Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tính chất chung của tinh dầu

Tính chất chung của tinh dầu

Tải bản đầy đủ - 0trang

6.2.Tính chất lý hóa:

- Đa số là chất lỏng ở nhiệt độ thường, một số thành phần ở thể rắn:

menthol, borneol, camphor, vanilin, heliotropin. Bay hơi ở nhiệt độ thường.

- Tỷ trọng: đa số nhỏ hơn 1, một số lớn hơn 1( quế, đinh hương, hương

nhu) tỷ lệ thành phần chính ( aldehyde cinnamic, eugenol) quyết định tỷ trọng

tinh dầu. Nếu hàm lượng các thành phần chính thấp, chúng sẽ trở thành nhẹ hơn

nước.

- Độ tan: khơng tan hay ít tan trong nước, tan trong alcol và các dung

môi hữu cơ khác.

- Độ sôi: phụ thuộc vào thành phần cấu tạo, có thể dùng phương pháp

cất phân đoạn để tách riêng từng thành phần trong tinh dầu.

- Độ quay cực( năng suất quay cực): hầu hết tinh dầu đều có khả năng

làm quay mặt phẳng của ánh sáng phân cực khi ánh sáng này đi qua. Từ đó ta có

thể phát hiện các chất pha trộn trong tinh dầu. Nhưng tinh dầu làm quay mặt

phẳng ánh sánh phân cực về bên trái, ký hiệu (-), quay mặt phẳng ánh sáng về

bên phải, ký hiệu (+). Độ quay cực được xác đinh bởi giá trị của góc quay cực

200C.

Tinh dầu là hỗn hợp của nhiều thành phần hó học nên tỷ trọng, chiết xuất,

độ quay cực khơng có giá trị cụ thể mà chỉ ở một khoảng xác định.

-



Chỉ số khúc xạ 1,4500-1,5600



-



Rất dễ oxy hóa, sự oxy hóa thường xảy ra cùng với sự trùng hiệp hóa,

tinh dầu sẽ chuyển thành chất nhựa.



-



Một số thành phần chính trong tinh dầu cho các phản ứng đặc hiệu của

nhóm chức năng, tạo thành các sản phẩm kết tinh hay cho màu, dựa vào

đặc tính này để định tính và định lượng các thành phần chính trong tinh

dầu.

10



6.3.Các chỉ số hóa học:

- Chỉ số acid: là số mg KOH dùng để trung hòa hết acid từ do trong 1g tinh

dầu. Cho biết hàm lượng acid tự do, tinh dầu mới khai thác hay đã bảo quản lâu.

Do tinh dầu bảo quản lâu các ester sẽ bị thủy phân, các andehyt sẽ bị oxy hóa do

đó chỉ số acid sẽ tăng.

- Chỉ số ester: là số mg KOH cần thiết để xà phòng hóa hết các ester chứa

trong 1g tinh dầu. Ester trong tinh dầu có ảnh hưởng lớn đến mùi vị của tinh

dầu, đối với một số loại tinh dầu thì ester là thành phần chính như linalyl acetate

trong tinh dầu bạc hà.

- Chỉ số acetyl: là số mg KOH cần thiết để trung hòa acid acetic được giải

phóng sau khi xà phòng hóa 1g tinh dầu đã acetyl hóa. Dùng để xác định hàm

lượng alcol có trong tinh dầu. Alcol bậc 1 và 2 được gọi là geraniol, alcol bậc 3

là linalol. Trong đó alcol bậc 1 và 2 tham gia phản ứng acetyl hóa, alcol bậc 3

khơng phản ứng.

- Hàm lượng aldehyde và cetone: trong tinh dầu có chứa aldehyde và

cetone đặc trưng ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu vì vậy cần xác định hàm

lượng này.

- Hàm lượng phenol: do một số tinh dầu có hợp chất phenol là cấu tử tạo

mùi ảnh hưởng đến chất lượng tinh dầu.



11



Chương 2: SẢN XUẤT TINH DẦU

1.Nguyên liệu:

1.1.Đặc tính chung và phân loại:

Nguyên liệu tinh dầu là các loại thực vật có chứa tinh dầu. Trong thực vật,

tinh dầu có thể ở hoa, lá, rễ, thân, củ,....Có một số thực vật trong mọi bộ phận

của cây đều chứa tinh dầu. Để khai thác chúng trong công nghiệp, người ta sử

dụng bộ phận nào trong cây có chứa nhiều tinh dầu nhất và tinh dầu có chất

lượng cao nhất. Hàm lượng tinh dầu trong thực vật thường khơng lớn lắm, có

loại chứa 15% và có loại chỉ vài phần nghìn. Những ngun liệu chứa tinh dầu

ít thường quý và đắt tiền( tinh dầu hoa hồng...).

Tinh dầu là hỗn hợp các hợp chất hữu cơ có mùi thơm, mùi thơm của tinh

dầu là mùi của cấu tử có nhiều trong tinh dầu( cấu tử chính).

Ví dụ: Mùi của tinh dầu hoa hồng là mùi của phenyl etilic( cấu tử

chính); Mùi của tinh dầu hoa nhài là mùi của jasmin; Mùi của tinh dầu chanh là

mùi của limonen( chiếm khoảng 90% trong tinh dầu chanh).

Đa số tinh dầu thường rất dễ bay hơi với hơi nước có mùi thơm khơng hòa

tan trong nước và khối lượng riêng thường nhỏ hơn nước. Có một vài tinh dầu

có khối lượng riêng lớn hơn nước như tinh dầu quế, tinh dầu đinh hương...Vì

những lý do trên người ta thường dùng phương pháp chưng cất để tách tinh dầu.

