Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Cùng với sự phát triển của kinh tế, những vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng nhiều. Trong đó, vấn đề trong học đường đang là mối bận tâm lớn, cần được quan tâm và cần có những biện pháp giải quyết thiết thực.

- Cùng với sự phát triển của kinh tế, những vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng nhiều. Trong đó, vấn đề trong học đường đang là mối bận tâm lớn, cần được quan tâm và cần có những biện pháp giải quyết thiết thực.

Tải bản đầy đủ - 0trang

4.3. Vấn đề XH được quan tâm nhất hiện nay: Vấn đề trầm cảm

Đây cũng là một vấn đề nan giải trong nhà trường hiện nay. Trầm cảm là hiện

tượng học sinh cảm thấy mệt mỏi và chán nản, không có hứng thú học tập cũng như

giao tiếp bạn bè và xúc tiến những mối quan hệ xã hội. Hiện tượng trầm cảm của

học sinh ngày càng có diễn biến phức tạp, thậm chí, có những học sinh vì vượt quá

sức chịu đựng của bản thân đã dẫn tới tự tử hay nhiều hệ lụy đáng tiếc khác.

Nguyên nhân của thực trạng này rất nhiều nhưng một trong những nguyên nhân đó

là do những áp lực và tổn thương về mặt tâm lý cho các em. Đó cũng là do áp lực

học tập, mối quan hệ không tốt giữa thầy cơ và bạn cùng lớp…. Ngồi ra thì đó

cũng do nguyên nhân xã hội hay tâm sinh lý của trẻ phát triển khơng bình thường.

4.4. Vấn đề nóng hiện nay: Vấn đề phòng chống tệ nạn xã hội trong học đường

Hiện nay, tệ nạn học đường xuất hiện ngày càng nhiều và phổ biến, đem đến

nhiều ảnh hưởng đến học sinh, gia đình và xã hội nói chung. Chính vì thế, những

chuyên gia giáo dục cho rằng, ngành giáo dục cần tăng cường cơng tác giáo dục

tồn diện cũng như quản lý học sinh, đảm bảo an ninh trật tự trong trường học và

phòng chống tệ nạn xã hội.

5. Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.

5.1. Về phía giáo viên.

– Trong quá trình truyền thụ kiến thức cho học sinh, giáo viên rất khó khăn trong

việc phân loại đối tượng học sinh vì học sinh trong lớp tham gia rất nhiều khối thi.

– Trong quá trình làm chủ nhiệm lớp, giáo viên chưa quan tâm được nhiều đến

hoàn cảnh gia đình của từng em, các em ở nhiều huyện khác nhau và rất xa, điều

kiện kinh tế còn rất khó khăn nhiều em trong hộ nghèo và cận nghèo của các huyện

miền núi, các em chủ yếu sống ở vùng 30A, hoặc vùng 135.



14



– Việc nắm bắt tâm lý của các em, tâm tư tình cảm của các em đơi khi còn chậm,

việc giải quyết vấn đề đơi khi còn theo tình cảm cá nhân.

5.2. Về phía học sinh.

– Một số học sinh chưa xác định động cơ học tập đúng đắn nên chưa chăm học, hay

vi phạm nội quy, quy định của nhà trường, nhất là trong việc thực hiện nội quy nội

vụ trong KTX, việc thực hiện nội quy học đường .

– Chưa nắm được phương pháp học tập và mất căn bản kiến thức ở lớp dưới.

– Do các em ăn ở, học tập xa gia đình nên nhiều cha mẹ chưa quan tâm đúng mức

đến việc học của các em, còn khốn trắng cho nhà trường. Bên cạnh đó các trò chơi

vơ bổ như: điện tử, lén sử dụng điện thoại di động, đã trực tiếp tác động làm ảnh

hưởng khơng ít đến việc học tập và rèn luyện của các em.

– Một số em lại sa vào chuyện tình cảm của tuổi học trò làm ảnh hưởng không nhỏ

đến việc học tập rèn luyện của bản thân.

– Chất lượng học sinh trong lớp không đồng đều.

6. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

Mỗi GVCN lớp, muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, muốn đề ra các biện

pháp giáo dục học sinh phù hợp, đạt hiệu quả thì trước hết giáo viên phải hiểu học

sinh, phải nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết về từng học sinh. Do vậy, ngay

từ ngày đầu nhận lớp, tôi thực hiện ngay công tác điều tra thông qua phiếu sau đây

và yêu cầu các em điền đầy đủ các thông tin trong phiếu:

GIỚI THIỆU LÝ LỊCH BẢN THÂN

1. Họ và tên học sinh:

2. Q qn:

3. Hồn cảnh gia đình : - Họ và tên bố, mẹ:

- Anh chị em ruột:

15



- Nghề nghiệp:

- Hình thức liên lạc với gia đình:



4. Năng khiếu, sở thích:

5. Mơn học u thích:

6. Nguyện vọng theo khối thi:

- Qua phiếu điều tra này, tôi cơ bản nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết

để ghi vào Sổ CN. Và quan trọng hơn cả là tôi đã hiểu một phần về học sinh của

mình, điều đó rất có lợi cho tôi trong công tác giảng dạy và giáo dục . Sau khi

điều tra phân loại từng đối tượng học sinh đầu năm. Tôi đã trực tiếp trao đổi với

phụ huynh đồng thời nhận được những thông tin phản hồi tích cực từ phía phụ

huynh, từ đó kịp thời có những kế hoạch cụ thể để tập trung cho từng học sinh.

* Đối với vấn nạn bạo lực học đường hiện nay: Để có thể khắc phục bạo lực học

đường hiện nay, cần có những giải pháp thiết thực và hợp lý và thực hiện một

cách nghiêm ngặt.

Về phía học sinh, sinh viên, cần có ý thức rèn luyện và tìm hiểu, nâng cao ý

thức về hành động cũng như hậu quả của những hành động bạo lực đó. Trong lớp,

cần tổ chức những nhóm bạn cùng tiến để nâng cao nhận thức và tăng cường sự

trao đổi, tự khắc phục lẫn nhau trong học tập và rèn luyện. Đối với một số học sinh

cá biệt, cần có sự kết hợp giữa gia đình và nhà trường để uốn nắn, điều hướng các

em vào phong trào của lớp, tránh sự phân biệt đối xử.

Theo những tin tức tư vấn học đường, cũng cần nhìn nhận cách giáo dục trẻ trong

gia đình. Thực tế, có rất nhiều gia đình chỉ chú trọng đến kết quả học tập của con

mà không chú ý đến việc các em nghĩ gì hay cách xử sự của con với bạn bè. Vì thế,

thay vì chu cấp cho con nhiều về mặt vật chất, gia đình, và đặc biệt là cha mẹ cần là

những người bạn đồng hành của con cái. Tránh tạo vỏ bọc cứng nhắc vì sẽ tạo tâm

lý ý lại, dựa dẫm và hưởng thụ.

* Đối với học sinh học yếu: GVCN phải nắm bắt được và trao đổi với GVBM để

có biện pháp giúp đỡ các em, đồng thời sắp xếp chỗ ngồi cho một số bạn học tốt

16



môn học mà các em còn yếu ngồi cạnh để có thể giúp đỡ khi các em có vướng mắc.

Phát động phong trào thi đua “ Đôi bạn cùng tiến”, phân công các bạn trong ban

cán sự lớp chữa bài cho lớp trong các buổi sinh hoạt 15 phút hoặc trong các buổi tự

học buổi chiều hoặc tối, đồng thời nhờ các thầy cô trong CĐ cán bộ giáo viên tham

gia trực tự học giúp đỡ tháo gỡ những vướng mắc của các em, tạo cho các em một

môi trường học tập tốt, các bạn trong lớp luôn yêu thương, giúp đỡ biết sẻ chia với

nhau trong học tập cũng như trong cuộc sống. Bên cạnh đó, tơi thường xun kiểm

tra và theo dõi việc học tập ,rèn luyện của các em.

* Đối với học sinh có năng khiếu: Tơi có những trao đổi cần thiết với các

GVBM tìm biện pháp tối ưu để các em bộc lộ đúng sở trường của mình, phát huy

thế mạnh của mình để tìm được trường ĐH phù hợp, các em thực hiện được ước

mơ và sống với đam mê của mình, phát huy hết tiềm năng và nhất là để các em

khơng còn day dứt, hối hận vì đã chọn khơng đúng ngành nghề và khơng đúng sở

trường.

