Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



nghiệp mở mang sản xuất, hàng hóa lưu chuyển tăng mạnh nhưng tín dụng

ngân hàng lại không đáp ứng kịp. Đây là hiện tượng rất bình thường của nền

kinh tế.

− Hơn nữa tín dụng ngân hàng còn có một số ưu điểm nổi bật sau:

+ Tín dụng ngân hàng có thể thỏa mãn một cách tối đa nhu cầu về vốn của các tác



nhân và thể nhân khác trong nền kinh tế vì nó có thể huy động nguồn vốn bằng

tiền nhàn rỗi trong xã hội dưới nhiều hình thức và khối lượng lớn.

+ Tín dụng ngân hàng có thời hạn cho vay phong phú, có thể cho vay ngắn hạn,



trung hạn và dài hạn do ngân hàng có thể điều chỉnh giữa các nguồn vốn với

nhau để đáp ứng nhu cầu về thời hạn vay.

+ Tín dụng ngân hàng có phạm vi lớn vì nguồn vốn bằng tiền là thích hợp với mọi



đối tượng trong nền kinh tế, do đó nó có thể cho nhiều đối tượng vay.

1.1.3.



Phân loại tín dụng ngân hàng thương mại

Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa học là tiền đề để thiết lập các quy

trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Dựa vào

những tiêu thức khác nhau, chúng ta có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau.



1.1.3.1.

-



Dựa vào mục đích tín dụng:

Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây sửa

nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch



-



vụ.

Cho vay công nghiệp và thương mại: là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốn

lưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và



-



dịch vụ.

Cho vay nông nghiệp: là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất như

phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên

liệu…



8

Nguyễn Thu Hương



8



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



-



Học Viện Tài Chính



Cho vay các định chế tài chính: bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàng,

cơng ty tài chính, cơng ty cho th tài chính, cơng ty bảo hiểm, quỹ tín dụng



-



và các định chế tài chính khác.

Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng như mua

sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí



-



thơng thường của đời sống thơng qua phát hành thẻ tín dụng.

Cho th: cho thuê của các định chế tài chính bao gồm hai loại cho thuê vận

hành và cho thuê tài chính. Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động

sản, trong đó chủ yếu là máy móc- thiết bị.

Dựa vào thời hạn tín dụng



1.1.3.2.



Tổ chức tín dụng xem xét quyết định cho khách hàng vay theo các

thể loại ngắn hạn, trung hạn và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản

xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống và các dự án đầu tư phát triển:

-



Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Mục

đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản



-



lưu động.

Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến

60 tháng. Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ cho việc đầu



-



tư vào tài sản cố định.

Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên.

Mục đích của loại cho vay này thường là nhằm tài trợ đầu tư vào các dự án



1.1.3.3.

-



đầu tư.

Dựa vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:

Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay khơng có tài sản thế chấp, cầm cố

hoặc bảo lãnh của người khác mà chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng



1.1.3.4.



vay vốn để quyết định cho vay.

Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay

như thế chấp, cầm cố, hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.

Dựa vào hình thức cấp tín dụng.



9

Nguyễn Thu Hương



9



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



-



Học Viện Tài Chính



Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là việc Ngân hàng ứng

trước một giá trị cho thương phiếu đổi lấy việc chuyển giao quyền sở hữu

thương phiếu. Thương phiếu được hình thành chủ yếu từ q trình mua bán

chịuhàng hố và dịch vụ giữa khách hàng với nhau. Người bán (hoặc người

thụ hưởng) có thể giữ thương phiếu đến hạn để đòi tiền người mua (hoặc

người phải trả) hoặc mang đến Ngân hàng để xin chiết khấu trước hạn.

Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự tín nhiệm giữa Ngân

hàng và những người ký tên trên thương phiếu. Để thuận tiện cho khách hàng,

Ngân hàng thường ký với khách hợp đồng chiết khấu. Khi cần chiết khấu,

khách hàng chỉ cần gửi thương phiếu lên Ngân hàng xin chiết khấu. Ngân



-



hàng sẽ kiểm tra chất lượng của thương phiếu và thực hiện chiết khấu.

