích phân tích mà chúng ta cần sử dụng các loại chỉ tiêu khác

nhau, cụ thể: Chỉ tiêu số tuyệt đối, chỉ tiêu số tương đối, chỉ tiêu bình quân. Chỉ tiêu số

tuyệt đối dùng để đánh giá quy mô kết quả kinh doanh hay điều kiện kinh doanh. Chỉ

tiêu số tương đối dùng trong phân tích các mối quan hệ giữa các bộ phận, các quan hệ

kết cấu, quan hệ tỷ lệ và xu hướng phát triển. Chỉ tiêu bình quân phản ánh trình độ phổ

biến của các hiện tượng.

Tuỳ mục đích, nội dung và đối tượng phân tích để có thể sử dụng các chỉ tiêu

hiện vật, giá trị, hay chỉ tiêu thời gian. Ngày nay, trong kinh tế thị trường các DN

thường dùng chỉ tiêu giá trị. Tuy nhiên, các DN sản xuất, DN chuyên kinh doanh một

hoặc một số mặt hàng có quy mơ lớn vẫn sử dụng kết hợp chỉ tiêu hiện vật bên cạnh

chỉ tiêu giá trị. Trong phân tích cũng cần phân biệt chỉ tiêu và trị số chỉ tiêu. Chỉ tiêu

có nội dung kinh tế tương đối ổn định, còn trị số chỉ tiêu luôn luôn thay đổi theo thời

gian và địa điểm cụ thể.

Phân tích kinh doanh khơng chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả kinh doanh

thông các chỉ tiêu kinh tế mà còn đi sâu nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả

kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đó. Một cách chung nhất, nhân tố là những yếu tố

bên trong của mỗi hiện tượng, q trình...và mỗi biến động của nó tác động trực tiếp

hoặc gián tiếp ở một mức độ và xu hướng xác định đến các kết quả biểu hiện các chỉ

tiêu.

Ví dụ: Doanh thu bán hàng phụ thuộc vào lượng bán hàng ra, giá cả bán ra và

cơ cấu tiêu thụ. Ðến lượt mình, khối lượng hàng hố bán ra, giá cả hàng hoá bán ra,

kết cấu hàng hoá bán ra lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau như khách quan,

chủ quan, bên trong, bên ngoài...vv.

Theo mức độ tác động của các nhân tố, chúng ta có thể phân loại các nguyên

nhân và nhân tố ảnh hưởng thành nhiều loại khác nhau, trên các góc độ khác nhau.

Trước hết theo tính tất yếu của các nhân tố: có thể phân thành 2 loại: Nhân tố khách

quan và nhân tố chủ quan.

Nhân tố khách quan là loại nhân tố thường phát sinh và tác động như một yêu

cầu tất yếu nó khơng phụ thuộc vào chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh. Kết quả

hoạt động của mỗi DN có thể chịu tác động bởi các nguyên nhân và nhân tố khách

quan như sự phất triển của lực lượng sản xuất xã hội, luật pháp, các chế độ chính sách



8



kinh tế xã hội của Nhà nước, môi trường, vị trí kinh tế xã hội, về tiến bộ khoa học kỹ

thuật và ứng dụng. Các nhân tố này làm cho giá cả hàng hố, giá cả chi phí, giá cả dịch

vụ thay đổi, thuế suất, lãi suất, tỷ suất tiền lương...cũng thay đổi theo.

Nhân tố chủ quan là nhân tố tác động đến đối tượng nghiên cứu phụ thuộc vào nỗ

lực chủ quan của chủ thể tiến hành kinh doanh. Những nhân tố như: trình độ sử dụng lao

động, vật tư, tiền vốn, trình độ khai thác các nhân tố khách quan của DN làm ảnh hưởng

đến giá thành, mức chi phí thời gian lao động, lượng hàng hố, cơ cấu hàng hố...vv.

Theo tính chất của các nhân tố có thể chia ra thành nhóm nhân tố số lượng và

nhóm các nhân tố chất lượng.

Nhân tố số lượng phản ánh quy mô kinh doanh như: Số lượng lao động, vật tư,

lượng hàng hoá sản xuất, tiêu thụ... Ngược lại, nhân tố chất lượng thường phản ánh

hiệu suất kinh doanh như: Giá thành, tỷ suất chi phí, năng suất lao động...Phân tích kết

quả kinh doanh theo các nhân tố số lượng và chất lượng vừa giúp ích cho việc đánh

giá chất lượng, phương hướng kinh doanh, vừa giúp cho việc xác định trình tự

sắp xếp và thay thế các nhân tố khi tính tốn mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến

kết quả kinh doanh.