* Đối với học sinh có hồn cảnh kinh tế gia đình khó khăn: Ln quan tâm,

hỏi thăm các em kịp thời động viên, để các em cố gắng học tập, rèn luyện tốt như

phát động phong trào “Lá lành đùm lá rách” , luôn đồng hành cùng các phong trào

“ Mái ấm cơng đồn”, trao thưởng “Học sinh nghèo vượt khó” của Hội khuyến học

nhà trường được tổ chức hàng năm. Trao đổi với phụ huynh để bàn bạc và tìm giải

pháp khắc phục khó khăn tạo điều kiện cho con em học tập thật tốt.

* Đối với những em có tâm lý đặc biệt: Học sinh được tư vấn tâm lý trực tiếp

qua các buổi sinh hoạt hoặc trong các buổi tối vào chơi với các em, hoặc qua email,

Facebook về các biểu hiện bệnh lý như: trầm cảm, tự kỷ, gặp các rắc rối trong quan

hệ với bạn bè, với thầy cô,…trong công tác hướng nghiệp. Từ thực tế, tôi đã tham

khảo ý kiến của chuyên gia tâm lý học đường để thực hiện các hoạt động giáo dục

tâm lý mang tính chuyên sâu hơn, giúp học sinh phát triển toàn diện. Trong lớp một

17



số học sinh đã chia sẻ về các vấn đề tình yêu, tình bạn, áp lực học tập, thi cử, mối

quan hệ bất ổn với người lớn. Từ các buổi nói chuyện cùng các em, tôi đã phát hiện

nhiều biểu hiện tâm lý bất thường của HS, từ đó đưa được những giải pháp giải

quyết kịp thời giúp các em vượt qua khó khăn.

Giải pháp hiệu quả để giải quyết vấn đề này là sức khỏe tâm thần tốt sẽ giúp học

sinh quản lý tốt cảm xúc, tạo kết quả học tập tốt và thiết lập các mối quan hệ xã hội

tốt. Do đó, điều gì cản trở kết quả học tập và phát triển của học sinh thì cần sớm có

giải pháp. Cụ thể là giải pháp cho con người, chính sách, cơ chế…Nhà trường và

GVCN cần phải ý thức sâu sắc vai trò quan trọng của vấn đề này, có cơ chế huy

động xã hội và phụ huynh cùng tham gia ủng hộ đưa các hoạt động tham vấn tâm lý

học đường. Mỗi thầy cơ giáo, cán bộ Đồn trong trường học cần tìm hiểu về tâm lý

lứa tuổi học sinh, vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm sẵn có để hỗ trợ tâm lý

cho học sinh khi cần thiết.

Bên cạnh đó, trong các buổi sinh hoạt cuối tuần tơi ln phải thay đổi hình thức

sinh hoạt, tổ chức lồng ghép cho các em các tiết sinh hoạt ngoại khoá về giáo dục

kỹ năng sống, phổ biến pháp luật cho các em nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng

tự phòng vệ trong “ Tình bạn-Tình u” ,“ Sức khỏe sinh sản”, “ Các hành vi xâm

hại tình dục ”, giáo dục về tinh thần cảnh giác khi đi trên xe có người lạ nhờ mang

hộ, cầm hộ túi đồ. Để phát huy tính tích cực học tập và rèn luyện của HS, các em

đề xuất cách khắc phục những tồn tại của lớp. Qua đó học sinh có điều kiện học mà

vui, vui mà học giảm bớt đi sự căng thẳng và quan trọng nhất là tôn trọng sự bình

đẳng trong lớp.

