Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại

1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

9

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



vốn trong xã hội. Trái lại, với tư cách là người cho vay thì ngân hàng cung cấp tín

dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân.

1.1.2 Các hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại

Các hình thức tín dụng rất đa dạng và phong phú. Trong quản lí, để phân tích

và đánh giá các hoạt động tín dụng làm cơ sở cho việc hoạch đich các chính sách tài

chính tiền tệ, các nhà kinh tế thường dựa vào các tiêu thức sau đây để phân loại các

hình thức tín dụng:

a. Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng chia thành

- Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm. Tín dụng này

thường phục vụ cho việc huy động và bổ sung vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc

phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng bức thiết của dân cư.

- Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm. Loại

tín dụng này phục vụ cho nhu cầu mua sắm tài sản cố đinh, đầu tư mở rộng sản xuất

với quy mơ nhỏ, thu hời vốn nhanh.

- Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ 5 năm trở lên. Loại

tín dụng này được dùng để đầu tư phát triển hạ tầng cơ sở của nền kinh tế quốc dân,

đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất lao động và tạo vi thế cho các ngành công

nghiệp then chốt và khả năng hợp tác chuyên ngành và đa ngành, đờng thời góp

phần đổi mới cơ cấu của nền kinh tế quốc dân.

b. Căn cứ vào hình thức, tín dụng chia thành

- Cho vay: là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết

giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác đinh trong một

thời gian nhất đinh theo thỏa thuận với ngun tắc có hồn trả cả gốc và lãi.

- Chiết khấu: là việc mua có kỳ hạn hoặc mua có bảo lưu quyền truy đòi các

cơng cụ chuyển nhượng, giấy tờ có giá khác của người thụ hưởng trước khi đến hạn

thanh tốn.



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



10

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



- Bảo lãnh ngân hàng: là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh

về việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng khơng

thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.

- Bao thanh toán: là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên mua

hàng thơng qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải thu hoặc các

khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dich vụ theo hợp

đờng mua, bán hàng hố, cung ứng dich vụ.

- Các hình thức cấp tín dụng khác: thẻ ghi nợ, L/C,…

c. Căn cứ vào hình thức sử dụng vốn, tín dụng chia thành

- Cho vay sản xuất kinh doanh: là loại cho vay đáp ứng nhu cầu kinh doanh

của cá nhân, doanh nghiệp. Đối với loại cho vay này, điều kiện quan trọng nhất mà

ngân hàng quan tâm là tính hiệu quả của phương án kinh doanh vì đây chính là yếu

tố tạo ra ng̀n thu để trả nợ.

- Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá

nhân. Nguồn thu nợ với các khoản vay tiêu dùng là thu nhập của người vay. Vì vậy,

khi cho vay, ngân hàng phải xác đinh được mức thu nhập của người vay.

d. Căn cứ vào phương thức hồn trả, tín dụng chia thành

- Cho vay hoàn trả một lần: các khoản vay sẽ được hoàn trả một lần vào thời

gian xác đinh trong hợp đờng tín dụng, lãi vay có thể được hồn trả theo thỏa thuận

trong hợp đờng (theo tháng, q hoặc năm).

- Cho vay trả góp: việc hồn trả được tiến hành theo đinh kì, các khoản hồn

trả này có thể bằng nhau hoặc khơng bằng nhau tùy theo thỏa thuận và được thực

hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đờng.

1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại

a. Tín dụng ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



11

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



Trong nền kinh tế, tại một thời điểm tất yếu sẽ phát sinh hai loại nhu cầu là

người thừa vốn cho vay để hưởng lãi và người thiếu vốn đi vay để tiến hành hoạt

động sản xuất kinh doanh. Hai loại nhu cầu này ngược nhau nhưng cũng chung một

đối tượng là tiền, cũng chung nhau về tính tạm thời. Song, những người này khó có

thể trực tiếp gặp nhau hoặc nếu có thể gặp nhau thì chi phí rất cao và khơng thoả

mãn tính kip thời. Chính vì vậy, ngân hàng ra đời với vai trò là nơi hiểu biết rõ nhất

về tình hình cân đối giữa cung và cầu vốn trên thi trường. Và với hoạt động tín

dụng, ngân hàng đã giải quyết được hiện tượng thừa vốn, thiếu vốn bằng cách huy

động mọi nguồn tiền nhàn rỗi để phân phối lại vốn trên nguyên tắc có hồn trả,

phục vụ kip thời cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

b. Tín dụng ngân hàng tạo ra nguồn hỗ trợ cho quá trình sản xuất được diễn ra

bình thường và liên tục, góp phần đẩy nhanh q trình tái sản xuất mở rộng, đầu tư

phát triển kinh tế.