Cho vay: Cho vay là việc Ngân hàng cấp vốn cho khách hàng với cam kết

khách hàng sẽ hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định. Cho vay

là hoạt động kinh doanh chủ yếu của NHTM để tạo ra lợi nhuận, là khoản

mục tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Cho vay được

chia thành:

+,Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà tổ chức tín dụng

thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên

tài khoản thanh toán của khách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ

và NHNN Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch

vụ thanh toán.

+, Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và tổ chức tín dụng thực

hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Đây là hình thức cho

vay tương đối phổ biến của Ngân hàng đối với những khách hàng khơng có nhu

cầu vay thường xun, khơng có điều kiện để cấp hạn mức thấu chi.

+, Cho vay theo hạn mức tín dụng: Tổ chức tín dụng và khách hàng xác

định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian

10

Nguyễn Thu Hương



10



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



nhất định. Hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư

tối đa tại thời điểm tính. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản

xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng.

+,Cho vay theo dự án đầu tư: Tổ chức tín dụng cho khách hàng vay vốn để

thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự

án đầu tư phục vụ đời sống.

+, Cho vay hợp vốn: Một nhóm tổ chức tín dụng cùng cho vay đối với một

dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng. Trong đó, có một tổ

chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác.

+, Cho vay trả góp: Khi vay vốn, tổ chức tín dụng và khách hàng xác

định và thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để

trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Cho vay trả góp thường áp

dụng đối với những khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định

hoặc lâu bền.

+, Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Tổ chức tín dụng cam kết

đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng

nhất định. Tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của

hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.

+, Cho vay thơng qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: Tổ chức

tín dụng chấp thuận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi

hạn mức tín dụng để thanh tốn tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại

máy rút.

-



Cho thuê tài sản (thuê-mua): Thuê mua là sự thoả thuận trong đó người cho

thuê chuyển cho người đi thuê quyền sử dụng một loại tài sản trong một thời

gian nhất định.

Cho th có hai hình thức chủ yếu là cho thuê nghiệp vụ và thuê tài

chính. Cho thuê nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu thuê trong thời gian ngắn, người

11

Nguyễn Thu Hương



11



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



đi th khơng có dự định mua tài sản đó để sử dụng lâu dài. Cho thuê tài

chính đáp ứng nhu cầu cho thuê trong thời gian dài và người đi thuê có quyền

mua lại tài sản khi hết hợp đồng thuê. Trong nghiệp vụ cho thuê, Ngân hàng

phải xuất tiền theo yêu cầu của khách hàng và sau một thời gian nhất định

phải thu đủ gốc và lãi. Tài sản cho thuê thường là tài sản cố định. Vì vậy cho

thuê được xếp vào tín dụng trung và dài hạn.

-



Bảo lãnh: là cam kết của Ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực

hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của Ngân hàng khi khách hàng

không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh thường có 3 bên: Bên

hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh. Bảo lãnh là hình thức tài

trợ thơng qua uy tín của Ngân hàng cho khách hàng, qua đó khách hàng có thể

tìm nguồn tài trợ mới, mua được hàng hoá, thực hiện được các hoạt động sản



1.1.4.



xuất kinh doanh nhằm thu lợi.

Vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại

- Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển.

- Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả.

- Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo cơng ăn việc làm, ổn định trật

tự xã hội.



1.2.

1.2.1.



Thẩm định tín dụng tại ngân hàng thương mại

Khái niệm của thẩm định tín dụng

Thẩm định tín dụng là việc tiến hành nghiên cứu, phân tích khách quan,

khoa học và tồn diện tất cả các nội dụng kinh tế - kĩ thuật của phương án, dự

án, đặt trong mối tương quan với môi trường tự nhiên, kinh tế- xã hội để cho

phép đầu tư và quyết định tài trợ vốn. Khác với lập dự án đầu tư, thẩm định

tín dụng cố gắng phân tích và hiểu được tính chất khả thi thực sự của dự án về

mặt kinh tế đứng trên góc độ của Ngân hàng. Khi lập dự án khách hàng, do

mong muốn được vay vốn, có thể đã thổi phồng và dẫn đến ước lượng quá lạc

quan về hiệu quả kinh tế của dự án. Do vậy, thẩm định tín dụng cần được xem

12

12

Nguyễn Thu Hương



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



xét đánh giá đúng thực chất của dự án. Tuy nhiên khơng phải vì thế mà thẩm

định tín dụng ước lượng dự án một cách quá bi quan khiến cho hiệu quả của

dự án bị giảm sút đến mức quyết định khơng cho vay.

