Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NỘI DUNG SÁNG KIẾN

NỘI DUNG SÁNG KIẾN

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Cả hai loại hình kiểm tra này đều cho phép sự phán đoán chủ quan của

con người

Bảng so sánh giữa tự luận và trắc nghiệm

Tự luận

Một câu thuộc loại tự luận đòi hỏi thí

sinh phải tự mình soạn câu trả lời bằng

ngơn ngữ của mình.

Một bài tự luận gồm số câu hỏi

tương đối ít và có tính cách tổng qt,

đòi hỏi thí sinh phải triển khai câu trả

lời bằng lời lẽ dài dòng.

Khi làm một bài tự luận, thí sinh phải

bỏ ra phần lớn thời gian để suy nghĩ và

viết

Chất lượng của bài làm tự luận phụ

thuộc chủ yếu vào kĩ năng của người

chấm bài

Thí sinh có nhiều tự do bộc lộ cá tính

của mình trong các câu trả lời, người

chấm bài cũng có tự do cho điểm các

câu trả lời theo hướng của riêng mình

Trong các câu hỏi tự luận, nhiệm vụ

hoạc tập của người học và trên cơ sở

đó giám khảo thẩm định mức độ hồn

thành các nhiệm vụ ấy không được

phát biểu một cách rõ ràng

Sự phân bố điểm số của một bài tự

luận có thể được kiểm soát một phần

lớn do người chấm



Trắc nghiệm

Một câu trắc nghiệm đòi hỏi mỗi thí

sinh phải lựa chọn câu trả lời đúng nhất

trong một số câu đã cho sẵn.

Một bài trắc nghiệm thường gồm nhiều

câu hỏi có tính chun biệt chỉ đòi hỏi

những câu trả lời ngắn gọn.

Trong khi một bào trắc nghiệm thí sinh

dùng phần lớn thời gian để suy nghĩ và

đọc

Chất lượng một bài trắc nghiệm phụ

thuộc phần lớn do kĩ năng của người soạn

trắc nghiệm

Người soạn thảo trắc nghiệm có nhiều

tự do bộc lộ kiến thức và các giá trị của

của mình qua việc đặt các cấu hỏi.

Trong các câu hỏi trắc nghiệm, nhiệm

vụ hoạc tập của người học và trên cơ sở

đó giám khảo định mức độ hoàn thành các

nhiệm vụ ấy được phát biểu một cách rõ

ràng

Sự phân bố điểm hoàn toàn phụ thuộc

vào bài thi trắc nghiệm.



2.1.2. Phân loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan

2.1.2.1. Câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

Câu trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn (hay câu hỏi nhiều lựa chọn) là

loại câu được ưa chuộng nhất và có hiệu quả nhất. Một câu hỏi loại này thường

gồm một phần phát biểu chính, thường gọi là phần dẫn (câu dẫn) hay câu hỏi và

bốn, năm hay phương án trả lời cho sẵn để học sinh tìm ra câu trả lời đúng

nhất trong nhiều phương án trả lời có sẵn. Ngồi câu đúng, các câu trả lời khác đều

có vẻ hợp lý (hay còn gọi là các câu nhiễu).

3



* Ưu điểm:

- Với sự phối hợp của nhiều phương án trả lời để chọn cho mỗi câu hỏi, giáo

viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra đánh giá những mục tiêu dạy học

khác nhau, chẳng hạn như:

+ Xác định mối tương quan nhân quả.

+ Định nghĩa các khái niệm

+ Tìm nguyên nhân của một số sự kiện

+ Xác định thứ tự hay cách sắp đặt giữa nhiều vật

- Độ tin cậy cao hơn, khả năng đốn mò hay may rủi ít hơn so với các loại

câu hỏi TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên, học sinh buộc phải xét

đoán, phân biệt rõ ràng trước khi trả lời câu hỏi.

- Tính khách quan khi chấm bài. Điểm số bài TNKQ không phụ thuộc vào

các yếu tố như phẩm chất của chữ viết, khả năng diễn đạt tư tưởng của học sinh

hoặc chủ quan của người chấm.

* Nhược điểm:

- Loại câu này khó soạn vì phải tìm cho được câu trả lời đúng nhất trong khi

các câu, các phương án còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý.

- Những học sinh có óc sáng tạo, khả năng tư duy tốt có thể tìm ra những câu

trả lời hay hơn đáp án đã cho, nên họ khơng thoả mãn hoặc khó chịu.

