Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
BẢNG 2.15: CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU SUẤT VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD

BẢNG 2.15: CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU SUẤT VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD

Tải bản đầy đủ - 0trang

 EBIT trong năm 2015 giảm so với năm 2014 là 995 triệu ứng với tỷ lệ

giảm là 11,55%. Mặc dù trong năm 2015, lợi nhuận trước thuế tăng nhưng

EBIT lại giảm, nguyên nhân của sự giảm đi của EBIT là do trong năm 2015

lợi nhuận trước thuế của DN tăng nhưng mức tăng thấp hơn mức giảm của chi

phí lãi vay. Chi phí lãi vay trong năm 2015 giảm so với 2014, trong năm

2015, DN phải trả lãi vay là 368,3 triệu ít hơn so với năm 2014 là 333,6 triệu

với tỷ lệ giảm là 90,56% cho thấy DN đã thực hiện vay nợ ít hơn nhiều so với

năm 2014. Do đó, EBIT năm 2015 chỉ đạt khoảng 7.623 triệu, giảm đi so với

năm 2014 là 995 triệu đồng.

 VKD bình quân tại thời điểm cuối năm 2015 giảm so với thời điểm đầu

năm. Cụ thể, VKD bình quân tại thời điểm cuối năm 2015 đạt hơn 180 tỷ

đồng, giảm so với đầu năm là 10.829 tỷ ứng với tỷ lệ giảm là 5.67%. VKD

giảm đi trong năm 2015 là do sự giảm đi của cả tài sản ngắn hạn và tài sản dài

hạn. Trong nhóm TSNH, mặc dù tiền và tương đương tiền chiếm tỷ trọng

không cao nhưng có sự giảm đi khá mạnh. Phải thu ngắn hạn, hàng tồn kho và

tài sản ngắn hạn khác đều tăng nhưng tỷ lệ tăng là rất thấp và không thể bù trừ

cho sự giảm đi của tiền và tương đương tiền, do đó TSNH của DN năm 2015

giảm.TSDH cuối năm 2015 cũng giảm đi so với đầu năm, nguyên nhân chủ

yếu là do DN không đầu tư thêm mới cho các nhóm TSCĐ, đặc biệt khi các

TSCĐ hữu hình đã sử dụng khá lâu và giá trị còn lại thấp hơn nữa TSCĐ vơ

hình đã hết giá trị khấu hao từ năm 2014. Chi phí xây dựng cơ bản dở dang

của DN chiếm tỷ trọn lớn nhất trong tổng TSDH, tuy nhiên chỉ tiêu này cũng

giảm làm cho tổng TSDH của DN cũng giảm. Vấn đề đặt ra là DN cần cân

nhắc đầu tư vào TSNH và TSDH, với các loại TSCĐ có GTCL thấp thì DN

nên áp dụng khấu hao nhanh để thu hồi vốn nhanh. Để phục vụ cho hoạt động

sản xuất kinh doanh của mình, DN cũng nên mua sắm đầu tư thiết bị mới để

nâng cao năng suất và hiệu quả sử dụng VKD.



 VCSH bình quân tăng trong năm 2015 so với 2014 là 2.909 triệu đồng

ứng với tỷ lệ tăng là 2,68%. Sự tăng lên của VCSH bình quân là do trong năm

2015 chủ yếu là từ các nguồn quỹ và lợi nhuận chưa phân phối. Như ta thấy,

trong năm 2015, vốn đầu tư của CSH không đổi, tuy nhiên các quỹ như quỹ

đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, các quỹ khác thuộc VCSH đều tăng.

