Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học viện Tài chính



8



Khóa luận tốt nghiệp



thuộc vào đặc điểm kinh tế của từng đối tượng sử dụng vốn vay nhằm sử dụng và

quản lý tín dụng có hiệu quả, phù hợp với sự vận động cũng như đặc điểm kinh tế

khác nhau của đối tượng tín dụng.

Để quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn tín dụng, cần thiết phải phân loại các

hình thức cấp tín dụng.

 Phân loại theo thời hạn cấp tín dụng



- Tín dụng ngắn hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn tối đa 12 tháng với mục

đích để bù đắp thiều hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu

ngắn hạn của các cá nhân.

- Tín dụng trung hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.

Tín dụng trung hạn được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua tài sản cố định, cải tiến

hoặc đổi mới thiết bị, mở rộng sản xuất kinh doanh…

- Tín dụng dài hạn:Là khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn

được dùng để cấp vốn cho đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các cơng trình thuộc

cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất, đầu tư chiều sâu để nâng cao năng suất

lao động và tạo vị thế cho các ngành công nghiệp then chốt và khả năng hợp tác

chuyên ngành và đa ngành, đồng thời góp phần đổi mới nền kinh tế quốc dân.

 Phân loại theo mục đích cấp tín dụng



- Tín dụng kinh doanh: Loại tín dụng này đáp ứng nhu cầu kinh doanh của các

doanh nghiệp, cá nhân.Với loại cho vay này điều kiện quan trọng nhất mà ngân

hàng sẽ quan tâm là tính hiệu quả của phương án kinh doanh vì đây chính là yếu tố

tạo nguồn trả nợ cho ngân hàng.

- Tín dụng tiêu dùng: Loại tín dụng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ

gia đình.Tín dụng tiêu dùng ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống xã

hội.Thứ nhất, tín dụng tiêu dùng góp phần khơng nhỏ vào thúc đẩy sản xuất, kinh

doanh phát triền thông qua việc kích thích tiêu dùng sản phẩm. Thứ hai, tín dụng

tiêu dùng là cơng cụ quan trọng góp phần cải thiện và nâng cao mức sống của dân

8

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



9



Khóa luận tốt nghiệp



cư và từ tác động này, tín dụng tiêu dùng tác động tích cực đến q trình sản xuất,

kinh doanh.

 Phân loại theo xuất xứ tín dụng



- Tín dụng trực tiếp: Đây là hình thức tín dụng mà ngân hàng cấp vốn trực tiếp

cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho NH.

Trước khi cấp tiền ra, ngân hàng phải có mối liên hệ với người vay vốn để thẩm

định khách hàng, xem xét tình hình người vay…

- Tín dụng gián tiếp: Là hình thức tín dụng được thực hiện thơng qua việc mua

lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh tốn.

 Phân loại theo phương pháp hồn trả



- Tín dụng trả góp: là hình thức tín dụng mà khi thực hiện TCTD và khách

hàng xác định và thỏa thuận số lãi vốn vay khách hàng phải trả cộng với số nợ gốc

chia ra để trả trong nhiều kỳ hạn trong thời gian vay.

- Tín dụng phi trả góp: là hình thức tín dụng mà khi thực hiện được thanh toán

một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Lãi vay có thể được hồn

trả theo thỏa thuận trong hợp đồng chẳng hạn theo tháng, theo quý, theo năm.

- Tín dụng hồn trả theo u cầu: là hình thức cấp tín dụng mà khách hàng có

thể trả nhiều lần trong thời hạn thanh toán thỏa thuận trong hợp đồng.

 Phân loại theo bảo đảm tín dụng



- Tín dụng đảm bảo bằng tài sản: Là tín dụng được cấp trên cơ sở khách hàng

vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Mục đích của

loại tín dụng này để đảm bảo giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay của ngân

hàng.Trong trường hợp khách hàng đến thời điểm trả nợ cuối cùng mà khách hàng

khơng trả được nợ thì ngân hàng sẽ tiến hành phát mãi tài sản đảm bảo.

- Tín dụng khơng bảo đảm bẳng tài sản: Là hình thức tín dụng không bằng tài

sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa trên uy tín

của bản thân khách hàng.Loại tín dụng này được áp dụng đối với những khách hàng

9

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



10



Khóa luận tốt nghiệp



quen thuộc, có uy tín trong giao dịch cũng như trong hoạt động sản xuất kinh

doanh…Mục đích của ngân hàng nhằm duy trì mối quan hệ thân thiết với khách

hàng để giữ chân khách hàng, tạo thuận lơi cho các giao dịch.