* Những lưu ý khi soạn câu TNKQ nhiều lựa chọn

- Trong việc soạn các phương án trả lời sao cho câu đúng phải đúng một

cách không tranh cãi được.

- Các câu nhiễu phải có tác động gây nhiễu với các học sinh có năng lực tốt

và tác động thu hút các học sinh kém hơn.

- Các câu trả lời đúng nhất phải được đặt ở các vị trí khác nhau một số lần

tương đương ở mỗi vị trí A, B, C, D, E. Vị trí các câu trả lời để chọn lựa nên được

sắp xếp theo một thứ tự ngẫu nhiên.

- Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, diễn đạt rõ ràng một vấn đề hay nên

mang trọn ý nghĩa.

2.1.2.2. Câu trắc nghiệm "đúng- sai"

Là câu trắc nghiệm yêu cầu người làm phải phán đoán đúng hay sai với một

câu trần thuật hoặc một câu hỏi, cũng chính là để học sinh tuỳ ý lựa chọn một trong

hai đáp án đưa ra.

* Ưu điểm: - Đây là loại câu đơn giản nhất để trắc nghiệm kiến thức về

những sự kiện, mặc dù thời gian soạn cần nhiều công phu nhưng lại khách quan

4



khi chấm điểm. Có thể khảo sát được nhiều mảng kiến thức của học sinh trong một

khoảng thời gian ngắn

* Nhược điểm:

- Có thể khuyến khích đốn mò vì vậy độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho

học sinh học thuộc lòng hơn là hiểu. Khó dùng để phát hiện ra yếu điểm của học

sinh. ít phù hợp với đối tượng học sinh khá giỏi.

* Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu đúng, sai:

- Câu nên hỏi những điều quan trọng, nội dung có giá trị chứ không phải là

những chi tiết vun vặt, khơng quan trọng.

- Tránh sử dụng các từ ngữ có tính giới hạn đặc thù mang tính ám thị. Khi ý

của đề là chính xác thì nên tránh dùng những từ “nói chung”, “thường thường”,

“thơng thường”, “rất ít khi”, “có khi”, “một vài”, “có thể” để tránh cho đối tượng

tham gia dựa vào những từ này đưa ra đáp án “đúng” từ đó đốn đúng câu trắc

nghiệm.

2.1.2.3. Câu trắc nghiệm ghép đơi (xứng – hợp)

Đây là loại hình đặc biệt của loại câu câu hỏi nhiều lựa chọn, trong loại này

có hai cột gồm danh sách những câu hỏi và câu trả lời. Dựa trên một hệ thức tiêu

chuẩn nào đó định trước, học sinh tìm cách ghép những câu trả lời ở cột này với

các câu hỏi ở cột khác sao cho phù hợp. Số câu trong hai cột có thể bằng nhau hoặc

khác nhau. Mỗi câu trong cột trả lời có thể được dùng một lần hay nhiều lần để

ghép với một câu hỏi.

* Ưu điểm:

- Câu hỏi ghép đơi dễ viết, dễ dùng loại này thích hợp với học sinh cấp

THCS. Có thể dùng loại câu hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau. Nó thường

được xem như hữu hiệu nhất trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức

hay lập các mối tương quan.

* Nhược điểm: - Để soạn loại câu hỏi này để đo mức kiến thức cao đòi hỏi

nhiều cơng phu. Hơn nữa nếu số câu trong các cột nhiều, học sinh sẽ mất nhiều

thời gian đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi.

* Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu ghép đơi:

- Trong mỗi cột phải có ít nhất là sáu câu và nhiều nhất là mười hai câu. Số

câu chọn lựa trong cột trả lời nên nhiều hơn số câu trong cột câu hỏi, hoặc một câu

trả lời có thể được sử dụng nhiều lần để này sẽ giúp giảm bớt yếu tố may rủi.

- Phải xác định rõ tiêu chuẩn để ghép một câu của cột trả lời và câu trả lời

tương ứng. Phải nói rõ môi câu trả lời chỉ được sử dụng một lần hay được sử dụng

nhiều lần.

2.1.2.4. Câu trắc nghiệm điền khuyết

5



Đây là câu hỏi TNKQ mà học sinh phải điền từ hoặc cụm từ thích hợp với

các chỗ để trống. Nói chung, đây là loại TNKQ cóa câu trả lời tự do.