Lợi nhuận chưa phân phối năm 2015 đạt 6,4 tỷ, tăng so với năm 2014 là 842

triệu đồng, ứng với tỷ lệ tăng là 15,12%. Việc DN gia tăng huy động vốn từ

nguồn lực bên trong cho thấy DN có tiềm lực tài chính khá mạnh, góp phần

nâng cao tính tự chủ về tài chính của mình. Huy động và sử dụng vốn bên

trong khá an toàn cho DN, giúp DN tránh khỏi các rủi ro về thanh toán đối

với viêc trả nợ khi đến hạn. Tuy nhiên DN cũng nên cân nhắc việc sử dụng

VCSH sẽ hạn chế gia tăng được lợiích của CSH, do khơng tạo ra được áp lực

về thanh tốn đúng hạn. Trong khi đó nếu sử dụng vốn đi vay, DN sẽ phải đối

mặt với áp lực thanh toán, mà sẽ có chính sách, kế hoạch tài chính phù hợp.

việc sử dụng vốn vay bên ngoài sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tăng sử

dụng đòn bẩy kinh doanh, gia tăng lợiích VCSH nếu DN có kế hoạch tài

chính hợp lý và chính xác.

 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu qua sử dung VKD đều tăng trong năm

2015 so với 2014. Cụ thể như sau:

TSLNST trên DTT (ROS): ROS trong năm 2015 là 1,03% giảm so với

năm 2014(1,04%) là 0,01 ứng với tỷ lệ giảm là 0.96%. Sự giảm đi của ROS

có thể giải thích là do trong năm, mặc dù cả hai chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế và

DTT đều tăng nhưng tốc độ tăng của DTT nhanh hơn tốc độ tăng của LNST

nên ROS giảm. ROS giảm là sự thay đổi không tốt đối với DN. Chỉ số này

cho biết, một đồng DTT sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng LNST. Như vậy ta có

năm 2015, một đồng DTT tạo ra được0,0103 đồng LNST và đã tạo ra kém



hơn so với năm 2014 là 0,01% đồng LNST. Chỉ số ROS càng cao càng cho

thấy khả năng sinh lời của DTT.

Tỷ suất sinh lời kinh tế của TS (BEP):có xu hướng tăng trong năm

2015 so với năm 2014. Cụ thể, trong năm 2015, BEP đạt 4,16% và trong năm

chỉ số này đạt 4,6% và đã tăng thêm 0,44% so với năm 2014. Như vậy, so với

năm 2014, năm 2015 khả năng sinh lời kinh tế của TS đã được cải thiện và

tăng thêm 0,44% ứng với tỷ lệ tăng là 10,58%. Sự tăng lên của chỉ tiêu này

cho thấy khả năng sinh lời của TS khá hiệu quả , cho biết 1 đồng tài sản bỏ ra

đầu tư sẽ tạo ra thêm được 0,44% đồng LNST so với năm 2014. BEP càng

cao thì khả năng sinh lời của TS càng cao.

Tỷ suất sinh lời của LNTT trên VKD: Trong năm 2015, chỉ số này đạt

4,58% tăng thêm 0,61% so với năm 2014 (3,97%). Sự tăng lên của chỉ tiêu

này là do mặc dù trong kỳ, cả LNTT và DTT đều tăng, song do tốc độ tăng

của LNTT nhanh hơn so với tốc độ tăng của DTT nên làm cho chỉ tiêu này

tăng. Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả hoạt động của DN, năm 2015, 1 đồng

DTT tạo ra thêm được 0,61% đồng LNTT. Chỉ tiêu này càng cao càng chứng

tỏ hiệu quả sinh lời của DN.

TSLNST trên VKD (ROA):

ROA= x

= Hệ số lãi ròng x Vòng quay tồn bộ vốn

Trong năm 2015 tăng lên so với năm 2014. Cụ thể, năm 2015, TSLNST

trên VKD của DN đạt 3,55%, tăng 0,64% so với năm 2014 ứng với tỷ lệ tăng

là 21,99%. Sự tăng lên của chỉ tiêu này là do trong năm 2015, LNST tăng khá

nhanh (15,37%), mặt khác, VKD bình quân của DN năm 2015 giảm so với

2014 làm cho ROA của DN tăng. Mức tăng của ROA năm 2015 so với năm

2014 là 0,64% cho thấy 1 đồng TS đưa vào sử dụng sẽ tạo ra thêm 0,64%



đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao cho thấy hiệu quả hoạt động

của VKD càng cao.