* Đối với học sinh cá biệt trong lớp: Trong một tập thể lớp, bên cạnh những

học sinh ngoan hiền, chăm chỉ thì cũng có vài em nghịch ngợm. Các em luôn làm

cho giáo viên phải đau đầu để tìm cách “cảm hóa”. Nhiều phương pháp được áp

dụng nhưng vẫn khơng hiệu quả mà còn phản tác dụng, nhưng cuối cùng thì sự gần

18



gũi của GVCN đã nhận được sự tương tác tốt của các em cá biệt.Thứ nhất, các em

đang ở độ tuổi TTN, có biểu hiện tâm lý thay đổi ở tuổi mới lớn. Nếu không được

uốn nắn kịp thời các em dễ dàng bị đối tượng xấu lôi kéo, rủ rê, dẫn đến sa vào các

tệ nạn xã hội. Hãy đặt mình vào các em, hiểu được tâm lý của tuổi dậy thì. Đây là

độ tuổi mà tâm sinh lý thay đổi một cách rõ rệt, lứa tuổi này các em thường thích

thể hiện bản thân, chứng tỏ cho người khác thấy mình đã lớn và có thể tự quyết

định các hành động của mình. Cho nên, GVCN cần tìm hiểu kỹ về tình hình học tập

và tính cách của từng em. Bởi vì nếu nắm được tính cách của các em thì mới cảm

hóa được. Vì vậy, cách tốt nhất để giúp các em thay đổi và sự nhẫn nại và sự tận

tâm của GVCN, GVBM, của các bạn trong lớp và của các cô chú Quản lý KTX.

Thứ hai, đừng phân biệt các em bởi cách xưng hô như “học sinh cá biệt”, “bất

trị”,”hư hỏng”…bởi đó sẽ làm các em tổn thương và phản kháng mạnh hơn, càng

chống đối và nổi loạn hơn vì biết chẳng có ai hiểu mình. Kéo các em vào tham gia

các hoạt động phong trào của lớp, giao trách nhiệm, gần gũi tạo mối quan hệ thân

thiết, lắng nghe và đồng hành cùng các em. Khi cảm thấy được sự quan tâm, tơn

trọng thì sẽ có sự thay đổi.

Thứ ba, hãy dùng chính tình u thương để thay đổi một con người. Sự yêu thương

chân thành của thầy cơ đã chạm được tới các em.

Bên cạnh đó có một hiện tượng nữa luôn làm cho GVCN đau đầu nhất đó là

việc các em lấy cắp đồ của nhau từ những vật dụng nhỏ như đèn sạc, quần áo, đồ

dùng thiết yếu đến máy tính, tiền bạc, lớn hơn nữa là điện thoại di động…[3].

Nguyên nhân thứ nhất, đó là do xuất phát từ lòng tham, muốn sở hữu tài sản

của người khác khơng phải của mình và do nhận thức, hiểu biết pháp luật còn hạn



19



chế nên các em đã không đánh giá được mức độ nguy hiểm của hành vi. Các em rất

dễ bị lôi kéo, chưa có đủ bản lĩnh để tránh xa những cám dỗ đời thường.

Nguyên nhân thứ hai, do ý thức tự bảo vệ tài sản của mình và tham gia bảo vệ

tài sản của người khác trong học sinh còn chưa cao cơng tác bảo vệ tài sản còn

nhiều hạn chế, mất cảnh giác.

Hành vi đó của các em gây mất an ninh trong nhà trường, gây mất đoàn kết

trong nội bộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc học tập tu dưỡng của các em, làm

các em mất niềm tin vào những điều tốt đẹp nhất mà đáng ra các em được hưởng.

Do vậy, việc tuyên truyền giáo dục tư tưởng, phẩm chất, lối sống lành mạnh

trong trường PT nói chung và trường THPT- DTNT nói riêng là một nội dung vơ

cùng quan trọng mà GVCN đóng vai trò lớn khơng thể thiếu được. Bên cạnh đó,

GVCN còn phải là người tun truyền pháp luật để các em hiểu hơn về các hành vi

đó nguy hiểm như thế nào? Độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự là bao nhiêu?

Mức độ nặng nhẹ như thế nào? Do làm tốt công tác tuyên truyền mà trong những

năm làm CN của tôi đã không xảy ra những sự việc nghiêm trọng làm ảnh hưởng

đến an ninh trật tự trong nhà trường và các em khơng bị ảnh hưởng đến q trình

học tập và rèn luyện của các em. Tập thể lớp luôn là tập thể đoàn kết, yêu thương

và đùm bọc lẫn nhau.

7. Hiệu quả của SKKN đối với hoạt động giáo dục của bản thân và đồng

nghiệp.

Qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm, cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ, kết hợp

của BGH nhà trường, tập thể giáo viên, đồng nghiệp, phụ huynh học sinh, bản thân

tôi và đồng nghiệp đã mạnh dạn áp dụng đầy đủ các biện pháp nêu trên tại các lớp

học trên thì chất lượng giáo dục học sinh có sự chuyển biến tích cực. Trước khi áp

dụng đề tài tôi tiến hành khảo sát chất lượng đầu năm của học sinh 3 lớp 12 năm

học 2017 – 2018 và so sánh với kết quả đạt được trong sau 1 năm học .

20



Chất lượng giáo dục và chất lượng dạy học cụ thể như sau:

     Lớp 12A1 gồm 29 học sinh.

Lớp 12A1 KQ lớp 11

T: 27 (92,6%)

HK



K: 2 (7,4%)

G: 4 (13,8%)

K: 20(70%)



HL



TB: 5 (16,2%)



KQ ĐH



20/29 ĐH



Học kỳ 1



Học kỳ 2



Cả năm



T: 29 (100%)



T: 29(100%)



G: 6 (20,7%)



G: 8 (27,5%)



G: 8(27,5%)



K: 20(70 %)



K: 20 (70 %)



K: 21 (72,5%)



TB: 3 (9,3%)



TB:1 (2,5%)



4/29 DBĐH



5/9 đi XKLĐ



T: 28(96,6%)

K: 1 (3,4%)



(70%)

(13,8%)

(16,7%)

     Lớp 12A2 năm học 2017­2018 gồm 25 học sinh.

Lớp 12A2 KQ lớp 11

T: 22 (88%)

Hạnh kiểm



K: 2 (8%)

TB: 1(4%)

G: 4 (16%)



Học lực



KQ ĐH



K: 19 (76%)

TB: 2(8%)

18/25 ĐH



Học kỳ 1

T: 23(92%)

K: 2(8%)

G: 4(16%)

K: 21 (84%)

TB: 0

4/25 DBĐH



Học kỳ 2



Cả năm



T: 25(100%)



T: 25 (100%)



G: 6 (24%)



G: 5 (20%)



K: 19 (76%)



K: 20 (80%)



3/25 XKLĐ



(72%)

(16%)

(12%)

      Lớp 12B năm học 2017­2018  gồm 30 học sinh.

Lớp 12B KQ lớp 11

HK

T: 27 (90%)

K: 2 (6,7%)



Học kỳ 1

Học kỳ 2

T: 28 (93,3%) T: 30(100%)

K: 2 (6,7%)

21



Cả năm

T: 30 (100%)



TB: 1(3,3%)

G: 2 (6,7%)

K: 22(73,3%)



HL



TB: 6 (20%)



KQ ĐH



18/30 ĐH



G: 4 (13,3%)

K: 23 (77,7%)

TB: 3 (10%)

6/30 DBĐH



G: 5 (16,7%) G: 5 (16,7%)

K: 25 (83,3%) K: 25 (83,3%)

6/30 đi làm



(60%)

(20%)

(20%)

- Đặc biệt trong lớp 12B năm học 2017-2018 là tập thể lớp có nhiều học sinh cá

tính mạnh, cá biệt của lớp, của trường các em luôn tự làm theo ý mình, khơng quan

tâm đến sự nhắc nhở của thầy cô giáo và các cô chú cán bộ QL Ký túc xá, nhưng

bằng tất cả sự nỗ lực, tấm lòng u trò và nhiệt huyết với nghề, chúng tơi đã phối

hợp chặt chẽ mối quan hệ mật thiết giữa các bộ phận trong nhà trường, giữa nhà

trường, gia đình và địa phương nơi các em sinh sống để công tác giáo dục đạt hiệu

quả cao hơn. Kết quả rèn luyện của các em tiến bộ rõ rệt trong học kỳ 2 và trong cả

năm học đều đạt hạnh kiểm loại tốt.

– Mặc dù kết quả đạt được còn khiêm tốn nhưng đây là bước chuyển biến tích cực

đối với học sinh trường THPT-DTNT . Điều này chứng tỏ đề tài mà tơi đang thực

hiện đã góp phần từng bước hồn thiện hơn về cơng tác chủ nhiệm lớp nhằm giáo

dục tồn diện cho học sinh THPT- DTNT.

