Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Vì thế các nhà quản lý chỉ có thể có chính sách giảm bớt ch ứ khơng th ể

gạt bỏ được chúng.

1.1.1.2 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

Hiện nay, các hoạt động kinh doanh của NHTM đang tồn tại sáu lo ại

rủi ro cơ bản bao gồm:

Rủi ro tín dụng: là khả năng xảy ra những tổn th ất mà ngân hàng

phải chịu do khách hàng vay không trả đúng hạn, không tr ả hoặc không

trả đầy đủ vốn và lãi theo quy định.

Rủi ro lãi suất: là những tổn thất tiềm tàng mà ngân hàng phải gánh

chịu khi lãi suất thị trường có sự biến đổi.

Rủi ro hối đoái: là rủi ro do sự biến động của tỷ giá h ối đoái gây ra

tổn thất trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh khi những người gửi ti ền

đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay l ập t ức. Khi g ặp ph ải

trường hợp này, các ngân hàng phải bán các tài sản có tính l ỏng th ấp v ới

giá rẻ hay vay từ NHTW.

Rủi ro tồn đọng vốn: là rủi ro xảy ra khi vốn bị ứ đọng l ớn không

thể cho vay hay đầu tư được làm cho thu nhập của ngân hàng giảm sút.

Rủi ro khác: bao gồm rủi ro công nghệ, rủi ro quốc gia gắn liền v ới

các hoạt động đầu tư cũng như khả năng xảy ra cướp ngân hàng, nhầm

lẫn trong thanh toán, hỏa hoạn…

1.1.1.3 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

Có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro, đối với ngân hàng th ương

SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



mại,rủi ro là một biến cố xảy ra không mong đợi gây thiệt hại trong

hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Theo A. Saunders và H. Lange định nghĩa: “Rủi ro tín

dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách

hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại t ừ khoản

cho vay của ngân hàng không thực hiện được đầy đủ cả về số lượng và

thời hạn”.

Theo Timothy W. Koch cho rằng: “ Rủi ro tín dụng là sự thay đổi

tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn xuất phát từ việc vốn vay

khơng được thanh tốn hay thanh toán trễ hạn”.

Theo quy định tại Điều 3 Quy định về phân loại tài sản có, mức

trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng d ự phòng

để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân

hàng nước ngoài ban hành theo TT 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013

của NHNN Việt Nam, “Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong

hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng khơng thực hiện ho ặc

khơng có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” .

Vậy rủi ro tín dụng là những thiệt hại kinh tế mà NHTM phải gánh

chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vốn gốc và nợ

lãi đúng thời hạn hoặc khơng hồn trả do các ngun nhân chủ quan hoặc

khách quan.

Rủi ro tín dụng gây tổn thất về tài chính cho NHTM, c ụ th ể là làm

giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Điều này có th ể

dẫn đến thua lỗ hoặc phá sản.

Vậy nên các ngân hàng ln cần có các biện pháp phòng ng ừa và



SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



hạn chế rủi ro tín dụng, chủ động trích lập dự phòng, đ ảm bảo kh ả năng

bù đắp rủi ro khi tổn thất xảy ra.

1.1.2 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng

Nhận diện rủi ro tín dụng là q trình xác định liên tục và có h ệ

thống. Bất kỳ khoản vay nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nh ận bi ết

vấn đề và có những biện pháp theo dõi nhanh chóng, chuyên nghiệp giúp

các vấn đề, tổn thất có thể giảm đến mức thấp nhất. Nh ững d ấu hiệu

cảnh báo sẽ giúp ngân hàng có thể nhận biết và có gi ải pháp x ử lý s ớm

các vấn đề một cách hiệu quả. Các dấu hiệu nhận biết RRTD ph ổ bi ến

thường tập trung vào các vấn đề : Dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài

chính của khách hàng vay.

1.1.2.1 Nhóm các dấu hiệu liên quan đến tài chính.

Nhóm các dấu hiệu liên quan đến tài chính của ngân hàng bao gồm:

- Các chỉ số về khả năng thanh khoản thấp, thể hiện sự suy y ếu.

- Các chỉ số về khả năng sinh lời thấp, cho thấy dấu hiệu suy y ếu.

- Cơ cấu vốn không hợp lý.

- Các vòng quay hoạt động cho thấy sự khơng ổn định và tính thanh

khoản khơng cao.