Khả năng sinh lời VCSH (ROE):

ROE =



Hệ số lãi ròng x



Vòng quay tồn bộ



x Mức độ sử dụng



vốn



đòn bẩy tài chính



Trong đó:

Mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính =

Tăng lên trong năm 2015, năm 2015, ROE của DN đạt 5,75% và đã tăng

lên so với năm 2014 là 5,13% ứng với tỷ lệ tăng là 23,2%. Sự tăng lên của tỷ

suất sinh lời của VCSH là do trong kỳ LNST tăng lên, mặc dù VCSH cũng

tăng nhưng tốc độ tăng của VCSH(2,68%) thấp hơn so với LNST(15,12%)

nên ROE của DN tăng. Chỉ tiêu này cho biết, khi đem một đồng VCSH đầu

tư có thể sinh lời được bao nhiêu đồng LNST. So với năm 2014, trong năm

2015, 1 đồng VCSH đã tạo thêm được 0,62% đồng LNST. Chỉ tiêu này càng

cao, chứng tỏ DN hoạt động kinh doanh càng hiệu quả, hiệu quả vốn chủ sở

hữu càng cao. Đây là một chỉ tiêu rất quan trọng đánh giá kết quả hoạt động

của DN, do đó, DN cần có kế hoạch tài chính phù hợp giữa huy động vốn bên

ngồi và tự tài trợ để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Vòng quay toàn bộ vốn: chỉ tiêu này của DN đang có xu hướng tăng

trong giai đoạn 2014-2015. Cụ thể, năm 2014, vòng quay tón bộ vốn kinh

doanh đạt 2,8 vòng, bước sang 2015 tốc độ luân chuyển VKD đạt 3,45 vòng

ứng với số tăng tuyệt đối là 0,65 vòng, tốc độ tăng là 23,2%. Vòng quay VKD

cao hơn so với trung bình ngành. Sự tăng lên của vòng quay VKD là do DTT

tăng và sự giảm sút của VKD, điều này làm cho vòng quay VKD tăng lên.

Đây là dấu hiệu tốt trong năm 2015. DN hoạt động khá hiệu quả, tốc độ luân

chuyển VKD tăng phản ánh trình độ quản lý VKD tốt của DN.



Tóm lại, qua phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng VKD, ta

thấy rằng các chỉ tiêu về tỷ suất sinh lời hầu hết đầu tăng trừ chỉ tiêu lợi nhuận

sau thuế trên doanh thu (ROS) trong năm 2015. Trong thời kỳ kinh tế khó

khăn mà DN vẫn tăng trưởng, hầu hết các chỉ tiêu sinh lời đều tăng, điều này

phản ánh năng lực tài chính khá mạnh của DN cũng như những nỗ lực của

DN trong việc quản lý VCĐ và VLĐ. Vốn trong thanh tốn có nhiều chuyển

biến tích cực: các khoản bị chiếm dụng giảm, gia tăng vốn đi chiếm dụng giúp

tiết kiệm chi phí, lượng vốn bằng tiền còn thấp làm gia tăng áp lực thanh tốn

các khoản nợ ngắn hạn. Nhìn chung, hiệu quả sử dụng VCĐ và VLĐ đều

được cải thiện, cơ cấu phân bổ vốn có thể coi là hiệu quả. Nguyên tắc cân

bằng tài chính được dảm bảo giúp cơng ty ổn định trong sản xuất và an tồn

trong thanh tốn một cách tạm thời. VCĐ được tổ chức quản lý và sử dụng

tương đối hiệu quả nhưng cần phải chú trọng tới việc khai thác tối đa cơng

suất của các TSCĐ hiện có trong cơng ty và chính sách đầu tu hợp lý, từ đó

làm tăng vòng quay VCĐ và vòng quay tồn bộ vốn.

Nhưng cũng phải nhìn vào thực trạng của DN là DN vẫn chưa sử dụng

vốn với hiệu quả cao, cơng tác quản lý có được quan tâm song DN cần tập

trung vào việc phân bổ VCĐ và VLĐ cho hợp lý, cũng như cân đối huy động

vốn bên ngoài với vốn bên trong sao cho tăng khả năng sinh lời của VKD.