Theo xu hướng tác động của nhân tố, thưòng người ta chia ra các nhóm nhân

tố tích cực và nhóm nhân tố tiêu cực.

Nhân tố tích cực là những nhân tố tác động tốt hay làm tăng độ lớn của hiệu quả

kinh doanh và ngược lại nhân tố tiêu cực tác động xấu hay làm giảm quy mơ của kết

quả kinh doanh. Trong phân tích cần xác định xu hướng và mức độ ảnh hưởng tổng

hợp của các nhân tố tích cực và tiêu cực.

Nhân tố có nhiều loại như đã nêu ở trên, nhưng nếu quy về nội dung kinh tế thì

có hai loại: Nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh và nhân tố thuộc về kết quả kinh

doanh. Những nhân tố thuộc về điều kiện kinh doanh như: Số lượng lao động, lượng

hàng hoá, vật tư, tiền vốn...ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô kinh doanh. Các nhân tố

thuộc về kết quả kinh doanh ảnh hưởng suốt quá trình kinh doanh từ khâu cung ứng

vật tư đến việc tổ chức quá trình sản xuất cho đến khâu tiêu thụ sản phẩm và từ đó ảnh

hưởng đến kết quả tổng hợp của kinh doanh như nhân tố giá cả hàng hố, chi phí, khối

lượng hàng hố sản xuất và tiêu thụ.

Như vậy, tính phức tạp và đa dạng của nội dung phân tích được biểu hiện qua



9



hệ thống các chỉ tiêu kinh tế đánh giá kết quả kinh doanh. Việc xây dựng tương đối

hoàn chỉnh hệ thống các chỉ tiêu với cách phân biệt hệ thống chỉ tiêu khác nhau, việc

phân loại các nhân tố ảnh hưởng theo các góc độ khác nhau khơng những giúp cho DN

đánh giá một cách đầy đủ kết quả kinh doanh, sự nỗ lực của bản thân DN, mà còn tìm

ra được ngun nhân, các mặt mạnh, mặt yếu để có biện pháp khắc phục nhằm nâng

cao hiệu quả kinh doanh.

Khi phân tích kết quả kinh doanh biểu hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế dưới sự tác

động của các nhân tố mới chỉ là quá trình “định tính”, cần phải lượng hố các chỉ tiêu

và nhân tố ở những trị số xác định với độ biến động xác định. Ðể thực hiện được cơng

việc cụ thể đó, cần nghiên cứu khái quát các phương pháp trong phân tích kinh doanh.

1.2. Các phương pháp phân tích tình hình tài chính

1.2.1. Phương pháp chung

Là phương pháp xác định trình tự bước đivà những nguyên tắc cần phải quán

triệt khi tiến hành phân tích một chỉ tiêu kinh tế nào đó.

Với phương pháp này là sự kết hợp triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch

sử của triết học Mác- LêNin làm cơ sở. Đồng thời phải dựa vào các chủ trương, chính

sách của Đảng trong từng thời kỳ. Phải phân tích đi từ chung đến riêng và phải đo

lường được sự ảnh hưởng và phân loại ảnh hưởng.

Tất cả các điểm trên phương pháp chung nêu trên chỉ được thực hiện khi kết hợp nó

với việc sử dụng một phương pháp cụ thể. Ngược lại các phương pháp cụ thể muốn phát

huy tác dụng phải quán triệt yêu cầu của phương pháp chung.

1.2.2. Các phương pháp cụ thể

Đó là những phương pháp phải sử dụng những cách thức tính tốn nhất định.

Trong phân tích tình hình tài chính, cũng như phạm vi nghiên cứu của luận văn, em

xin được đề cập một số phương pháp sau:

1.2.2.1. Phương pháp so sánh

So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để xác định xu

hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Vì vậy để tiến hành so sánh phải giải

quyết những vấn đề cơ bản, cần phải đảm bảo các điều kiện đồng bộ để có thể so sánh

được các chỉ tiêu tài chính. Như sự thống nhất về khơng gian, thời gian, nội dung, tính

chất và đơn vị tính tốn. Đồng thời theo mục đích phân tích mà xác định gốc so sánh.



