Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

13

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



và ảnh hưởng nghiệm trọng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Có nhiều

đinh nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:

Theo Henie Van Greuning, Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được

đinh nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn

gốc so với thời hạn đã ấn đinh trong hợp đờng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có

của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bi trì hỗn, hoặc tời tệ

hơn là khơng chi trả được toàn bộ, điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển

tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. (Analyzing banking

Risk (1999), the World Bank).

Còn theo Timothy .Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro

xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng khơng thanh tốn vốn gốc

và lãi theo thoả thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay dổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và

giá tri của vốn xuất phát từ việc khách hàng khơng thanh tốn hay thanh tốn trễ

hạn (Bank Management (1995), University of South Carolina, The Dryden Press,

page 107).

Theo Khoản 1, Điều 3 quy đinh về phân loại tài sản có, mức trích, phương

pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt

động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi trong Thơng tư

02/2013/TT – NHNN ban hành ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà

nước thì rủi ro tín dụng được đinh nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động

ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ

chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi do khách hàng khơng thực hiện

hoặc khơng có khả năng thực hiện một phần hoặc tồn bộ nghĩa vụ của mình theo

cam kết.”

Như vậy, hiểu một cách cơ bản nhất: “ Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi

một bên hoặc các bên tham gia hoạt động tín dụng khơng có khả năng thanh tốn

cho các bên còn lại theo các nghĩa vụ đã cam kết trước đó.”



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



14

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



Rủi ro tín dụng khơng chỉ giới giạn ở hoạt động cho vay mà còn bao gờm

nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của Ngân hàng thương mại như: hoạt

động cho vay tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín

dụng khác.

Đối với các nước đang phát triển (như ở Việt Nam), tín dụng được coi là dich

vụ sinh lời chủ yếu và thậm chí gần như là duy nhất (đặc biệt là đối với các ngân

hàng nhỏ). Vì vậy, Rủi ro tín dụng cao hay thấp sẽ quyết đinh hiệu quả kinh doanh

của ngân hàng.

1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng

Tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và hoặc lãi quá

hạn.

Tỷ lệ nợ quá hạn



= x100%



Ngân hàng có tỷ lệ nợ quá hạn cao thì rủi ro càng lớn vì với những khoản nợ

khơng thu hời được sẽ ảnh hưởng đến q trình khai thác và sử dụng vốn của ngân

hàng, phá vỡ kế hoạch kinh doanh và đặc biệt nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng thanh

toán của ngân hàng.

Tỷ lệ nợ xấu

Theo quyết đinh số 22/VBHN-NHNN ban hành ngày 04/06/2014 về “Ban

hành Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro tín

dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” thì nợ xấu (NPL) là các

khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5.

Trong đó:

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gờm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



15

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều

chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy đinh tại Điểm b Khoản

này;

- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng

trả lãi đầy đủ theohợp đờng tín dụng;

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy đinh tại Khoản 3 Điều

này.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gờm:

- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo

thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy đinh tại Khoản 3 Điều

này.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên

theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn

trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bi quá

hạn hoặc đã quá hạn;

- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý;

- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy đinh tại Khoản 3 Điều

này.



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



16

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



Nội dung khoản 3 bao gồm:

- Tồn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân

loại vào cùng một nhóm nợ. Đối với khách hàng có từ hai (02) khoản nợ trở lên tại

tổ chức tín dụng mà có bất cứ một khoản nợ nào bi phân loại theo quy đinh tại

Khoản 1 Điều này vào nhóm có rủi ro cao hơn các khoản nợ khác, tổ chức tín dụng

phải phân loại lại các khoản nợ còn lại của khách hàng vào nhóm có rủi ro cao nhất

đó.

- Đối với khoản cho vay hợp vốn, tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực

hiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy đinh tại Điều này và

phải thông báo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp

vốn. Trường hợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác

tại tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ khơng

cùng nhóm nợ của khoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân

loại, tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả

phần dư nợ cho vay hợp vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức

tín dụng đầu mối phân loại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân

loại tùy theo nhóm nợ nào có rủi ro cao hơn.

- Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào

các nhóm theo quy đinh tại Khoản 1 Điều này vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo

đánh giá của tổ chức tín dụng khi xảy ra một trong các trường hợp sau đây:

+ Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh

doanh của khách hàng;

+ Các khoản nợ của khách hàng bi các tổ chức tín dụng khác phân loại vào

nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thơng tin);

+ Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng

thanh toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bi

suy giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm;



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



17

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



+ Khách hàng khơng cung cấp đầy đủ, kip thời và trung thực các thơng tin tài

chính theo u cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách

hàng.

Tỷ lệ nợ xấu = x100%

Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu để đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín

dụng. Nếu tỷ lệ này càng cao thì rủi ro tín dụng cao vì đây là những khách hàng có

dấu hiệu khó khan về mặt tài chính nên khó trả nợ cho ngân hàng.

Tỷ lệ nợ mấtt vốn:

Tỷ lệ nợ mất vốn = x100%

Dư nợ mất vốn là các khoản nợ thuộc nhóm 5.

Tỷ lệ mất vốn càng cao thì thiệt hại cho ngân hàng càng lớn vì nó phản ánh

những khoản tín dụng bi mất và phải dùng quỹ dự phòng để bù đắp.

Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Theo quyết đinh số 22/VBHN-NHNN:

- Dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn

thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng khơng thực hiện nghĩa vụ

theo cam kết. Dự phòng rủi ro được tính theo dư nợ gốc và hạch tốn vào chi phí

hoạt động của tổ chức tín dụng. Dự phòng rủi ro bao gờm: Dự phòng cụ thể và Dự

phòng chung.

- Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại cụ thể các

khoản nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra. Tỷ lệ trích lập đối với từng

nhóm nợ như sau: nhóm 1 là 0%; nhóm 2 là 5%; nhóm 3 là 20%; nhóm 4 là 50%;

nhóm 5 là 100%.

- Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn

thất chưa xác đinh được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể

và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tín dụng khi chất



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



18

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



lượng các khoản nợ suy giảm. Tổ chức tín dụng thực hiện trích lập và duy trì dự

phòng chung bằng 0,75% tổng giá tri của các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.

Tỷ lệ dự phòng rủi ro đã trích lập = x100%

Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng không tốt và

rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải càng cao.

Tỷ lệ bù đắp rủi ro

Theo quyết đinh số 22/VBHN-NHNN, với các trường hợp sau thì ngân hàng

được sử dụng quỹ dự phòng để xử lí rủi ro tín dụng:

- Khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp bi giải thể, phá sản theo quy đinh của

pháp luật; cá nhân bi chết hoặc mất tích.

- Các khoản nợ thuộc nhóm 5 được quy đinh tại Điều 6 và Điều 7 Quy đinh

này. Riêng các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý, tổ chức tín dụng được sử

dụng dự phòng (nếu có) để xử lý rủi ro tín dụng.

Tỷ lệ bù đắp rủi ro= x100%

1.2.3 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

1.2.3.1. Nguyên nhân từ phía mơi trường kinh doanh

Mơi trường kinh tế tác động mạnh đến hoạt động kinh doanh của các

NHTM. Khi nền kinh tế đang tăng trưởng ổn đinh thì các doanh nghiệp làm ăn có

hiệu quả và một khi các khách hàng của NHTM kinh doanh hiệu quả thì sẽ có nhiều

khả năng trả nợ cho NHTM. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thối,

mất ổn đinh khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động, sản xuất

bi đình trệ, sức mua bi giảm sút, hàng hóa bi ứ đọng. Điều này tất yếu ảnh hưởng

đến khả năng trả nợ các khoản vay của NHTM.

Các chính sách kinh tế vĩ mơ của chính phủ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến

hoạt động của các NHTM. Chẳng hạn: Chính phủ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng

kinh tế cao, điều này sẽ tiềm ẩn nguy cơ lạm phát leo thang; khi lạm phát tăng cao



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



19

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



sẽ làm tăng chi phí đầu vào trong kinh doanh của các khách hàng, gây khó khăn

trong khâu tiêu thụ sản phẩm. Hậu quả là năng lực trả nợ của các khách hàng đối

với NHTM sẽ bi suy giảm; Chính phủ thay đổi các chính sách tài chính, tiền tệ ... sẽ

ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động kinh doanh của các NHTM...