Đặc biệt trong nền kinh tế ngày càng hội nhập như giai đoạn ngày nay, DN

cần đưa ra các bài tốn và tình huống khác nhau để có cách giải quyết chính

xác, nhanh gọn đem lại hiệu quả kinh tế cao.

2.3. NHẬN XÉT

2.3.1 Những thành tích đạt được trong việc tổ chức sử dụng VKD của

công ty TNHH tập đoàn Hoàng Phát Vissai trong năm 2015

Trong thời gian qua, Công ty đã sản xuất ra sản phẩm với chất lượng cao

, nhờ đó, cơng ty TNHH tập đồn Hồng Phát Vissai đã từng bước khẳng định



mình bằng kết quả kinh doanh khả quan, khắc họa vào tâm trí khách hàng

những sản phẩm xi măng đảm bảo chất lượng, tin cậy, hiệu quả, khai thác và

giá trị thương mại, các sản phẩm tiêu chuẩn từ thương hiệu uy tín và chất

lượng cao, ln làm hài lòng khách hàng. Trong các năm gần đây, cơng ty

ln làm ăn có lãi, số thuế nộp vào Ngân sách nhà nước ngày một tăng, đời

sống của đội ngũ công nhân ngày càng được cải thiện.

Xét về tình hình tổ chức quản lý và sử dụng VKD trong năm 2015, cơng ty

đã có những cố gắng nỗ lực nhất định, và thu được một vài thành tích như sau:

Thứ nhất: Cơng ty vẫn duy trì một lượng vốn lớn, phục vụ hoạt động sản

xuất kinh doanh và nhu cầu mở rộng tái đầu tư. Nguồn vốn cơng ty sử dụng

chủ yếu và có xu hướng gia tăng trong năm 2015 là nguồn vốn nội sinh được

bổ sung từ việc gia tăng các nguồn quỹ và lợi nhuận chưa phân phối, tuy sự

thay đổi chua thật sự lớn nhưng cũng chứng tỏ được nỗ lực của công ty trong

việc điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn kinh doanh, tăng khả năng tự chủ tài chính

của cơng ty.

Thứ hai: Về tính cân bằng về tài chính, trong những năm gần đây tính

cân bằng về tài chính đều được đảm bảo. Năm 2015 công ty không sử dụng

vay và nợ ngắn hạn trong khoản mục nợ ngắn hạn là quyết định đúng đắn vì

cơng ty sẽ giảm được chi phí lãi vay, giảm thiểu được rui ro trong thanh toán

các khoản vay nợ ngắn hạn.

Thứ ba: Về quản lý và sử dụng tài sản cố định, Công ty đã tận dụng gần

mức tối đa năng lực sản xuất của máy móc thiết bị vào sản xuất kinh doanh,

cơng suất của máy móc thiết bị huy động trên 90% công suất thiết kế qua các

năm. Công ty đã tận dụng tối đa nguồn vốn tự có và nguồn tự bổ sung.

Thứ tư: Tình trạng tài chính của Cơng ty rất khả quan, Cơng ty có khả

năng độc lập về tài chính cao, tạo điều kiện để Cơng ty huy động thêm nguồn

vốn cần thiết.



Thông qua việc quản lý và sử dụng vốn Cơng ty đã góp phần tạo uy tín

với khách hàng, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.

Cơng ty đã bảo tồn và phát triển vốn cố định và vốn lưu động trong

điều kiện khó hiện nay

Thứ năm: Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh khởi sắc hơn năm

2014, cụ thể lợi nhuận sau thuế tăng khá tốt trong khi vốn kinh doanh giảm

nhẹ, cả các chỉ tiêu ROA, ROE tăng đáng kể.

Thành tựu lớn nhất trong hoạt động sử dụng vốn là Công ty đã tạo ra lợi

nhuận lớn, tỉ suất lợi nhuận cao trong khi hiện nay nhiều doanh nghiệp làm ăn

thua lỗ, phá sản...