Việc phân loại có ý nghĩa giúp ngân hàng đánh giá, lựa chọn cách thức cho

vay cũng như khách hàng tốt nhất, trên cơ sở đó nghiên cứu thể lệ và chính sách tín

dụng phù hợp.

1.1.3. Vai trò của tín dụng ngân hàng.

- Thứ nhất, tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì q trình tái sản xuất

đồng thời góp phần đầu tư vào phát triển kinh tế.

Nhu cầu vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề quan trọng đối

với mỗi doanh nghiệp, bên cạnh đó quan hệ mua bán chịu luôn tồn tại trên thị trường,

do đó hoạt động tín dụng đã góp phần vào quá trình luân chuyển vốn trong nền kinh tế

được diễn ra nhanh hơn, giúp cho người cần vốn có thể tìm được vốn nhanh hơn, hiệu

quả hơn để có thể duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh được liên tục và giúp cho

người thừa vốn có thể bảo quản an toàn, đồng thời kinh doanh kiếm lời.

Trong lĩnh vực sản xuất hàng hố, tín dụng là một trong những nguồn hình

thành vốn cho doanh nghiệp, đã góp phần động viên vật tư hàng hoá đi vào sản

xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh q trình tái sản

xuất xã hội.

- Thứ hai, tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.

Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạm thời nhàn

rỗi phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội để thực hiện cho vay tới các đơn vị kinh

tế có nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. Đầu tư tập trung là

yêu cầu tất yếu của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hạn chế sự lãng phí vốn, tiết

kiệm mọi nguồn lực như thời gian, chi phí huy động vốn cho sản xuất…

- Thứ ba, tín dụng thúc đẩy q trình ln chuyển hàng hố và luân chuyển

tiền tệ.

10

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



11



Khóa luận tốt nghiệp



Tín dụng đã tham gia trực tiếp vào q trình ln chuyển hàng hố và ln

chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngành kinh tế

trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế. Hoạt động tín dụng ln chịu sự

chi phối trực tiếp của chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ, vì vậy đã góp

phần vào việc đẩy nhanh quá trình lưu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế thị trường,

hạn chế thấp nhất sự ứ đọng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh, đẩy nhanh

vòng quay của vốn.

- Thứ tư, tín dụng góp phần thúc đẩy sử dụng vốn hiệu quả

Đặc trưng cơ bản của tín dụng là cho vay có hồn trả và có lợi tức. Ngân hàng

huy động vốn nhàn rỗi trong xã hội để cho các đơn vị kinh tế trong xã hội có nhu

cầu vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Khi sử dụng vốn vay của ngân

hàng, các doanh nghiệp phải tôn trọng mọi điều kiện trong hợp đồng tín dụng, trả

nợ vay đúng hạn, cả gốc và lãi..

Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn vay của ngân hàng phải quan

tâm tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuất kinh doanh, tăng

vòng quay vốn, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp để đảm bảo trả nợ vay đúng hạn

bao gồm cả gốc và lãi cho ngân hàng.

- Thứ năm, tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.

Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước yêu cầu các doanh

nghiệp phải mở rộng mối quan hệ kinh tế không chỉ trong phạm vi một quốc gia mà

còn phải mở rộng ra phạm vi khu vực và thế giới. Tín dụng đã trở thành cầu nối

giữa nền kinh tế trong nước với thế giới và khu vực.Đối với nước ta, một nước đang

trong q trình cơng nghiệp hố hiện đại hố, tín dụng đóng vai trò rất quan trọng

nhất là trong cơng tác xuất nhập khẩu, trong công cuộc quảng bá thương hiệu trên

thế giới.

Tín dụng ngày nay là một cơng cụ để giúp đỡ các doanh nghiệp trong nước có

đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như tài trợ việc mua bán chịu hàng

11

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



12



Khóa luận tốt nghiệp



hóa, mở rộng sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm cho phù hợp với yêu cầu về

quy mô và chất lượng của thị trường thế giới.

- Thứ sáu, tín dụng là cơng cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém phát

triển và các ngành kinh tế trọng điểm.