Nguyên nhân bất khả kháng (thiên tai, đich họa, những thay đổi nhu cầu của

người tiêu dùng hoặc về kỹ thuật công nghệ của một ngành nào đó) có thể làm phá

sản cả một hãng kinh doanh và đặt người đi vay từng làm ăn có hiệu quả vào thế

thua lỗ, mất khả năng trả nợ. Điều này đặt các NHTM vào tình thế phải đối mặt với

rủi ro mất vốn khi phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình. Hơn nữa, ảnh

hưởng từ nguyên nhân này, đặc biệt là những thiên tai, thảm họa tự nhiên là khó

đốn, khó phòng ngừa và khi thảm họa xảy ra thì cả ngân hàng và khách hàng đều

phải gánh chiu tổn thất.

Nguyên nhân thông tin không cân xứng. NHTM thực hiện các nghiệp vụ tài

sản Nợ, tài sản Có, chuyển vốn từ người gửi tiền sang người vay tiền. Toàn bộ các

giao dich này sẽ suôn sẻ nếu các bên tham gia đều có những thơng tin và hiểu biết

đầy đủ về nhau. Song thực tế là một bên thường không biết hết những gì cần biết về

phía bên kia và sự khơng cân bằng về thơng tin mà mỗi bên có được như vậy được

gọi là “thông tin không cân xứng”. Việc thiếu thông tin trong các giao dich sẽ đưa

đến “sự lựa chọn đối nghich” và rủi ro đạo đức. Thơng tin khơng cân xứng trên thi

trường tài chính khiến các NHTM phải đối mặt với nguy cơ rủi ro cao.

1.2.3.2. Ngun nhân từ phía khách hàng

Trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu

kém trong quản lý, chủ đinh lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ì, đây là các nguyên

nhân gây RRTD.

Khách hàng vay vốn khơng có khả năng trả nợ ngân hàng.

Khách hàng yếu kém trong quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính: Trường

hợp người vay có trình độ yếu kém về quản lý, khơng tính tốn kỹ lưỡng hoặc

khơng có khả năng tính tốn kỹ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, khơng có khả

Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



20

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



năng thích ứng và khắc phục khó khăn trong kinh doanh sẽ dẫn tới vốn vay khơng

được sử dụng hiệu quả. Ngồi ra, việc yếu kém trong quản lý tài chính có thể dẫn

tới trường hợp dù dự án hay quá trình sản xuất kinh doanh có hiệu quả song ng̀n

trả nợ ngân hàng sẽ không được đảm bảo

Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Khi người vay

gặp những rủi ro từ thi trường (ví dụ nhu cầu về loại sản phẩm của doanh nghiệp bất

ngờ giảm sút do một số thông tin bất lợi), từ bạn hàng (ví dụ doanh nghiệp bi bạn

hàng chiếm dụng vốn và khơng hồn trả đúng thời hạn quy đinh) hoặc từ những rủi

ro không dự kiến được tác động đến nguồn thu của doanh nghiệp và khả năng trả nợ

ngân hàng.

Khách hàng chủ định lừa đảo ngân hàng.

Trường hợp này người vay kinh doanh có lãi song vẫn khơng trả nợ cho ngân

hàng đúng hạn hoặc không muốn trả nợ ngân hàng. Họ chây ì với hy vọng có thể

quỵt nợ hoặc sử dụng vốn vay càng lâu càng tốt.

1.2.3.3. Nguyên nhân từ phía ngân hàng

Quan điểm của lãnh đạo điều hành.