1.1.2.2 Nhóm các dấu hiệu phi tài chính

Nhóm các dấu hiệu phi tài chính bao gồm các dấu hiệu cơ bản sau:

Dấu hiệu liên quan đến ngân hàng

Trong q trình hạch tốn của khách hàng có phát hiện séc bị t ừ

chối, hoặc có sự giảm sút số dư tài khoản tiền gửi đáng k ể và liên t ục;

tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản; th ường xuyên h ỗ tr ợ

SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác nhau, khơng có khả năng th ực

hiện các hoạt động cắt giảm chi phí, gia tăng các khoản n ợ th ương m ại

hoặc khơng có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn…

Trong hoạt động cho vay có dấu hiệu mức động vay th ường xuyên

gia tăng, thanh toán chậm các khoản nợ gốn và lãi, khách hàng th ường

xuyên yêu cầu ngân hàng cho đáo hạn, yêu cầu các khoản vay v ượt q

nhu cầu dự kiến.

Trong phương thức tài chính có biểu hiện khách hàng sử dụng

nhiều các khoản nợ ngắn hạn để đầu t ư cho các dự án dài hạn, chấp

nhận sử dụng các nguồn tài trợ có kinh phí cao (th ường xuyên sử dụng

nghiệp vụ chiết khấu các khoản phải thu); giảm các khoản ph ải thu và

tăng các khoản phải trả; có biểu hiện giảm vốn điều lệ...

Dấu hiệu liên quan đến phương pháp quản lý của khách hàng

Các dấu hiệu thuộc nhóm này bao gồm thay đổi th ường xuyên cơ

cấu nhân sự trong hệ thống ban điều hành; có tranh ch ấp trong q

trình quản lý; phát sinh các khoản chi phí quản lý bất h ợp lý; ho ặc ban

điều hành khơng có kinh nghiệm lâu năm, thường xuyên thuyên chuy ển

nhân viên.

Dấu hiệu liên quan tới kỹ thuật và thương mại

Ở nhóm biểu hiện này, ta sẽ thấy khách hàng gặp phải khó khăn trong

việc phát triển sản phẩm mới; hoặc sản phẩm có tính thời vụ cao; có biểu

hiện cắt giảm chi phí sửa chữa và thay thế, chất lượng sản phẩm và dịch

vụ bị giảm sút; sự thay đổi về chính sách của Nhà nước gây ảnh hưởng lớn

đến khách hàng.



SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



Dấu hiệu về việc xử lý thơng tin về tài chính

Khách hàng có dấu hiệu chuẩn bị khơng đầy đủ hoặc chậm trễ, trì

hỗn nộp các báo cáo tài chính. Những kết luận về phân tích tài chính

cho thấy sự gia tăng khơng cân đối về tỷ lệ nợ; tăng doanh s ố ti ền m ặt

nhưng lãi giảm; lượng hàng hóa tăng nhanh hơn doanh số bán; số khách

hàng nợ cũng tăng nhanh. Ngoài ra một số biểu hiện khác như cơ sở kinh

doanh xuống cấp, hàng tồn kho tăng nhanh.

Trên đây là các dấu hiệu để nhận biết một khoản tín dụng có v ấn

đề. Trong q trình phân tích, những dấu hiệu này sẽ giúp các cán b ộ tín

dụng đưa ra quyết định cho vay một cách hiệu quả, giảm thiểu tối đa

khả năng xảy ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng.

1.1.3 Phân loại rủi ro về tín dụng.

1.1.3.1 Căn cứ nguyên sinh phát sinh rủi ro.

- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên

nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao d ịch và xét

duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có 03 bộ phận chính

là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đ ến q trình đánh giá và

phân tích tín dụng, khi ngân hàng lựa chọn những phương án vay v ốn có

hiệu quả để ra quyết định cho vay.

+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm nh ư các

điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài s ản đ ảm b ảo, ch ủ th ể

bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm

bảo.

+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản

SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc s ử dụng hệ thống x ếp h ạng

rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.

– Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà ngun

nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh m ục cho vay c ủa

ngân hàng, được phân chia thành 02 loại : rủi ro nội tại và rủi ro t ập

trung.

+ Rủi ro nội tại : xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có,

mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ th ể đi vay ho ặc ngành, lĩnh

vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc đi ểm s ử

dụng vốn của khách hàng vay vốn.