Với công cụ tín dụng, Chính phủ sẽ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát

triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời hạn dài, mức vốn lớn. Ngồi ra,

Chính phủ còn tập trung vốn tín dụng vào việc phát triển các ngành kinh tế mũi

nhọn, để tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển theo. Điều này

được thể hiện rõ trong chính sách, chiến lược phát triển đất nước từng thời kỳ.

- Thứ bảy, tín dụng góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chính sách kinh tế,

kiềm chế lạm phát.

Ngân hàng tạo ra các nguồn vốn chủ yếu từ việc huy động các nguồn tiền nhàn

rỗi trong nền kinh tế thông qua chính sách lãi suất linh hoạt hấp dẫn, sau đó đầu tư

vào nền kinh tế, vào các cơng trình trọng điểm trong chính sách phát triển đất nước

mà Chính phủ đã đề ra. Bên cạnh đó vẫn đảm bảo đựơc khơng ảnh hưởng tiêu cực

đến tình hình giá cả và lưu thông tiền tệ quốc gia. Ngược lại, Nhà nước sử dụng

biện pháp khác, ví dụ như phát hành tiền giấy để tạo nguồn vốn đầu tư vào nền kinh

tế, sẽ gây ra sự mất cân đối trong lưu thông, trong quan hệ hàng hoá - tiền tệ, làm

tăng lạm phát…

1.2. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng

Có nhiều quan điểm khác nhau về rủi ro, đối với ngân hàng thương mại, rủi ro là

một biến cố không mong đợi gây thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.

Rủi ro tín dụng là những rủi ro do khách hàng vay không thực hiện đúng các

điều khoản của Hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ,

trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra

những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.

12

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



13



Khóa luận tốt nghiệp



1.2.2. Ngun nhân phát sinh rủi ro tín dụng

Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro hay nói cách khác hoạt động của

ngân hàng ln phải đối diện với rủi ro. Vì vậy, nhận diện những nguyên nhân gây

rủi ro tín dụng giúp ngân hàng có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, giảm thiệt hại.

Có 3 nhóm nguyên nhân cơ bản sau:

 Ngun nhân từ phía ngân hàng

-



Chính sách tín dụng khơng hợp lý, quá nhấn mạnh vào mục tiêu lợi nhuận dẫn đến

cơ cấu tín dụng mất cân đối, tập trung nguồn vốn quá nhiều vào một doanh nghiệp

hoặc một ngành kinh tế nào đó. Điều này sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro, đồng thời các quy

định về kiểm tra, kiểm sốt, tiêu chuẩn khi xem xét cấp tín dụng cũng sẽ thấp hơn

khi tiêu chí sinh lời rất được coi trọng, làm nguy cơ rủi ro tăng cao.



-



Do thiếu am hiểu thị trường, thiếu thơng tin hoặc phân tích thơng tin không đầy đủ

dẫn đến cho vay và đầu tư khơng hợp lý.Các khách hàng có nhu cầu vay vốn tại các

NHTM thuộc nhiều lĩnh vực kinh doanh khác nhau, nhiều vùng, lãnh thổ, thậm chí

nhiều quốc gia khác nhau, do đó để đánh giá chính xác về khách hàng buộc các

ngân hàng phải am hiểu về khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh, môi

trường mà khách hàng sống.Thực tế cho thấy khi chưa hiểu biết kỹ lưỡng về khách

hàng thì rủi ro tín dụng ln ln rình rập đối với các NHTM.



-



Do đội ngũ cán bộ thiếu đạo đức nghề nghiệp, trình độ nghiệp vụ còn hạn chế. Cán

bộ ngân hàng chưa khai thác đầy đủ lượng thông tin phục vụ cho công tác thẩm

định để ra quyết định cấp tín dụng đối với một khách hàng cũng như giám sát quá

trình sử dụng vốn của khách hàng. Cán bộ tín dụng còn nới lỏng các bước trong quy

trình tín dụng, cụ thể:



+



Khâu tiếp nhận đơn đề nghị xin vay vốn của khách hàng. Công việc đầu tiên của

cán bộ tín dụng là đánh giá sơ bộ,tìm kiếm những triển vọng xem xét các điều kiện

có thể chấp nhận được. Do cán bộ tín dụng cố gắng tìm ra những điều kiện có thể

chấp nhận được lên đã khuyếch đại lên dẫn đến rủi ro tín dụng.