10



- Khi nghiên cứu nhịp độ biến động, tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu số gốc để

so sánh là trị số của chỉ tiêu kỳ trước (nghĩa là năm nay so với năm trước) và có thể

được lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình qn.

- Kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo, kỳ kế hoạch.

- Gốc so sánh được chọn là gốc về thời gian hoặc không gian.

Trên cơ sở đó, nội dung của phương pháp so sánh bao gồm:

+ So sánh kỳ thực hiện này với kỳ thực hiện trước để đánh giá sự tăng hay giảm

trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và từ đó có nhận xét về xu hướng thay

đổi về tài chính của doanh nghiệp.

+ So sánh số liệu thực hiện với số liệu kế hoạch, số liệu của doanh nghiệp với số

liệu trung bình của ngành, của doanh nghiệp khác để thấy mức độ phấn đấu của doanh

nghiệp được hay chưa được.

+ So sánh theo chiều dọc để xem tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với tổng thể, so

sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự thay đổi về lượng và về tỷ lệ của

các khoản mục theo thời gian.

1.2.2.2. Phương pháp cân đối

Là phương pháp mô tả và phân tích các hiện tượng kinh tế mà giữa chúng tồn tại

mối quan hệ cân bằng hoặc phải tồn tại sự cân bằng.

Phương pháp cân đối thường kết hợp với phương pháp so sánh để giúp người

phân tích có được đánh giá tồn diện về tình hình tài chính.

Phương pháp cân đối là cơ sở sự cân bằng về lượng giữa tổng số tài sản và tổng

số nguồn vốn, giữa nguồn thu, huy động và tình hình sử dụng các loại tài sản trong

doanh nghiệp. Do đó sự cân bằng về lượng dẫn đến sự cân bằng về sức biến động về

lượng giữa các yếu tố và quá trình kinh doanh.

1.2.2.3. Phương pháp phân tích tỷ lệ

Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính vì nó dựa

trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài

chính.

Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và

phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo

từng giai đoạn. Qua đó nguồn thơng tin kinh tế và tài chính được cải tiến và cung cấp



11



đầy đủ hơn. Từ đó cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy q trình tính tốn hàng loạt

các tỷ lệ như:

+ Tỷ lệ về khả năng thanh toán : Được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các

khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.

+ Tỷ lệ và khả năng cân đối vốn, cơ cấu vốn và nguồn vốn: Qua chỉ tiêu này

phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính.

+ Tỷ lệ về khả năng hoạt động kinh doanh : Đây là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho

việc sử dụng nguồn lực của doanh nghiệp.

+ Tỷ lệ về khả năng sinh lời: Phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp

nhất của doanh nghiệp.

Kết luận: Các phương pháp trên nhằm tăng hiệu quả phân tích. chúng ta sẽ sử

dụng kết hợp và sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác như phương pháp liên

hệ phương pháp loại trừ nhằm tận dụng đầy đủ các ưu điểm của chúng để thực hiện

mục đích nghiên cứu một cách tốt nhất.

1.3. Hệ thống báo cáo tài chính

1.3.1. Phân tích bảng cân đối kế tốn

Bảng cân đối kế tốn là báo cáo tài chính tổng thể, là bảng tổng hợp - cân đối

tổng thể phản ánh tổng hợp tình hình vốn kinh doanh của đơn vị cả về tài sản và nguồn

vốn hiện có của đơn vị ở một thời điểm nhất định. Thời điểm quy định là ngày cuối

cùng của một kỳ báo cáo.

Thực chất của bảng cân đối kế toán là bảng cân đối giữa tài sản và nguồn hình

thành tài sản của doanh nghiệp cuối kỳ hạch toán. Số liệu trên Bảng cân đối kế tốn

cho biết tồn bộ giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp theo cơ cấu tài sản , nguồn

vốn, và cơ cấu nguồn vốn hình thành các tài sản đó. Căn cứ vào Bảng cân đối kế tốn,

ta có thể nhận xét, đánh giá khái qt tình hình tài chính của doanh nghiệp.



12



1.3.2. Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh

tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ hoạt động của doanh nghiệp và

chi tiết cho các hoạt động kinh doanh chính. Nói cách khác báo cáo kết quả hoạt động

kinh doanh là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp.