+ Rủi ro tập trung : là trường hợp ngân hàng tập trung v ốn cho vay

quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghi ệp

hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng m ột

vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

1.1.3.2 Căn cứ theo tiêu chí khách hàng.

Rủi ro tín dụng theo tiêu chí khách hàng được chia làm ba nhóm:

- Rủi ro khách hàng cá thể.

- Rủi ro công ty tổ chức kinh tế.

- Rủi ro quốc gia hay khu vực địa lý.

1.1.3.3 Căn cứ theo tiêu chí vi phạm xảy ra.

Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro cá thể và rủi ro hệ th ống:

- Rủi ro cá thể/giao dịch là rủi ro gắn một giao dịch cụ th ể nào đó,

như đối với một khoản vay của khách hàng. Loại rủi ro này gắn liền và

xuất phát chủ yếu do đặc điểm cá biệt của một khoản vay/khách hàng.

- Rủi ro hệ thống là rủi ro gắn với một nhóm khách hàng, chẳng

hạn đối với một ngành, thậm chí cả một nền kinh tế. Loại rủi ro này

mang tính vĩ mơ và liên quan tới việc quản lý danh mục tín dụng.

SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



1.1.3.4 Căn cứ theo tiêu chí giai đoạn phát sinh rủi ro

Rủi ro phân loại theo giai đoạn phát sinh bao gồm:

- Rủi ro trước khi cho vay.

- Rủi ro trong khi cho vay.

- Rủi to sau khi cho vay.

1.1.3.5 Căn cứ theo tiêu chí sản phẩm

Rủi ro tín dụng theo sản phẩm bao gồm hai loại:

- Rủi ro các sản phẩm nội bảng (cho vay, thấu chi)

- Rủi ro các sản phẩm ngoại bảng (chiết khấu, thư tín dụng, bảo

lãnh).

1.1.3.6 Căn cứ theo tiêu chí tính chất của rủi ro

Rủi ro tín dụng theo tính chất rủi ro gồm 2 loại:

- Rủi ro do nguyên nhân chủ qua như thiên tai, dịch họa,..

- Rủi ro do nguyên nhân khách quan như người vay hoặc người cho

vay vơ tình hoặc cố ý làm cho thất thốt vốn vay.

1.1.3.7 Căn cứ theo tiêu chí có đảm bảo tiền vay

Rủi ro tín dụng gồm 2 loại:

- Rủi ro có đảm bảo tiền vay bằng tài sản.

- Rủi ro khơng có đảm bảo tiền vay bằng tài sản.

1.1.3.8 Căn cứ theo tiêu chí thời hạn khoản vay

Rủi ro tín dụng bao gồm 2 loại rủi ro:

- Rủi ro theo các khoản vay ngắn hạn.

- Rủi ro theo các khoản vay trung và dài hạn.



SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



1.1.4 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh

của ngân hàng. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Do đó,

ngân hàng cần xác định chính xác nguyên nhân gây ra rủi ro, từ đó đ ưa ra

những biện pháp phòng ngừa và hạn chế hiệu quả. Nguyên nhân gây ra

rủi ro được chia thành ba nhóm cơ bản sau:

1.1.4.1 Ngun nhân từ phía ngân hàng

Thứ nhất: Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ.

Sự yếu kém ở đây bao gồm cả về năng lực và ph ẩm chất đạo đ ức.

Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình độ, thiếu ki ến th ức, thi ếu

kinh nghiệm thì sẽ khơng có khả năng thẩm định và xử lý thông tin, đánh

giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay, lãi suất vay và kỳ hạn khơng

phù hợp; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao. Ngoài ra, n ếu cán

bộ tín dụng khơng tn thủ theo đúng quy trình tín dụng nh ư gi ải ngân

trước khi hoàn thành chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng

vốn của người vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra. Hơn nữa, cán bộ tín

dụng mà phẩm chất đạo đức kém, khơng có tinh thần trách nhiệm, dễ bị

cám dỗ thì sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay ch ỉ

dựa trên mối quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua

những điều kiện và thủ tục cần thiết.

Thứ hai: Sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng.