13

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính

+



14



Khóa luận tốt nghiệp



Khâu thẩm định và đánh giá khoản vay khơng chính xác. Ngân hàng sẵn sàng cấp

tín dụng hay khơng cấp tín dụng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: năng lực tài

chính, tính khả thi của dự án vay vốn, thực trạng và triển vọng sản xuất kinh doanh,

tài sản thế chấp. Thực tế, đây là khâu rất quan trọng quyết định nhất đến chất lượng

tín dụng. Nó khơng những đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có năng lực thực sự thì mới

hạn chế được rủi ro tín dụng mà còn đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có đạo đức,trách

nhiệm trong kinh doanh, đây là khâu có mối quan hệ nhạy cảm giữa khách hàng với

cán bộ tín dụng.



+



Rủi ro tín dụng phát sinh do cán bộ tín dụng phân tích báo cáo tài chính chưa tốt,

việc kiểm tra cơ sở của khách hàng và phỏng vấn trực tiếp khách hàng không đạt

được kết quả mong muốn. Do mức độ trung thực của thông tin dẫn đến các trường

hợp xảy ra: Khơng tính tốn chính xác dòng tiền mặt nhằm đảm bảo khả năng trả nợ

đúng hạn; không xác định được thực sự quyền sở hữu tài sản của khách hàng nhằm

đánh giá năng lực vay nợ; Các hạng mục tồn kho, phải thu, phải trả không được

phản ánh chính xác từ đó tính tốn sai về khả năng thanh tốn, vốn tự có, vốn chiếm

dụng nhằm thực hiện khả năng tài trợ tự tài trợ cũng như năng lực vay nợ của khách

hàng; xác định doanh thu và chi phí khơng phù hợp dẫn đến hiệu quả kinh doanh

khơng được phản ánh chính xác.



+



Thiếu khả năng phân tích kỹ thuật nhằm xác định mức khả thi của dự án vay vốn

+ Thiếu khả năng đánh giá tài sản và uy tín đưa ra bảo đảm cho khoản

vay.Định giá tài sản thiếu chính xác, khơng thực hiện đầy đủ các thủ tục pháp lý cần

thiết, hoặc không đảm bảo các nguyên tắc của tài sản đảm bảo là: dễ định giá, dễ

chuyển nhượng quyền sở hữu, dễ tiêu thụ.

- Thiếu giám sát; quản lý sau cho vay; xử lý rủi ro không hiệu quả: Các ngân

hàng thường tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trược khi cho vay mà lới

lỏng q trình kiểm tra, kiểm sốt đồng vốn sau cho vay.Khi ngân hàng cho vay thì

khoản cho vay phải được quản lý một cách chủ động để đảm bảo được hoàn trả.



14

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



15



Khóa luận tốt nghiệp



Đồng thời, ngân hàng cần đưa ra những biện pháp xử lý rủi ro hiệu quả để hạn chế

những tổn thất có thể xảy ra.

- Yếu tố cơng nghệ của ngân hàng: Trình độ công nghệ là yếu tố quan trọng tổ

chức kinh doanh ngân hàng, đặc biệt là đối với quản lý rủi ro tín dụng. Trình độ

cơng nghệ càng cao càng trợ giúp ngân hàng sàng lọc những khách hàng, ngành

nghề đang có mức độ rủi ro cao. Cơng nghệ ngân hàng thể hiện ở mức độ tập trung

thông tin, khả năng phân tích, xử lý thơng tin, khả năng chi phối, kiểm soát đối với

các bộ phận tác nghiệp. Do vậy, nếu trình độ cơng nghệ ngân hàng còn yếu kém, lạc

hậu..sẽ có ảnh hưởng khơng nhỏ đến nguy cơ rủi ro tín dụng.

 Ngun nhân từ phía khách hàng



-



Trình độ quản lý yếu kém: Khi doanh nghiệp làm đơn xin cấp tín dụng để mở rộng

quy mơ kinh doanh, đa phần tập trung vốn vào đầu tư tài sản vật chất chứ ít doanh

nghiệp nào đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài

chính kế tốn theo đúng chuẩn mực. Kết quả là quy mô kinh doanh phùng quá to so

với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của phương án kinh doanh.

Ngồi ra,trình độ quản lý yếu kém còn thể hiện ở chỗ khơng tính tốn kỹ lưỡng

hoặc khơng có khả năng tính tốn nên bất chắc có thể xảy ra, khơng có khả năng

thích ứng và khắc phục những khó khăn trong kinh doanh sẽ dẫn tới vốn vay không

được sử dụng hiệu quả.