SKKN của tơi khơng có gì là lớn lao, những biện pháp tơi đã làm cũng rất đỗi

bình thường. Nhưng kết quả đạt được lại rất khả quan. Rõ ràng qua cách làm này,

tơi thấy kết quả giáo dục tồn diện học sinh đạt kết quả tốt. Điều đó làm tơi rất vui

mừng và vơi đi những vất vả, mệt nhọc. Tình cảm thầy- trò, bạn bè ngày càng gắn

bó và thân thiện .

Trong các năm học qua, lớp tôi vẫn luôn duy trì sĩ số 100%, khơng có học sinh nào

q cá biệt để phải giải quyết cho các em về quê, đa số các em đều đạt được

22



nguyện vọng 1 khi xét tuyển ĐH, CĐ mà các em dự định đăng ký vào với tỉ lệ phần

trăm cao. Kết quả giáo dục 100% học sinh đạt HK tốt. Tập thể lớp đạt TTXS đứng

thứ 2/18 chi đoàn. Ngoài ra, trong lớp có 4 em có thành tích xuất sắc được tham gia

lớp cảm tình Đảng do Đồn khối các cơ quan tỉnh tổ chức. Một số em luôn dẫn đầu

trông các hoạt động VH-VN-TDTT của trường, là hạt nhân của các CLB như :

CLB võ thuật, CLB Guitar, CLB khiêu vũ, nhảy Dân vũ, trong Đội văn nghệ nhà

trường. 100% học sinh lớp đều tích cực tham gia các buổi sinh hoạt tập thể.

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ.

1. Kết luận.

Trong quá trình cơng tác, tơi khơng ngừng trau dồi chun mơn nghiệp vụ, chịu

khó nghiên cứu, tìm tòi học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, bản thân đã nhận thấy điều

đó là tất cả mọi vấn đề đều có thể giải quyết một cách tốt đẹp. Điều quan trọng là

có lòng đam mê với nghề, u học trò, tình đồng nghiệp, đồng chí, có tình u q

hương đất nước.

Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề trong sáng kiến kinh nghiệm:

Đã được thực hiện thành công trong các lớp chủ nhiệm.

Một số biện pháp trên hoặc một số nội dung trong các biện pháp trên cũng đã

được tôi thực hiện và đều mang lại hiệu quả. Điều quan trọng là các biện pháp có

mối liên hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ tích cực cho nhau trong q trình thực hiện

cơng tác chủ nhiệm lớp. Chính vì vậy để mang lại hiệu quả thực sự cao, khi thực

hiện cần áp dụng đầy đủ, triệt để các biện pháp trên.

2. Kiến nghị.

Đề tài “ Một số kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm nhằm nâng cao hiệu

quả giáo dục toàn diện học sinh trong trường THPT- DTNT ” đã được áp dụng

và thực sự mang lại hiệu quả trong công tác CN lớp tại một số lớp ở trường tơi.

23



Ngồi những biện pháp trong đề tài này, có thể còn có những biện pháp khác,

bản thân người viết chưa nhận thấy và mong rằng các đồng nghiệp đọc sáng kiến

kinh nghiệm này đóng góp ý kiến. Trên đây là những kinh nghiệm mà bản thân tơi

đã nghiên cứu, tìm tòi, phát triển và vận dụng, trong công tác chủ nhiệm lớp. Mặc

dù đã có nhiều chuyển biến về kết quả giáo dục toàn diện học sinh khi vận dụng đề

tài nhưng không thể trách khỏi những hạn chế nhất định. Rất mong sự góp ý của

q thầy cơ để đề tài đạt được hiệu quả cao hơn bổ sung cho đề tài được hoàn thiện

hơn, để bản thân người viết có thêm điều kiện để có thể tiếp tục mở rộng, nghiên

cứu về đề tài trong thời gian tới.

Thanh Hóa, ngày 01 tháng 5 năm 2019

Xác nhận của thủ trưởng đơn vị:



Người thực hiện đề tài:



Trịnh Trúc Ly



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Cùng với sự phát triển của kinh tế, những vấn đề xã hội nảy sinh ngày càng nhiều. Trong đó, vấn đề trong học đường đang là mối bận tâm lớn, cần được quan tâm và cần có những biện pháp giải quyết thiết thực.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×