* Ưu điểm:

- Học sinh khơng có cơ hội đốn mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tự tìm ra câu

trả lời. Loại này dễ soạn hơn câu hỏi nhiều lựa chọn. Rất thích hợp cho việc đánh

giá mức độ hiểu bết của học sinh về các nguyên lí, giải thích các dữ kiện, diễn đạt

ý kiến và thái độ.

* Nhược điểm:

- Khi soạn loại câu này thường dễ mắc sai lầm là người soạn thường trích

nguyên văn các câu từ SGK. Ngoài ra loại câu hỏi này thường chỉ giới hạn vào chi

tiết vụn vặt chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn những dạng câu

hỏi TNKQ khác.

* Những nguyên tắc khi xây dựng dạng câu điền khuyết:

- Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh lấy nguyên văn các câu từ sách để khỏi

khuyến khích học sinh học thuộc lòng.

- Các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau để học sinh khơng đốn mò,

nên để trống những chữ quan trong nhưng đừng quá nhiều.

2.1.2.5. Câu hỏi bằng hình vẽ (kênh hình)

* Trên hình vẽ sẽ cố ý để thiếu hoặc chú thích sai yêu cầu học sinh chọn một

phương án đúng hay đúng nhất trong số các phương án đã đề ra, bổ sung hoặc sửa

chữa sao cho hoàn chỉnh.

* Sử dụng loại câu hỏi này để kiểm tra kiến thức thực hành như: kĩ năng

quan sát thí nghiệm; điều chế các chất; an tồn trong khi thí nghiệm của học sinh.

2.1.3. Mối quan hệ giữa các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan.

Trong các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, câu hỏi nhiều lựa chọn lại

bao hàm các dạng câu hỏi khác. Ví dụ câu hỏi đúng – sai là câu hỏi nhiều lựa chọn

có hai phương án, câu hỏi ghép đơi là biến dạn của câu hỏi nhiều lựa chọn, câu hỏi

điền khuyết thực chất là một câu trả lời đúng người ta dấu đi những từ quan trọng

phải tìm. Câu hỏi bằng hình vẽ có thể ta có thể dung các dạng: đúng sai, điền

khuyết, ghép đôi, nhiều lựa chọn. Trong các dạng câu hỏi TNKQ thì câu hỏi nhiều

lựa chọn là dạng câu hỏi có thể hỏi ở nhiều mức độ nhân thức khác nhau: Nhớ,

hiểu, vận dụng thấp và vận dụng cao.

2.2. Thực trạng việc dạy và học thực hành thí nghiệm ở trường THPT

2.2.1. Đối với giáo viên

- Các giờ dạy còn sơ sài, hình thức và chưa hiệu quả. Nhiều giáo viên ngại

làm thực hành hoặc khơng có kĩ năng thực hành.

6



- Việc chia nhóm thực hành ở các lớp trong các tiết thực hành rất mất thời

gian.

- Giáo viên phải làm nhiều việc, hướng dẫn nhiều nên giờ dạy chưa hiệu

quả.

- Trang thiết bị thiếu thốn, hỏng hóc, hết hạn sử dụng.

- Cán bộ phụ trách phòng thực hành thì kiêm nhiệm nhiều việc nên chưa

thực sự chuyên tâm trong chuyên môn nên chất lượng chuẩn bị giờ thực hành còn

kém nên chưa đem lại kết quả mong muốn.

- Phần trắc nghiệm khách quan cho các phần kiến thức thực hành rất ít. Đa

số giáo viên khơng có kĩ năng xây dựng câu hỏi TNKQ hoặc ngại xây dựng dựa

vào tài liệu giải thích. Các tài liệu trắc nghiệm hiện nay thì câu hỏi trắc nghiệm viết

cho các bài thực hành rất ít.

2.2.2. Đối với học sinh

- Ngại học các giờ thực hành.

- Không chịu tìm hiểu lí thuyết thực hành trước khi đến lớp.

- Việc xử lí số liệu còn nhiều sai xót chưa chính xác và khơng linh hoạt.

- Học sinh khơng quan tâm nhiều đến các bài thực hành do nội dung thi ít.

Phần lớn học sinh theo các khối A, D, A1 rất ít học sinh theo khối B. Theo lối thi gì

học nấy vì vậy khơng tích cực tìm hiểu nội dung.