-



Sử dụng vốn sai mục đích, kém hiệu quả, khơng có thiện chí trong việc trả nợ: Đối

với các doanh nghiệp, khi hồ sơ vay vốn trình bày lên các cán bộ tín dụng thì đều có

mục đích rõ ràng, phương án sản xuất kinh doanh cụ thể và khả thi; còn các cá nhân

thì kê khai đầy đủ mục đích và khả năng tài chính có thể trả nợ đúng hạn. Tuy nhiên

khơng ít khách hàng sau khi vay sử dụng vốn vay khơng đúng mục đích, khơng có

thiện chí trả nợ sẽ làm cho các ngân hàng bị tổn thất và rủi ro trong vấn đề thu hồi

nợ.



-



Do kinh doanh thua lỗ liên tục, hàng hóa khơng tiêu thụ được, khơng có khả năng

trả nợ: Khách hàng gặp rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh như rủi ro thị

15

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



16



Khóa luận tốt nghiệp



trường (nhu cầu sản phẩm bất ngờ giảm sút do thông tin bất lợi,giá các yếu tố đầu

vào tăng dẫn đến chi phí sản xuất tăng kéo theo giá bán tăng làm doanh nghiệp

không tiêu thụ hết sản phẩm kéo theo lợi nhuận giảm,…), từ bạn hàng (doanh

nghiệp bị chiếm dụng vốn và khơng được hồn trả đúng thời gian quy định, khách

hàng hủy hợp đồng,…) hoặc những rủi ro không dự kiến được, điều này tác động

đến nguồn thu của doanh nghiệp và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.

-



Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản,

nguồn vốn nhỏ, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao. Sổ sách kế tốn ghi chép khơng đầy

đủ, thiếu trung thực nên việc cung cấp thơng tin tài chính cho NH mang tính chất

hình thức hơn là thực chất.Hiện nay các báo cáo tài chính của các doanh nghiệp

cung cấp vẫn chưa phải là nguồn thông tin xác thực, bởi chúng được “phù phép”

sao cho đẹp để dễ dàng tiếp cận vốn vay.Mặc dù có những báo cáo tốt, có lợi nhuận

nhưng bên trong lại tiềm ẩn, chứa đựng nhiều vấn đề, rủi ro. Do đó, ngân hàng

khơng có căn cứ chính xác, tin cậy dựa vào thơng tin doanh nghiệp cung cấp mà

phải dùng TSĐB để làm chỗ dựa phòng chống RRTD.



-



Chủ doanh nghiệp chủ định lừa đảo ngân hàng: trường hợp này xảy ra khi người

vay kinh doanh vẫn có lãi xong khơng trả nợ cho ngân hàng đúng hạn hoặc không

muốn trả nợ cho ngân hàng.Họ chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc sử dụng vốn

vay càng lâu càng tốt.



-



Các nguyên nhân khác từ phía người vay: khách hàng thiếu năng lực pháp lý, quản

lý vốn không hợp lý dẫn đến thiếu thanh khoản; khách hàng cá nhân gặp những

nguyên nhân bất thường trong cuộc sống (tình trạng sức khỏe, bệnh tật, mâu thuẫn

trong gia đình); người vay bị thất nghiệp tạm thời, hoặc lâu dài ảnh hưởng đến thu

nhập nguồn trả nợ chính cho ngân hàng; hoặc đạo đức cá nhân không tốt, cố tình

lừa ngân hàng.



 Các nguyên nhân khách quan



- Do sự biến động chính trị - xã hội làm cho nhu cầu tiêu dùng giảm, sản xuất

kinh doanh bị trì trệ, doanh nghiệp không thu hồi được vốn đầu tư dẫn đến rủi ro

16

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



17



Khóa luận tốt nghiệp



cho cả khách hàng và ngân hàng. Khi tình hình chính trị khơng ổn định sẽ làm sáo

trộn mọi vấn đề trong xã hội và cả các hoạt động tín dụng tại ngân hàng. Tình trạng

này làm cho các doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh,

như vậy khả năng thanh toán cho ngân hàng là khơng thể. Bởi vậy rủi ro tín dụng

khi mà tình hình chính trị bất ổn là rất cao, tuy nhiên nước ta là nước có nền chính

trị tương đối ổn định.