Người ta phân loại nguyên liệu chứa tinh dầu ra thành các loại như sau:





Nguyên liệu của quả và hạt: hồi, mùi, màng tang...







Nguyên liệu lá cành: sả, bạc hà, hương nhu...







Nguyên liệu rễ, củ: gừng, long não ( nhiều nhất ở rễ )







Nguyên liệu vỏ: cam, chanh, quýt...







Nguyên liệu hoa: hoa hồng, hoa nhài...

12



1.2.Giới thiệu một số nguyên liệu chứa tinh dầu:

- Hồi: hoa có hình sao, trồng nhiều ở Lạng Sơn, Cao Bằng, hàm lượng

tinh dầu 13-15% ( tính theo hoa khô), 3-3,5% ( timhs theo hoa tươi).

- Sả: là một loại cây thân thảo, sống một vài năm, trồng bằng tép. Sau

khi trồng 3-4 tháng thì thu hoạch lá và cứ 40-45 ngày thu hoạch một lứa, năng

suất bình quân 50 tấn lá/ha. Hàm lượng tinh dầu 0,7-1,5%, thành phần chính của

tinh dầu sả là geraniol ( 23% ) và xitronenlal (32-35%).

- Bạc hà: là loại cây thân thảo sống được vài năm, sau khi trồng vài

tháng có thể thu hoạch được. Hàm lượng tinh dầu 1,3-1,6%, cấu tử chính là

mentol ( 70-90% ).

- Quế: trồng nhiều ở Quảng Ninh, Yên Bái, Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Vỏ và lá đều có chứa tinh dầu nhưng nhiều nhất là ở vỏ. Để sản xuất tinh dầu

người ta thường dùng cành và vỏ vụn. Hàm lượng tinh dầu ở vỏ khô 1-2,5%, ở

lá 0,2-0,5%. Cấu tử chính của tinh dầu quế là aldehyt xinamic (90%).

2.Các phương pháp khai thác tinh dầu:

Tùy thuộc từng loại nguyên liệu và trạng thái của tinh dầu trong nguyên

liệu ( tự do hoặc kết hợp ) mà người ta dùng các phương pháp khác nhau để tách

chúng.

Các phương pháp tách tinh dầu cần phải đạt được những yêu cầu cơ bản

như sau:





Giữ cho tinh dầu thu được có mùi vị tự nhiên ban đầu .







Qui trình chế biến phải phù hợp, thuận lợi và nhanh chúng.







Phải tách được triệt để tinh dầu trong nguyên liệu, tổn thất tinh dầu

trong quá trình chế biến và hàm lượng tinh dầu trong nguyên liệu

sau khi chế biến ( bã) càng thấp càng tốt.







Chí phí đầu tư vào sản xuất là ít nhất.

13



2.1.Phương pháp hóa lý ( chưng cất):

2.1.1.Những hiểu biết cơ bản về quá trình chưng cất tinh dầu:

Tinh dầu là một hỗn hợp gồm nhiều cấu tử tan lẫn vào nhau. Trong

quá trình chưng cất, cùng với sự thay đổi thành phần của hỗn hợp lỏng có thể

làm thay đổi thành phần của hỗn hợp hơi. Trong điều áp suất không đổi, dung

dịch lỏng mà ta thu được bằng cách ngưng tụ hỗn hợp hơi bay ra sẽ có thành

phần cấu tư dễ bay hơi cao hơn so với chất lỏng ban đầu, nếu tiếp tục chưng cất

thì càng ngày thành phần dễ bay hơi trong chất lỏng ban đầu càng ít và trong

chất lỏng sau ngưng tụ càng nhiều. Nếu ngưng tụ theo thời gian thì ta có thể thay

đổi thành phần của tinh dầu sau ngưng tụ so với thành phần của tinh dầu có

trong nguyên liệu. Việc làm này nhằm mục đích nâng cao chất lượng tinh dầu.

Ví dụ, yêu cầu của tinh dầu sả là hàm lượng xitronenlal phải >35% nhưng tinh

dầu của ta thường chỉ đạt 32%, do đó có thể dùng phương phấp chưng cất ngưng

tụ theo thời gian để nâng cao hàm lượng xitronenlal trong tinh dầu sả.

2.1.2.Các dạng chưng cất tinh dầu:

Có 3 dạng chưng cất tinh dầu như sau:





Chưng cất với nước: Nguyên liệu và nước cùng cho vào một thiết

bị. Khi đun sôi, hơi nước bay ra sẽ cuốn theo tình dầu, ngưng tụ hơi

bay ra sẽ thu được hỗn hợp gồm nước và tinh dầu, hai thành này

không tan vào nhau nên dễ dàng tách ra khỏi nhau.

Phương pháp này đơn giản, thiết bị rẻ tiền và dễ chế tạo, phù hợp

với những có sở sản xuất nhỏ, vốn đầu tư ít. Tuy nhiên, phương

pháp này còn một vài nhược điểm như hiệu suất thấp, chất lượng

tinh dầu không cao do nguyên liệu tiếp xúc trực tiếp với thiết bị nên

dễ bị cháy khét, khó điều chỉnh các thông số kỹ thuật như tốc độ và

nhiệt độ chưng cất.







Chưng cất bằng hơi nước khơng có nồi hơi riêng: Nguyên liệu và

nước cùng cho vào một thiết bị nhưng cách nhau bởi một vỉ nồi.Khi

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính chất chung của tinh dầu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×