Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng của NHCT theo nhóm nợ giai đoạn 2013-2015

Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng của NHCT theo nhóm nợ giai đoạn 2013-2015

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.2.2 Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng công thương Việt Nam

– Chi nhánh Tam Điệp

2.2.2.1 Mơ hình quản lý rủi ro tín dụng tại NHCT Việt Nam

Trong năm 2015, NHCT tiếp tục chuyển đổi mô hình tín dụng giai đoạn 2 theo

chuẩn Basel II, đảm bảo quản lý rủi ro toàn diện dựa trên ba vòng kiểm sốt chặt chẽ.

Mơ hình này dựa trên ngun tắc “Ba vòng kiểm sốt” bao gồm (i) các đơn vị

kinh doanh tại Vòng 1 đóng vai trò là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm toàn diện; từ

khâu nhận diện, đánh giá, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro; (ii) Vòng 2 là các đơn vị

Quản lý rủi ro với trách nhiệm thiết lập các chính sách, nguyên tắc, hạn mức kiểm

soát và giám sát độc lập việc quản lý rủi ro; (iii) Vòng 3 là đơn vị Kiểm tốn nội bộ

với trách nhiệm đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của việc quản lý rủi ro tại Vòng 1

và Vòng 2.

Các bộ phận chuyên trách hoạt động theo các quy chế, quy định do Hội đồng

Quản lý đề ra và tuân thủ các nguyên tắc và quy trình nghiệp vụ do Tổng Giám đốc

ban hành, thực hiện quản lý rủi ro đối với mọi cấp và trên tồn diện các hoạt động

tác nghiệp.

Đối với rủi ro tín dụng và đầu tư: Phòng Định chế tài chính là đầu mối chịu

trách nhiệm phân tích và đề xuất các GHTD cho từng đối tác là các định chế tài

chính. Phòng Quản lý rủi ro tín dụng và đầu tư thực hiện rà soát kết quả chấm điểm

của các định chế tài chính. Trong thời gian tới, do những thay đổi trong mơ hình

quản lý rủi ro, Phòng Đánh giá xếp hạng và phê duyệt GHTD sẽ thực hiện đánh giá

xếp hạng và phê duyệt GHTD cho khách hàng doanh nghiệp và giới hạn giao dịch

cho các định chế tài chính.

Đối với rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, tác nghiệp: Phòng Quản lý Rủi ro

thị trường chịu trách nhiệm thường xuyên theo dõi và đánh giá (i) các chênh lệch về

mặt kỳ hạn đối với hoạt động quản lý tài sản nợ, tài sản có để xác định, đo lường,

phân tích và báo cáo rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất (ii) rủi ro thị trường (tỷ

giá, giá vàng,..) của cả hệ thống. Các quy định và quy trình nghiệp vụ cụ thể đối với

hoạt động đầu tư và kinh doanh ngoại tệ được thiết lập để quản lý rủi ro liên quan

đến việc đầu tư các cơng cụ tài chính đảm bảo các ngun tắc phân cấp phân quyền,



kiểm soát và quản lý rủi ro tác nghiệp trong q trình sử dụng cơng cụ tài chính tại

tất cả các bộ phận Front Office, Middle Office và Back Office. Kể từ tháng 02 năm

2013, Ngân hàng đã chính thức đưa vào triển khai hệ thống Treasury MX.3 đảm bảo

quản lý chặt chẽ, theo thời gian rủi ro thị trường liên quan đến hoạt động kinh

doanh của ngân hàng.

Phòng Quản lý rủi ro hoạt động thường xuyên theo dõi, đánh giá, phân tích và

báo cáo các rủi ro tác nghiệp và thị trường trong quá trình hoạt động kinh doanh

liên quan đến các cơng cụ tài chính.

Phòng Kiểm toán tuân thủ thực hiện kiểm tra hoạt động tại tất cả các bộ phận

tác nghiệp để đảm bảo tính tuân thủ đối với các quy định hiện hành của Ngân hàng.

(Nguồn: Báo cáo hợp nhất của NHCT năm 2013)

2.2.2.2 Nội dung Quản lý rủi ro tín dụng tại NHCT Việt Nam

 Nhận biết rủi ro tín dụng tại ngân hàng

Để nhận biết sớm rủi ro tín dụng, hồ sơ của khách hàng phải được thẩm định

qua hai phòng (quan hệ khách hàng và quản lý rủi ro tín dụng)

Tiếp nhận và thẩm định hồ sơ

Cán bộ quan hệ khách hàng sau khi hướng dẫn và tư vấn cho khách hàng lập

hồ sơ xin cấp tín dụng sẽ tiến hành thẩm định sơ bộ hồ sơ xin cấp tín dụng đó. Mẫu

hồ sơ xin cấp tín dụng đã được ngân hàng lập sẵn, trong đó yêu cầu khách hàng

cung cấp các thông tin chi tiết phục vụ cho việc thẩm định tín dụng sau này. Các

thơng tin và tài liệu cung cấp như thông tin cơ bản về khách hàng, tình hình tài

chính hiện tại, mục đích vay, hồ sơ tài sản thế chấp, cơ sở hoàn trả lãi, gốc và kế

hoạch trả nợ sẽ được cán bộ tín dụng sử dụng nhiều kênh khác nhau để kiểm tra,

đánh giá tính hợp pháp và hợp lệ.