Ban lãnh đạo ngân hàng thường đề ra mức rủi ro tối đa có thể chấp nhận

được trong mỗi thời kỳ (khẩu vi rủi ro). Do rủi ro càng cao thì lợi nhuận kỳ vọng

càng lớn, nên có một số ngân hàng chấp nhận cho vay những dự án mạo hiểm để

thu về lợi nhuận cao. Nếu NHTM có quan điểm đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên nhất

thì cơ chế quản lý sẽ khuyến khích và tạo điều kiện để bộ phận có liên quan tìm

kiếm, quyết đinh những khoản cho vay, đầu tư có thu nhập kỳ vọng cao nhưng tiềm

ẩn rủi ro lớn; đồng thời các quy đinh về kiểm tra, kiểm soát, đặc biệt là tiêu chuẩn

để xem xét, đánh giá khi quyết đinh cho vay cũng sẽ thấp hơn trong khi tiêu chí về

khả năng sinh lời rất được coi trọng. Trường hợp ngược lại nếu quan điểm kinh

doanh lấy an tồn là chính thì các quy đinh về cơ chế quản lý tài sản trong việc

thẩm đinh, xem xét trước khi ra quyết đinh cho vay, đầu tư sẽ chặt chẽ hơn, cụ thể

hơn, các tiêu chuẩn để phục vụ cho việc ra quyết đinh, việc kiểm tra, giám sát cũng

Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



21

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



được đặt ở mức cao hơn. Các NHTM phải biết lựa sức mình để xác đinh lợi nhuận

hợp lý.

Sự yếu kém về công nghệ của ngân hàng.

Ngày nay trình độ cơng nghệ là yếu tố quan trọng trong tổ chức kinh doanh

ngân hàng, đặc biệt là đối với quản lý RRTD. Vì trình độ cơng nghệ càng cao càng

trợ giúp cho ngân hàng sàng lọc những khách hàng, ngành nghề đang có mức độ rủi

ro cao cũng như các cơ sở dữ liệu thông tin về từng khách hàng. Ở các nước phát

triển, công nghệ ngân hàng cũng rất phát triển, đặc biệt là trong điều kiện có sự hỗ

trợ hết sức hiệu quả của công nghệ thông tin như ngày nay. Công nghệ ngân hàng

thể hiện ở mức độ tập trung thông tin, ở khả năng phân tích, xử lý thơng tin, từ đó

rút các kết luận, nhận đinh phục vụ cho quản tri ngân hàng như các nhân tố ảnh

hưởng đến chất lượng, tình hình phân bổ tài sản, mức độ tập trung rủi ro.... cơng

nghệ của ngân hàng còn thể hiện khả năng chi phối, kiểm soát đối với hoạt động

của các bộ phận tác nghiệp. Ở mỗi trình độ cơng nghệ khác nhau đều phải đòi hỏi

một cơ chế quản lý khác nhau.

Trình độ của cán bộ ngân hàng.

Chất lượng CBTD đóng vai trò then chốt trong việc sàng lọc được các khách

hàng tốt, dự án tốt. CBTD phải tiếp xúc với nhiều khách hàng ở nhiều lĩnh vực kinh

doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chí nhiều quốc gia khác nhau. Để đánh

giá tốt khách hàng, họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh

doanh, môi trường mà khách hàng sống. CBTD phải có khả năng dự báo các vấn đề

liên quan đến khách hàng vay. Như vậy, CBTD phải được đào tạo và tự đào tạo kỹ

lưỡng và toàn diện. Khi CBTD cho vay đối với khách hàng mà họ chưa đủ trình độ

để hiểu kỹ lưỡng, RRTD ln rình rập họ. Ngun nhân rủi ro từ sự yếu kém của

đội ngũ nhân viên ngân hàng có thể từ việc: khơng phân tích đầy đủ khả năng quản

lý kinh doanh của doanh nghiệp; phân tích báo cáo tài chính khơng chính xác, khơng

biết đánh giá món vay có hiệu quả thật hay sẽ có nhiều rủi ro; kiến thức về mặt kinh tế

xã hội luật pháp của nhân viên ngân hàng hạn chế, không nắm vững được quy chế



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



22

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



thể lệ tín dụng cũng dẫn đến rủi ro; hay việc đinh kỳ hạn trả nợ khơng chính xác

cũng có thể gây ra rủi ro.

Đạo đức của cán bộ tín dụng.