1.3.3. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn gọi là báo cáo ngân lưu hay báo cáo lưu kim, là

báo cáo tài chính cần thiết khơng chỉ đối với các nhà quản trị hoặc giám đốc tài chính

của doanh nghiệp. Kết quả phân tích ngân lưu giúp doanh nghiệp điều phối lượng tiền

mặt một cách cân đối giữa các lĩnh vực : Hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và

hoạt động tài chính. Nói một cách khác, báo cáo ngân lưu chỉ rac các hoạt động nào

tạo ra tiền, lĩnh vực nào sử dụng tiền, khả năng thanh toán,lượng tiền thừa thiếu và thời

điểm cần sử dụng để hiểu quả cao nhất, tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn.

1.3.4. Thuyết minh báo cáo tài chính

Báo cáo thuyết minh là báo cáo được trình bày bằng lời văn nhằm giải thích chi

tiết về nội dung thay đổi về tài sản, nguồn vốn mà các dữ liệu bằng số trong báo cáo

tài chính khơng thể được hết.

1.4. Phân tích đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.4.1. Phân tích tình hình tài chính thơng qua bảng cân đối kế tốn

Khi phân tích bảng cân đối kế toán, chúng ta sẽ xem xét và nghiên cứu các vấn

đề cơ bản sau:

- Xem xét sự biến động của tổng tài sản và của từng loại tài sản. Qua đó thấy

được quy mơ kinh doanh, năng lực kinh doanh của cơng ty.

- Xem xét cơ cấu có hợp lý khơng? Cơ cấu vốn có tác động như thế nào đến quá

trình kinh doanh.

- Khái quát xác định mức độ độc lập (hoặc phụ thuộc) về mặt tài chính của doanh

nghiệp.

- Xem xét mối quan hệ cân đối giữa các chi tiêu, các khoản mục.



13



- Phân tích các chi tiêu phản ánh khả năng thanh toán và cấu trúc tài chính

1.4.2. Phân tích tình hình tài chính thơng qua bảng báo cáo kết quả kinh doanh

Khi phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, chúng ta sẽ xem xét và

nghiên cứu các vấn đề cơ bản sau:

- Xem xét sự biến động từng chỉ tiêu trên phần lãi, lỗ giữa năm này với năm

trước. Đặc biệt chú ý đến doanh thu, doanh thu thuần, lợi nhuận gộp, lợi nhuận thuần,

lợi nhuận trước thuế và lợi nhuận sau thuế.

- Tính tốn phân tích các chỉ tiêu phản ánh mức độ sử dụng các khoản chi phí,

kết quả kinh doanh của cơng ty.

1.5. Các chỉ tiêu phân tích tình hình tài chính

1.5.1. Phân tích khả năng thanh tốn của doanh nghiệp

Đây là các chỉ tiêu được rất nhiều người quan tâm : các ngân hàng, nhà đầu tư,

nhà cung cấp...Trong mọi quan hệ với doanh nghiệp, họ luôn đặt ra những câu hỏi liệu

doanh nghiệp có đủ khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn không? Để trả lời câu hỏi

trên, các chỉ tiêu sau đây thường được sử dụng.

a, Khả năng thanh toán tổng quát

Hệ số thanh toán tổng quát là mối quan hệ giữa tổng tài sản mà hiện nay doanh

nghiệp đang quản lý sử dụng với tổng số nợ phải trả bảo gồm : nợ ngắn hạn và nợ dài

hạn.

Cơng thức tính :



b, Khả năng thanh toán ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng mà các tài sản ngắn

hạn có thể chuyển đổi thành tiền để hồn trả các khoản nợ ngắn hạn. Nếu hệ số này

cao, có thể đem lại sự an toàn về khả năng bù đắp cho sự giảm giá trị của tài sản ngắn

hạn. Điều đó thể hiện tiềm năng thanh tốn cao so với nghĩa vụ phải thanh tốn. Tuy

nhiên, một doanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn quá cao cũng có

14



thể doanh nghiệp doanh nghiệp đó đã đầu tư quá đáng vào tài sản hiện hành, một sự

đầu tư khơng mang lại hiệu quả. Mặt khác, trong tồn bộ tài sản ngắn hạn của doanh

nghiệp, khả năng chuyển hóa thành tiền của các bộ phận là khác nhau. Khả năng

chuyển hóa thành tiền của hàng tồn kho là chậm nhất. Do vậy để đánh giá khả năng

thanh toán một cách khắt khe hơn, có thể sử dụng hệ số khả năng thanh tốn nhanh.