1.2.2.



Mục đích thẩm định tín dụng

Việc thẩm định tín dụng trước khi cấp vốn cho khách hàng nhằm các

mục đích:

- Hạn chế rủi ro tín dụng.

- Nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

- Hạn chế rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng.

- Ổn định thị trường tài chính.

Vì mục đích của thẩm định tín dụng là nhằm phục vụ cho việc ra quyết

định cho vay. Do vậy để giúp cho CBTD và lãnh đạo Ngân hàng có thể mạnh

dạn và tránh sai lầm trong ra quyết định cho vay, thẩm định tín dụng cần đạt

được những mục tiêu sau:

- Đánh giá được mức đô ̣ tin cậy của dự án đầu tư mà khách hàng đã

lập và nộp cho Ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn.

- Phân tích, đánh giá mức đô r ̣ ủi ro của dự án khi quyết định cho vay

- Giảm xác suất của hai loại sai lầm khi quyết định cho vay:

+, Cho một dự án không khả thi vay

+, Từ chối cho vay một dự án tốt.



13

Nguyễn Thu Hương



13



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



1.2.3.



Học Viện Tài Chính



Ý nghĩa của thẩm định tín dụng

Hoạt động cho vay của NHTM, là nguồn mang lại thu nhập chủ yếu

cho Ngân hàng nhưng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do đó cơng tác thẩm định tín

dụng trước khi cấp vốn cho khách hàng là thực sự cần thiết. Mỗi hồ sơ vay

vốn đều phải tuân thủ các thủ tục và đầy đủ giấy tờ cần thiết trong đó có

phương án sản xuất kinh doanh hoặc dự án đầu tư. Q trình thẩm định sẽ

giúp Ngân hàng tính tốn và dự báo được hiệu quả của phương án và dự án

mang lại cho Ngân hàng, khách hàng, góp phần phát triển kinh tế đất nước.

Từ đó Ngân hàng sẽ có quyết định cho vay, đầu tư đúng đắn, mang lại hiệu

quả cao. Nếu cơng tác thẩm định tín dụng kém sẽ gây thiệt hại cho Ngân

hàng, nghiêm trọng hơn là ảnh hưởng đến hoạt động an toàn của Ngân hàng,

mất uy tín cho Ngân hàng…



1.2.4.

1.2.4.1.



Nội dung thẩm định tín dụng tại ngân hàng thương mại

Thẩm định tình hình chung của khách hàng

* Đánh giá về năng lực pháp lý

- Đối với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh:

+ Cá nhân vay vốn là cơng dân Việt nam có đủ từ 18 tuổi trở lên.

+ Không bị mất hoặc hạn chế năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự.

+ Căn cứ xác định nhân thân: sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, hoặc

các giấy tờ tùy thân khác như giấy phép lái xe, hộ chiếu…

+ Giấy phép hành nghề, giấy đăng ký kinh doanh (trong trường hợp pháp

luật quy định phải có)

- Đối với khách hàng là doanh nghiêp:

+ Doanh nghiệp vay vốn phải có đầy đủ tư cách pháp nhân (trừ doanh

nghiệp tư nhân) theo quy định của pháp luật.

+ Xem xét điều lệ, quy chế tổ chức hoạt động của doanh nghiệp để nắm

rõ phương thức quản trị, điều hành, xác định người đại diện theo pháp luật,

14

Nguyễn Thu Hương



14



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



trong quan hệ với các tổ chức, cá nhân (Chủ tịch hội đồng quản trị, Hội đồng

thành viên, Tổng giám đốc, Giám đốc).

+ Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các giấy tờ về sự ủy quyền vay

vốn…phải có hiệu lực trong thời hạn cho vay.