2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại

Trong năm 2015, bên cạnh những thành tích đạt được nêu trên thì còn

một số hạn chế sau:

Thứ nhất: Lượng tiền và tương đương tiền cuối năm giảm sút mạnh so

với đầu năm là dấu hiệu bất thường. Cuối năm 2015, tiền và các khoản tương

tiền có giá trị 42.724 triệu đồng, giảm 46,68% so với đầu năm và lượng tiền

cuối năm chỉ chiếm tỷ trọng 28,12% trong tổng vốn lưu động.

Tuy hệ số thanh toán nhanh và thanh toán hiện thời có tăng nhưng hệ số

thanh tốn tức thời lại giảm. Hệ số thanh toán tức thời cuối năm 2015 là 0,7

giảm 0,34 so với cuối năm 2014 và giảm xuống mức nhỏ hơn 1. Điều này

cũng đáng lo ngại bởi nếu các khoản nợ đến hạn, cơng ty có thể phải huy

động đến hàng hóa để trả nợ chứ khơng chỉ dùng tiền. Vì vậy, điều này phần

nào gây nên áp lực thanh toán tức thời cho doanh nghiệp, đặc biệt là vào thời

điểm nóng như cuối năm.

Thứ hai: Các khoản phải thu của cơng ty có trị giá 93.292 triệu đồng ở

thời điểm cuối năm và tăng mạnh so với đầu năm. Cuối năm 2015, các khoản

phải thu ngắn hạn tăng 33.207 triệu đồng, tỷ lệ tăng lên tới 55,27%.Bên cạnh



đó các khoản phải thu chiếm tỷ trọng rất lớn là 61,4% tổng vốn lưu động gây

lãng phí, ứ đọng vốn của công ty. Đặc biệt phải thu của khách hàng và trả

trước cho người bán tăng mạnh khiến cho lượng vốn bị chiếm dụng ở đây là

lớn và làm giảm hiệu quả quản trị vốn. Hơn nữa, cuối năm 2015, DN khơng

thực hiện trích lập dự phòng phải thu khó đòi, trường hợp DN xuất hiện

những khoản thu khó đòi sẽ khơng có nguồn để bù đắp. Do đó, yêu cầu cần

phải quản trị chặt chẽ các khoản nợ phải thu là hết sức cần thiết.

Thứ ba: TSCĐ của cơng ty trong năm 2015 có giá trị tổng ngun giá là

33.763 triệu đồng và khơng có sự tăng giảm trong năm. Trong khi đó hệ số

hao mòn TSCĐ thời điểm cuối năm rất lớn, là 0,96. Điều đó cho thấy các

TSCĐ của công ty đã gần hết thời gian sử dụng, và có một số tài sản có thể đã

trở nên lạc hậu. Công ty cần xem xét việc thay thế, đổi mới tài sản để nâng

cao hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động do đó cần có

sự bổ sung thay thế kịp thời.Bên cạnh đó, TSCĐ của cơng ty hồn tồn là do

tự mua sắm. Như vậy với hình thức này, cơng ty sẽ phải bỏ ra một lượng lớn

vốn để đầu tư vào TSCĐ, công ty chưa tận dụng được lợi thế từ các hình thức

khác mới đang có trên thị trường như hình thức th tài chính để tiết kiệm

vốn đầu tư vào các cơng việc khác có hiệu quả. Trong năm tới công ty cần

xem xét điều này.

thứ tư: Cơ cấu tài sản chưa hợp lý vì tỷ trọng tài sản ngắn hạn luôn cao

hơn tỷ trọng tài sản dài hạn. Thơng thường, các doanh nghiệp sản xuất thường

có tỷ trọng tài sản dài hạn cao do các tài sản cố định như nhà xưởng, máy móc

thiết bị…. có giá trị lớn. Tuy nhiên, lượng tài sản dài hạn của cơng ty hiện nay

đang khá ít, vì thế, DN cần đưa ra chính sách cân đối giữa tài sản ngắn hạn và

tài sản dài hạn cho phù hợp với đặc thù sản xuất kinh doanh và phân phối vốn

hiệu quả.