2.3. Phương pháp xây dựng câu hỏi trắc nghiệm liên qua đến các bài

thực hành sinh học 10 Cơ bản THPT

2.3.1. Phương pháp chung

Bước 1: Từ nội dung của bài học ta đặt các câu hỏi tự luận. Càng nhiều câu

hỏi tự luận càng tốt.

Bước 2: Từ câu hỏi tự luận chia ra các câu hỏi trả lời ngắn. Mỗi câu hỏi trả

lời ngắn chỉ nên hỏi một vấn đề.

Bước 3: Lựa chọn câu hỏi để có tỉ lệ thích đáng giữa các mức độ nhận thức

phù hợp với đối tượng dạy học ( chủ thể của quá trình nhận thức = người học). Đây

là khâu quan trọng thể hiện năng lực của giáo viên.

Bước 4: Khi đã có hệ thống câu hỏi tự luận trả lời ngắn ưng ý chúng ta tiến

hành hình thành các câu hỏi trắc nghiệm khách quan tùy mục đích sử dụng. Tất cả

các câu hỏi cần được kiểm định chỉ tiêu định lượng mức độ nhớ, hiểu, vận dụng

trước khi sử dụng.

Như vậy: 1 Câu hỏi tự luận = n (câu hỏi trả lời ngắn) = m (câu hỏi TNKQ).

Câu hỏi tự luận, câu hỏi trả lời ngắn có thể là câu dẫn một số CH TNKQ. Ở đây m

≥ n.

7



Thông thường, theo nghiên cứu của các tác giả khác và thực tiễn nghiên cứu

của mình, mỗi giờ lý thuyết ở bậc phổ thơng thì số lượng 5-10 câu. Kinh nghiệm

cho thấy, khơng phải xây dựng nhiều câu hỏi trắc nghiệm cho một giờ thực (hoặc

quy đổi thành giờ lý thuyết) là tốt, mà chỉ xây dựng vừa phải, các câu hỏi đòi hỏi

tư duy và rèn luyện tư duy cho học sinh luôn được đánh giá cao.

2.3.2. Áp dụng cụ thể vào các bài thực hành trong chương trình sinh học

10 Cơ bản THPT

- Căn cứ vào nội dung bài thực hành như: Dụng cụ, hóa chất, các bước tiến

hành thí nghiệm, kết quả thí nghiệm, giải thích thí nghiệm để xây dựng các câu hỏi

trắc nghiệm.

Tên bài

thực

hành

Bài 12:

Thực

hành thí

nghiệm

co và

phản co

nguyên

sinh



Phương pháp thực hành



Bước 1: Xây dựng hệ thống các câu hỏi tự luận

Câu 1: Em hãy trình bày cách tiến hành thí nghiệm co ngun sinh ở tế

bào biểu bì lá cây?

Câu 2: Em hãy trình bày cách tiến hành thí nghiệm phản co nguyên sinh

ở tế bào khí khổng lá cây?

Câu 3: Tế bào khí khổng trước và sau khi nhỏ nước muối có gì khác

nhau?

Câu 4: Tại sao khi nhỏ nước cất thì tế bào khí khổng mở trở lại?

Câu 5: Hiện tượng co và phản co nguyên sinh là gì?

Câu 6: So sánh co và phản có nguyên sinh giữa tế bào động vật và thực

vật?

Bước 2: Chia câu hỏi tự luận thành nhiều câu hỏi tự luận nhỏ:

Ví dụ ở câu 1 ta có thể chia thành các câu hỏi nhỏ như:

1. Cách làm tiêu bản để quan sát thí nghiệm co nguyên sinh như

thế nào?

2. Nêu cách điều chỉnh kính hiển vi để quan sát thí nghiệm?

3. Quan sát thấy hình ảnh tế bào biểu bì trong thí nghiệm như thế

nào?

Bước 3: Trả lời các câu hỏi nhỏ và điều chỉnh mức độ kiến thức:

1. Dùng dao tách lớp biểu bì của lá cây, đặt lên một phiến kính đã có sẵn

một giọt nước, đặt lá kính lên mẫu vật.

2. Đặt phiến kính lên giữa bàn kính hiển vi trường, quay vật kính x10 để

quan sát vùng có mẫu vật.

Chọn vùng có lớp tế bào mỏng, sau đó chuyển sang vật kính x40 để quan

sát cho rõ hơn.

3. Những tế bào co nguyên sinh chất là những tế bào có phần tế bào chất

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NỘI DUNG SÁNG KIẾN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×