Cán bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải

ngân. Vậy nên nếu cấp trên khơng có sự kiểm tra, đánh giá xem quy ết

định của cán bộ đã thực sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín d ụng sẽ

là rất cao. Hơn nữa, sau khi giải ngân rồi, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp

SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



tục theo dõi khách hàng để sớm phát hiện ra dấu hiệu của nh ững kho ản

nợ có vấn đề. Tuy nhiên, việc theo dõi này đối v ới nhiều cán bộ ch ỉ mang

tính hình thức. Do vậy, nếu các cấp quản lý khơng có s ự giám sát đ ối v ới

cán bộ tín dụng, hoạt động của các cán bộ tín dụng sẽ khơng hiệu qu ả,

thậm chí dẫn đến những sai phạm đạo đức trong cho vay và thu n ợ.

Ngoài ra, các cơ quan cấp trên khơng quan tâm đến thực trạng tín dụng

của ngân hàng thì sẽ khơng có những chỉ đạo kịp thời để ngăn ngừa và

xử lý rủi ro xảy ra.

Thứ ba: Ngân hàng chưa đa dạng hoá các danh mục đầu tư.

Một cơng cụ ln được nhắc đến trong quản trị tín dụng ở tất cả các

ngân hàng trên thế giới là quản trị danh mục đầu tư. Quản trị danh mục

làm cân đối và kiềm chế rủi ro bằng cách nhận dạng, dự báo và kiểm soát

mức độ rủi ro với từng thị trường, khách hàng, loại sản phẩm tín dụng và

điều kiện hoạt động khác nhau. Nhiều chuyên gia ngân hàng tin rằng đa

dạng hố là giải pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng hữu hiệu nhất. Mặc dù

hiểu rõ tầm quan trọng của việc đa dạng hoá danh mục đầu tư, song rất

nhiều ngân hàng chỉ cho vay một hoặc hai ngành hoặc chỉ cho vay một vài

doanh nghiệp lớn, nhóm kinh doanh đơn lẻ. Một danh mục đầu tư phụ

thuộc chủ yếu vào một ngành hay một loại mặt hàng là rất nguy hiểm vì

khơng ngành nào là khơng có rủi ro.

Thứ tư: Định giá khoản vay khơng theo mức độ rủi ro của khách

hàng.

Về cơ cấu, lãi suất cho một khoản vay phải được xác định ở mức

đảm bảo bù đắp được chi phí vốn đầu vào, chi phí quản lý, ph ần l ợi

nhuận mong muốn và phần bù đắp rủi ro của khoản vay. Khách hàng



SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



được đánh giá có mức độ rủi ro càng cao, phần bù rủi ro càng lớn. Nh ưng

vì cạnh tranh nên một số ngân hàng có thể chấp nh ận m ức giá cho vay

thấp, thậm chí chỉ đủ chi phí vốn đầu vào và chi phí quản lý, khơng tính

đến phần bù rủi ro. Việc làm đó trong dài h ạn khơng nh ững làm gi ảm l ợi

nhuận mà còn làm tăng tính rủi ro trong hoạt động tín dụng c ủa ngân

hàng.



SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



1.1.4.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng

Thứ nhất: Do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả

nợ.

Trường hợp này rất phổ biến do khách hàng có trình độ yếu kém

trong dự đốn các vấn đề kinh tế, yếu kém trong năng l ực qu ản lý, s ử

dụng vốn sai mơc đích, sản phẩm chất lượng thấp khơng bán được…

Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng lao vào những cơ hội kinh

doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, mà khơng tính

tốn kỹ hoặc khơng có khả năng tính tốn những bất trắc có th ể x ảy ra

nên khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất lớn.

Thứ hai: Do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng.

Để đạt được mục đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn

sàng tìm mọi thủ đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc

cung cấp các báo cáo tài chính sai lệch. Trong trường hợp này, nếu không

phát hiện ra, ngân hàng sẽ đánh giá sai về khả năng tài chính c ủa khách

và cho vay vốn với khối lượng và thời hạn không h ợp lý, d ẫn đ ến r ủi ro

tiềm ẩn là rất cao. Ngồi ra, cũng có những trường hợp người kinh

doanh có lãi song vẫn khơng trả nợ cho ngân hàng đúng h ạn mà cố tình

kéo dài với ý định không trả nợ hoặc tiếp tục sử dụng vốn vay càng lâu

càng tốt.

1.1.4.3 Nguyên nhân khác

Những nguyên nhân này phần lớn xuất hiện từ môi tr ường xung

quanh như chất lượng thông tin, biến động kinh tế, chính sách pháp

luật…



SV: Mạc Thị Quế Trinh



Lớp: CQ50/15.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×