Với các khoản vay càng nhiều rủi ro và khơng đảm bảo những điều kiện tín

dụng đặt ra, khách hàng vay thường bỏ ra những khoản “hoa hồng” rất lớn để có thể

vay được tiền. Điều này dẫn tới tình trạng một số CBTD cố ý làm sai quy trình tín

dụng hay bỏ sót một vài bước trong quy trình để nhằm nhận được những khoản

"hoa hờng" từ khách hàng. Bởi vậy, chất lượng CBTD bao gờm trình độ và đạo đức

nghề nghiệp không đảm bảo cũng sẽ dẫn đến RRTD.

Yếu kém trong việc phối hợp tác nghiệp.

RRTD có thể xuất phát từ tất cả các khâu của q trình cấp tín dụng của

NHTM bao gờm: Trong giai đoạn trước khi cho vay, trong giai đoạn giải ngân và

trong giai đoạn quản lý khoản vay của khách hàng.

Ở giai đoạn trước khi cho vay việc không chấp hành nghiêm túc chế độ tín

dụng, điều kiện cho vay; xem xét, đánh giá khách hàng, khoản vay không kỹ, không

tốt sẽ dẫn đến khả năng xảy ra RRTD trong tương lai.

Ở giai đoạn giải ngân và giai đoạn quản lý khoản vay: Giải ngân không tuân

thủ theo điều kiện; yếu kém trong kiểm sốt, theo dõi (khơng kiểm sốt mục đích sử

dụng vốn vay của khách hàng, việc kiểm tra tình hình sản xuất kinh doanh và tình

hình tài chính của khách hàng bi bng lỏng, việc kiểm sốt, theo dõi danh mục

khoản vay không được thực thi một cách có hiệu quả) sẽ dẫn đến khả năng xảy ra

RRTD trong tương lai.

1.2.4 Sự cần thiết phải phòng ngừa rủi ro tín dụng

a. Đối với bản thân ngân hàng

Các nhà kinh tế học gọi ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”. Thực tế đã

chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như trong lĩnh

vực kinh doanh tiền tệ - tín dụng. Ngân hàng phải gánh chiu những rủi ro khơng

Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



23

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



những do ngun nhân chủ quan của mình, mà còn phải gánh chiu những rủi ro do

khách hàng gây ra. Vì vậy, rủi ro tín dụng của ngân hàng khơng những là cấp số

cộng mà có thể là cấp số nhân rủi ro của nên kinh tế.

Khi rủi ro xảy ra, trước tiên lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng sẽ bi ảnh

hưởng. Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì ngân hàng có thể bù đắp bằng khoản dự

phòng rủi ro và bằng vốn tự có, tuy nhiên nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng

mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Nghiêm trọng hơn, nếu rủi ro xảy ra ở mức độ

lớn, nguồn vốn của ngân hàng sẽ không đủ bù đắp, vốn khả dụng bi thiếu, lòng tin

của khách hàng giảm tất nhiên sẽ dẫn đến phá sản ngân hàng. Vì vậy, việc phòng

ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là một việc làm cần thiết đối với các ngân hàng

thương mại.

b. Đối với nền kinh tế

Trong nền kinh tế thi trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan

đến rất nhiều các thành phần kinh tế từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho

tới các tổ chức tín dụng khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh

kết quả sản xuất kinh doanh của nền kinh tế và đương nhiên nó phụ thuộc rất lớn

vào tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và khách hàng.

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không thể có kết quả tốt khi hoạt động kinh

doanh của nền kinh tế chưa tốt hay nói cách khác, hoạt động kinh doanh của ngân

hàng sẽ có nhiều rủi ro khi hoạt động nền kinh tế có nhiều rủi ro. Rủi ro xảy ra dẫn

tới tình trạng mất ổn đinh trên thi trường tiền tệ, gây khó khăn cho các doanh

nghiệp sản xuất kinh doanh, làm ảnh hường tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống

xã hội. Do đó, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng khơng những là vấn đề sống

còn với ngân hàng, mà nó còn là yêu cầu cấp thiết của nên kinh tế, góp phần vào sự

ổn đinh và phát triển của tồn xã hội.

1.3 Biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×