* Đánh giá về trình độ tổ chức và quản lý

- Mơ hình tổ chức quản lý của khách hàng có phù hợp với lĩnh vực kinh

doanh, quy mơ hoạt động khơng, có những ưu điểm, thuận lợi, khó khăn gì

trong việc quản lý.

- Mơ hình quản lý có mang tính chun mơn hóa cao, tiếp cận các

phương thức quản lý hiện đại hay không.

* Đánh giá về năng lực, kinh nghiệm quản lý, tư cách lãnh đạo doanh

nghiệp (Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế tốn trưởng)

- Tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm lãnh đạo.

- Thời gian công tác, đảm nhiệm chức vụ, kết quả hoạt động của Doanh

nghiệp từ sau khi Ban lãnh đạo đảm nhiệm chức vụ so với trước đây.

- Nhận xét về tư cách đạo đức thơng qua tiếp xúc, tìm hiểu các mối quan

hệ của Lãnh đạo doanh nghiệp.

- Tác phong, phương pháp điều hành, tính chuyên nghiệp trong quản lý.

- Sự đoàn kết trong nội bộ lãnh đạo.

- Sự am hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh, dự án, thị trường của Ban

lãnh đạo.

- Tầm nhìn và định hướng phát triển doanh nghiệp.

- Khả năng xử lý đối với các biến động bất lợi mà Doanh nghiêp, dự án

có khả năng gặp phải. Việc tổ chức đánh giá trình độ tổ chức quản lý và uy tín

của khách hàng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro do chủ quan của

khách hàng gây nên như: rủi ro về đạo đức, rủi ro về thiếu kinh nghiêm, trình



15

Nguyễn Thu Hương



15



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



độ, năng lực, khả năng thích ứng với thị trường, phát hiện những âm mưu lừa

đảo ngay từ đầu của một số khách hàng.

* Uy tín của khách hàng

- Xem xét, đánh giá về mức độ tín nhiệm trong quan hệ với các Ngân

hàng, tổ chức tín dụng…

- Mối quan hệ về cơng nợ, thanh tốn của khách hàng với các bạn hàng.

- Vị trí của khách hàng trên thương trường: chất lượng, giá cả hàng hóa,

dịch vụ, sản phẩm của khách hàng ở mức độ nào trên thị trường, mức độ

chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm.

* Đánh giá về quá trình phát triển và tình hình hoạt động của khách hàng

- Quá trình thành lập và phát triển, tăng trưởng của khách hàng, mục tiêu

hoạt động của khách hàng, có thời kỳ nào suy thối khơng, có gặp phải biến

cố, sự kiện xấu nào không, việc khắc phục như thế nào.

- Những thành tích đã đạt được trong q trình hoạt động.

- Quy mô kinh doanh, công nghệ thiết bị, địa điểm hoạt động, loại hình

sở hữu, những sản phẩm chính, những tiện ích, những mối quan hệ về tiêu thụ

sản phẩm, quan hệ về tài chính.

- Hoạt động kinh doanh hiện tại, các sản phẩm chính những năm gần đây.

- Xem xét chiến lược kinh doanh của Doanh nghiệp, mục tiêu, dự định,

mục đích của Doanh nghiệp, chiến lược phải mang tính thực tiễn trong phạm

vi nguồn lực mà doanh nghiệp có, đồng thời phải có tính linh hoạt đủ để đáp

ứng khả năng thay đổi của thị trường.

- Phân tích khả năng cạnh tranh và phương thức tiếp thị của khách hàng:

khách hàng phải tự khẳng định vị trí của mình trên thị trường bằng nguồn lực

của mình (kinh nghiệm, quy mơ, tính linh hoạt, khả năng quản lý, trình độ

cơng nghệ…)

* Đánh giá về tài sản thế chấp

16

Nguyễn Thu Hương



16



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



- Người vay có những tài sản thế chấp thích hợp đối với những món vay

khơng?

- Tài sản thế chấp có đủ để trang trải món vay, lãi suất, phí, lệ phí và tất

cả các chi phí phát sinh khác.

1.2.4.2.

1.2.4.2.1.