Thứ năm: Trong cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp, cuối năm 2015, tỷ

trọng nợ phải trả trên tổng nguồn vốn chỉ bằng 35,08%. Điều đó có nghĩa tỷ lệ

vốn nợ trên vốn chủ là xấp xỉ 1:2. Vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong

tổng nguồn vốn cho thấy cơng ty đang sử dụng chính sách an tồn tài chính,

sử dụng đòn bẩy tài chính ở mức thấp, việc khuếch đại ROE là không cao.

Mặt khác sử dụng vốn chủ nhiều làm tăng chi phí sử dụng vốn của doanh

nghiệp. Bên cạnh đó, việc ít đi vay nợ cũng tạo ra ít áp lực hơn so với việc

vay nợ nhiều, qua đó động lực để sinh lời cũng chưa cao. Từ các lý do trên

đòi hỏi cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp cần có sự điều chỉnh theo hướng

tăng tỷ trọng vốn nợ.



KẾT LUẬN

Thông qua việcđánh giá thực trạng quản trị VKD của công ty ta thấy

được những thành quả cũng như những mặt hạn chế cần khắc phục.điều quan

trọng là công ty phải để ra được đường lối phát triểnđúng đắn, phương thưc

quản lý hiệu quả để phát huy được những thế mạnh vốn có nhằm nâng cao

hiệu quả HĐKD, tốiđa hóa giá trị doanh nghiệp.

Trong năm vừa qua, công ty đã đạt được những hiệu quả trong công tác

quản trị VLĐ và VCĐ giúp Công ty duy trì hiệu quả hoạt đơng kinh doanh.

Tuy nhiên DN cần đề ra các biện pháp quả lý VKD để giúp công ty khắc phục

những hạn chế trong quản lý VLĐ cũng như VCĐ nhằm nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn cũng như đảm bảo khả năng thanh toán và tránh được các rủi ro tài

chính có thể nảy sinh trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt giúp DN gây dựng long

tin ở khách hàng về chất lượng và độ tin cậy của sản phẩm, đối mặt với những

thách thức cho Công ty trên đường phát triển.



CHƯƠNG 3

CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ

VỐN KINH DOANH TẠI CƠNG TY TNHH TẬP ĐỒN HỒNG

PHÁT VISSAI

3.1. MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CƠNG TY TNHH

TẬP ĐỒN HỒNG PHÁT VISSAI TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1.1. Bối cảnh kinh tế và xã hội

Bối cảnh thế giới

Kinh tế - xã hội năm 2015 diễn ra trong bối cảnh thị trường toàn cầu có

những bất ổn, kinh tế thế giới vẫn đối mặt với nhiều rủi ro lớn với các nhân tố

khó lường. Triển vọng kinh tế khu vực Eurozone chưa thật lạc quan. Thương

mại toàn cầu sụt giảm do tổng cầu yếu. Kinh tế thế giới chưa lấy lại được đà

tăng trưởng và phục hồi chậm. Giá dầu thô giảm mạnh dẫn đến giá cả hàng

hóa có xu hướng giảm nhanh, ảnh hưởng đến các nước xuất khẩu. Sự bất ổn

của thị trường tài chính tồn cầu với việc giảm giá đồng Nhân dân tệ và tăng

trưởng sụt giảm của kinh tế Trung Quốc đã tác động mạnh tới kinh tế thế

giới.

Bối cảnh trong nước:

Trong bối cảnh kinh tế thế giới có những diễn biến phức tạp, sản xuất kinh

doanh trong nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhưng kinh tế

nước ta năm 2015 tiếp tục có những chuyển biến tích cực và phục hồi rõ nét ở

nhiều lĩnh vực, đạt kết quả tăng trưởng khá cao so với mục tiêu đề ra và so với

mức tăng của những năm trước trong giai đoạn 2011-2015.

Sản xuất, kinh doanh của nhiều ngành, lĩnh vực năm 2015 tăng khá dẫn

đến tăng trưởng ở mức cao góp phần quan trọng vào việc thực hiện Kế hoạch

phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015. Tuy nhiên do ảnh hưởng của



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

BẢNG 2.15: CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU SUẤT VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VKD

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×