- Do môi trường kinh tế không ổn định: Môi trường kinh tế như: thị trường,

đối thủ cạnh tranh, khả năng tiêu thụ…cũng ảnh hưởng rất lớn đến rủi ro tín

dụng.Trong giai đoạn kinh tế phát triển, người vay hoạt động hiệu quả nhưng trong

giai đoạn khủng hoảng khả năng trả nợ vay giảm sút.Sự biến động của thị trường đã

làm ảnh hưởng đến lãi suất ngân hàng, tỷ lệ lạm phát cao,chính sách tiền tệ thắt

chặt… khơng khuyến khích đầu tư dẫn đến sản xuất bị trì trệ,nhiều doanh nghiệp bị

thua lỗ. Do đó, doanh nghiệp không tạo ra nguồn thu để trả nợ cho ngân hàng dẫn

đến ngân hàng gặp phải nguy cơ rủi ro tín dụng.

Q trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm nợ xấu gia tăng

khi tạo môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến các doanh nghiệp cũng như các khách

hàng cá nhân thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy

luật chọn lọc khốc liệt của thị trường.Bản thân sự cạnh tranh của các NHTM trong

nước và quốc tế trong môi trường hội nhập cũng khiến cho các ngân hàng trong

nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết

các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị ngân hàng thu hút.

Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh tín dụng còn phụ thuộc rất nhiều vào thói

quen, truyền thống, tập quán của người dân.Những yếu tố đó nhiều khi gây khó

khăn và hạn chế việc mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

- Do môi trường pháp lý không thuận lợi: Hệ thống pháp luật ban hành không

đồng bộ và không phù hợp với yêu cầu hoạt động kinh doanh nhiều khi gây cản trở

cho hoạt động kinh doanh.Kinh doanh tiền tệ là ngành kinh doanh có ảnh hưởng rất

nhiều đến sự ổn định và phát triển của nền kinh tế, do đó hoạt động ngân hàng cũng

17

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Học viện Tài chính



18



Khóa luận tốt nghiệp



chịu sự điều tiết về pháp lý của nhà nước trong đó hoạt động tín dụng ngân hàng là

đối tượng chịu sự tác động trực tiếp. Khi hành lang pháp lý chưa an tồn,mơi trường

kinh doanh kém lành mạnh và những chính sách thường thay đổi, thiếu đồng bộ sẽ

gây ách tắc, hệ lụy nặng nề cho hoạt động của ngân hàng nói chung và hoạt động tín

dụng nói riêng.

Thanh tra, kiểm tra giám sát của NHNN chưa hiệu quả:Hoạt động thnah tra ngân

hàng và đảm bảo an tồn hệ thống chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng.Do vậy,

những sai phạm của NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, có biện pháp ngăn

chặn từ đầu, để đến khi hậu quả nghiêm trọng xảy ra mới can thiệp.

Hệ thống thơng tin quản lý còn bất cập: Trung tâm tín dụng ngân hàng CIC

của NHNN đã hoạt động quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu

đáng khích lệ trong việc cung cấp thơng tin kịp thời tình hình hoạt động tín dụng

nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập và

hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu.

- Rủi ro bất khả kháng do điều kiện tự nhiên: Hạn hán, lũ lụt, động đất… đã

gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra rủi ro không lường

trước được đối với ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh những tai họa, rủi ro do

thiên tai nhiều khi quá lớn mà con người phải bó tay. VD như đầu tư trong lĩnh vực

trồng trọt, chăn nuôi…khi gặp bão lũ hay dịch bệnh có khả năng sẽ mất trắng, đồng

nghĩa với việc ngân hàng phải cùng chia sẻ rủi ro với khách hàng của mình.Ảnh

hưởng của mơi trường tự nhiên, thảm họa tự nhiên là khó đốn trước được, khó

phòng ngừa và khi rủi ro xảy ra thì ngân hàng và khách hàng phải gánh chịu những

tổn thất.

1.2.3. Hậu quả của rủi ro tín dụng





Đối với ngân hàng



Mặc dù hạn chế rủi ro đối với các ngân hàng thương mại trước hết là vấn đề

của từng ngân hàng thương mại nhưng rủi ro tín dụng gây ra đã ảnh hưởng rất lớn

đến ngân hàng.Ảnh hưởng đến lợi nhuận, uy tín và sự phát triển của ngân hàng.

18

SV: Nguyễn Thị Thu Huyền



Lớp: CQ50/15.08



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×