Thẩm định tình hình tài chính của khách hàng

Đối với khách hàng vay là cá nhân, hộ gia đình

Cần có các giấy tờ chứng minh thu nhập, dư nợ tại các ngân hàng của

khách hàng: bảng lương, CIC,...



1.2.4.2.2.



Đối với khách hàng vay là doanh nghiệp

Phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp hay phân tích báo cáo tài

chính là q trình sử dụng các báo cáo tài chính của doanh nghiệp để phân

tích và đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Mục đích của phân tích

báo cáo tài chính là nhằm đánh giá tình hình tài chính và hoạt động của doanh

nghiệp để có cơ sở ra những quyết định hợp lý.

* Tài liệu sử dụng để phân tích: Các báo cáo trong 3 năm gần nhất và số

liệu tình hình tài chính ở thời điểm hiện tại. Theo u cầu của ngân hàng, khi

vay vốn khách hàng phải nộp loại bái cáo tài chính sau đây:

- Bảng cân đối kế tốn hay còn gọi bảng tổng kết tài sản

- Báo cáo thu nhập hay còn gọi là báo cáo kết quả kinh doanh

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay còn gọi là báo cáo dòng ngân lưu

- Thuyết minh các báo cáo tài chính

- Các tài liệu tham khảo khác: Báo cáo tình hình cơng nợ, các khoản phải

thu, các khoản phải trả, hàng tồn kho…

* Nguyên tắc thẩm định, phân tích: Việc thẩm định và phân tích tài chính

của khách hàng chủ yếu dựa trên cơ sở các số liệu do khách hàng cung cấp.

Do đó, cần phải thẩm tra căn cứ lập báo cáo tài chính và tính xác thực của các

thơng tin, số liệu được cung cấp, cụ thể:

17

Nguyễn Thu Hương



17



Lớp CQ50/15.04



Khóa luận tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



+ Chế độ kế tốn áp dụng, ngun tắc hạch toán.

+ Nguồn số liệu: Được kiểm toán độc lập? Được cơ quan thuế chấp

thuận? Do doanh nghiệp tự lập?

+ Nội dung, số liệu khớp đúng của Báo cáo tài chính.

+ Kiểm tra tình hình thực tế của khách hàng: Trị giá hàng tồn kho, các

khoản phải thu, các khoản phải trả (cho ai? ở đâu?), tài sản cố định hữu

hình, ...để so sánh với số liệu trong Báo cáo tài chính.

Việc phân tích đánh giá tình hình tài chính của khách hàng được dựa trên

cơ sở nhiều năm (thường là 02 năm gần nhất), so sánh sự tăng giảm về số

tuyệt đối, số tương đối giữa các năm, từ đó rút ra những nhận xét về xu hướng

tăng trưởng, phát triển và tính ổn định, an tồn. Phân tích các tồn tại và biện

pháp khắc phục.

* Các chỉ tiêu tài chính sử dụng để phân tích, đánh giá: Khi tiến hành

phân tích, cần nghiên cứu, tham khảo, lựa chọn các chỉ tiêu sao cho phù hợp

với điều kiện thực tế của từng khách hàng, từng lĩnh vực kinh doanh và từng

địa bàn cụ thể. Các chỉ tiêu sau đây được tính tốn trên cơ sở thơng tin số liệu

các khoản mục (mã số: MS) trên Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-DN) và

Kết quả hoạt động kinh doanh (mẫu số B02-DN) ban hành theo QĐ

167/2000/QĐ- BTC ngày 25/10/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.

- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh tốn: đây là nhóm chỉ tiêu

được sử dụng để đánh giá tình trạng thanh khoản ngắn hạn của doanh nghiệp và

là mối quan tâm hàng đầu trong kinh doanh của NHTM. Đặc biệt là các Hệ số

thanh toán ngắn hạn, Hệ số thanh toán nhanh và Hệ số thanh tốn hiện hành.

- Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn (khả năng độc lập về tài chính): Nhóm chỉ

tiêu này phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử

dụng vốn vay của doanh nghiệp.



18

Nguyễn Thu Hương



18



Lớp CQ50/15.04



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×