Hoạt động tín dụng ngân hàng đã biễn các phương tiện tiền tệ tạm thời nhàn

rỗi trong xã hội thành những phương tiện hoạt động kinh doanh có hiệu quả, thúc

đẩy các ng̀n lực sẵn có tham gia vào hoạt động sản xuất, lưu thơng hàng hóa, đẩy

nhanh q trình tái sản xuất mở rộng. Mặt khác, việc cung ứng vốn một cách kip

thời của tín dụng ngân hàng đáp ứng được nhu cầu về vốn lưu động, vốn cố đinh

của các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được diễn ra liên tục,

tránh tình trạng phải tạm dừng sản xuất vì thiếu vốn, đờng thời tạo điều kiện cho các

doanh nghiệp có vốn để ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật nhằm thức đẩy

nhanh quá trình sản xuất, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng.

c. Tín dụng ngân hàng thúc đẩy việc sử dụng vốn có hiệu quả

Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hồn trả và có lãi suất. Ngân

hàng huy động ng̀n vốn nhàn rỗi trong xã hội và cho những người thiếu vốn vay

để phục vụ các nhu cầu của họ như vay tiêu dùng, vay để phục vụ sản xuất kinh

doanh… Khi sử dụng vốn vay của ngân hàng, những người vay vốn phải tơn trọng

mọi điều kiện ghi trong hợp đờng tín dụng, trả nợ vay đúng hạn cả gốc và lãi. Do



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



12

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



đó, thúc đẩy những người vay vốn phải tìm mọi biện pháp tăng hiệu quả sử dụng

vốn, giảm chi phí, tăng vong quay vốn… để mang lại lợi lợi nhuận cho doanh

nghiệp, đờng thời có ng̀n để chia trả vốn vay và lãi vạy.

d. Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại

Mỗi quốc gia muốn phát triển nền kinh tế của mình thì không thể chỉ dựa vào

tiềm năng của đất nước mà còn phải mở rộng quan hệ kinh tế ra bên ngoài, tham gia

vào nền kinh tế thế giới, bởi lẽ khơng có một nước nào lại có thể hội tụ đầy đủ các

tiềm năng để phát triển kinh tế mọi mặt, mà các nước đểu chỉ có lợi thế so sánh của

mình. Do đó, nó thường phát sinh quan hệ vay mượn lẫn nhau, mà chủ yếu là vốn

đầu tư. Vì vậy, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối

liền nền kinh tế các nước với nhau.

Thơng qua các hình thức như nhận ủy thác đầu tư, mở và thanh tốn thư tín

dụng, bảo lãnh hàng hóa xuất khẩu, chuyển tiền nhanh đi các nơi… tín dụng ngân

hàng đã trực tiếp tham gia vào quan hệ thanh toán quốc tế, hoạt động xuất nhập

khẩu hàng hóa, tài trợ cho các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư chiều sâu, đổi mới

công nghệ và ứng dụng khoa học cơng nghệ vào sản xuất trong nước, góp phần thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế và mở ra sự giao lưu giữa nước ta với các nước khác trên

thế giới.

1.2 Rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh

đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất

lớn. Các thống kê và nghiên cứ cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng

rủi ro hoạt động của ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dich trong cơ cấu

lợi nhuận của ngân hàng theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm

xuống và thu nhập dich vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn

chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập của ngân hàng (Peter Rose, Quản trị Ngân hàng

thương mại). Rủi ro tín dụng là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất

Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



13

Khóa luận tốt nghiệp



Học viện tài chính



và ảnh hưởng nghiệm trọng đến chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Có nhiều

đinh nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng:

Theo Henie Van Greuning, Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được

đinh nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn

gốc so với thời hạn đã ấn đinh trong hợp đờng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có

của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bi trì hỗn, hoặc tời tệ

hơn là khơng chi trả được tồn bộ, điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển

tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. (Analyzing banking

Risk (1999), the World Bank).

Còn theo Timothy .Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro

xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng khơng thanh tốn vốn gốc

và lãi theo thoả thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay dổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và

giá tri của vốn xuất phát từ việc khách hàng khơng thanh tốn hay thanh toán trễ

hạn (Bank Management (1995), University of South Carolina, The Dryden Press,

page 107).

Theo Khoản 1, Điều 3 quy đinh về phân loại tài sản có, mức trích, phương

pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lí rủi ro trong hoạt

động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi trong Thông tư

02/2013/TT – NHNN ban hành ngày 21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà

nước thì rủi ro tín dụng được đinh nghĩa như sau: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động

ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ

chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngồi do khách hàng khơng thực hiện

hoặc khơng có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo

cam kết.”

Như vậy, hiểu một cách cơ bản nhất: “ Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi

một bên hoặc các bên tham gia hoạt động tín dụng khơng có khả năng thanh tốn

cho các bên còn lại theo các nghĩa vụ đã cam kết trước đó.”



Đỗ Chí Thanh



Lớp: CQ50/15.08



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tổng quan về tín dụng ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×