Cơng thức :



c, Khả năng thanh toán nhanh.

Hệ số khả năng thanh toán nhanh đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn

hạn của doanh nghiệp bằng việc chuyển đổi các tài sản lưu động, khơng kể hàng tồn kho.

Doanh nghiệp có hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và hệ số khả năng thanh tốn

nhanh cao nhưng vẫn khơng có khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn đến hạn thanh

toán do các khoản thu chưa thu hồi được hàng tồn kho chưa chuyển hóa được thành tiền.

Bởi vậy, muốn biết khả năng thanh toán ngay của doanh nghiệp tại thời điểm xem xét, ta

có thể sử dụng cơng thức sau:



d, Khả năng thanh toán dài hạn.

Để đánh giá khả năng này ta cần dựa trên năng lực tài sản cố định hình thành từ vốn

vay và mức trích khấu hao căn bản hàng năm, xem xét xem mức trích khấu hao căn bản

hàng năm có đủ trả nợ các khoản vay dài hạn đến hạn trả khơng.

Cơng thức tính :



15



1.5.2. Phân tích cơ cấu vốn, tính ổn định và khả năng trả nợ

a, Hệ số nợ so với vốn chủ sở hữu

Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mơ tài chính của doanh

nghiệp.Nó cho ta biết về tỷ lệ giữa hai nguồn vốn cơ bản ( nợ và vốn chủ sở hữu ) mà

doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động kinh doanh.



Hệ số nợ nói lên trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp, nguồn vốn từ bên

ngoài ( từ các chủ nợ ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản hiện có của doanh

nghiệp, có bao nhiêu phần do vay nợ mà có.

b, Hế số nợ so với tài sản

Hệ số nợ so với tài sản đo lường mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp để tài trợ

cho tài sản. Điều này có nghĩa là trong tổng số tài sản hiện nay của doanh nghiệp được

tài trợ mấy phần trăm là nợ phải trả.

Công thức tính :



c, Hệ số thích ứng dài hạn của tài sản

Hệ số thích ứng dài hạn của tài sản dùng để đánh giá khả năng doanh nghiệp có

thể trang trải tài sản dài hạn bằng các nguồn vốn ổn định dai hạn

Cơng thức tính:



16



d, Hệ số tài sản dài hạn trên vốn chủ sở hữu

Hệ số tài sản dài hạn trên vốn chủ sở hữu dùng để đánh giá mức độ ổn định của

việc đầu tư vào tài sản cố định.Hệ số này càng nhỏ càng tốt.

Cơng thức tính :



1.5.3. Phân tích hiệu suất sử dụng vốn và khả năng sinh lời

a, Hiệu suất sử dụng tài sản

Tỷ số này còn gọi là vòng quay tồn bộ tài sản, nó cho biết hiệu quả sử dụng toàn

bộ tài sản các loại tài sản của doanh nghiệp, hoặc có thể là một đồng vốn đầu tư vào

doanh nghiệp đem lại bao nhiêu đồng doanh thu.

Nếu như trong các giai đoạn, tổng mức tài sản của doanh ngiệp đều tương đối ổn

định, ít thay đổi thì tổng mức bình qn có thể dụng mức bình quân tài sản đầu kỳ và

tài sản cuối kỳ. Nếu mức tổng tài sản có sự thay đổi biến động lớn thì phải tính theo tài

liệu tỉ mỉ hơn đồng thời khi tính mức quay vòng của tổng tài sản thì các trị số phải lấy

cùng một thời điểm.

Mức quay vòng của tài sản là chỉ tiêu phản ánh hiểu suất sử dụng tổng hợp toàn bộ

tài sản của doanh nghiệp, chỉ tiêu này càng cao, chứng tỏ cùng một tài sản mà thu được

mức lợi ích càng nhiều, do đó trình độ quản lý tài sản càng cao thì năng lực thanh tốn

và năng lực thu lợi của doanh nghiệp cao. Nếu ngược lại thì chứng tỏ các tài sản của

doanh nghiệp chưa được sử dụng hiệu quả.

Cơng thức tính:



17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×