Tiếp theo, CBTD tiếp tục tiến hành thẩm định khả năng thực hiện các nghĩa vụ

trong tương lai có liên quan đến khoản tín dụng mà khách hàng đang xin vay. Ngân

hàng đã đưa ra hệ thống các tiêu chuẩn thẩm định tín dụng để phân tích, thẩm định

về dự án vay vốn nhằm xác định nhu cầu vốn thực sự, tính khả thi, hiệu quả của

phương án vay vốn, khả năng trả nợ, định giá TSĐB và những rủi ro có thể xảy ra

để sàng lọc hồ sơ xin cấp tín dụng một cách hiệu quả. Căn cứ trên kết quả của việc

xếp hạng tín dụng khách hàng cùng tồn bộ hồ sơ xin cấp tín dụng, CBTD sẽ lập tờ



trình thẩm định trình cấp có thẩm quyền phê duyệt tín dụng (thơng thường là cấp

lãnh đạo phòng khách hàng hoặc phòng giao dịch).

Sau đó, lãnh đạo phòng khách hàng hoặc phòng giao dịch trực tiếp làm việc

với khác hàng sẽ kiểm tra, rà sốt thơng tin trên tờ trình thẩm định một lần nữa. Để

có thể tái thẩm định được hồ sơ, cấp lãnh đạo phòng trực tiếp sẽ rà sốt lại sự đầy

đủ hợp lệ và hợp pháp của tất cả các thơng tin, tài liệu có trong hồ sơ vay vốn.

Ngồi ra, các thơng tin khách phục vụ việc nhận định kết quả chấm điểm tín dụng

và xếp hạng khách hàng do CBTD thực hiện cũng được các cấp lãnh đạo xem xét

42 lại để đảm bảo không xảy ra sơ suất. Đồng thời, cấp lãnh đạo phòng trực tiếp đó

sẽ căn cứ vào hồ sơ xin cấp tín dụng để đề xuất GHTD có thể cấp cho khách hàng

đã được cán bộ trình là đủ điều kiện vay vốn. GHTD có thể cấp sẽ căn cứ vào ba

nhân tố chủ yếu là thẩm quyền của phòng, kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng

khách hàng, và nhu cầu vay vốn đã nêu trong sơ xin cấp tín dụng.

Thẩm định rủi ro tín dụng độc lập

Tuy nhiên, kết luận của cấp lãnh đạo trực tiếp phải được chuyển đến Phòng

quản lý rủi ro để thẩm định rủi ro tín dụng độc lập theo quy định của ngân hàng.

CBTD sẽ phải cung cấp đầy đủ hồ sơ về khách hàng và bổ sung thông tin cần thiết

theo yêu cầu của phòng quản lý rủi ro để thẩm định độc lập một lần nữa. Phòng

quản lý rủi ro còn xem xét đến các giới hạn quản lý rủi ro như các tỷ lệ bảo đảm an

toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ cơ cấu tín dụng theo loại bảo

đảm, kỳ hạn... theo quy định của NHCT. Kết quả cuối cùng là Báo cáo thẩm định

rủi ro tín dụng trong đó nêu rõ những rủi ro mà NHCT có thể gặp phải khi phê

duyệt khoản vay này kèm theo đề xuất biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro. Nếu

GHTD quá lớn, cần phải qua sự thẩm định và xét duyệt của Hội đồng tín dụng thì

CBTD cũng phải phối hợp cùng Phòng quản lý rủi ro thực hiện báo cáo kết quả

thẩm định trước Hội đồng tín dụng cơ sở.

Quản lý và giải ngân tín dụng

Căn cứ trên tờ trình thẩm định của CBTD, đề xuất GHTD và báo cáo kết quả

thẩm định độc lập trên, quyết định phê duyệt hoặc từ chối hồ sơ xin cấp tín dụng

cùng với GHTD (nếu được chấp nhận) sẽ chính thức đưa ra.

Khi ngân hàng và khách hàng ký kết hợp đồng cho vay thì quá trình giải ngân



được bắt dầu, đồng thời TSĐB cũng phải được đáp ứng. Việc giải ngân buộc phải

có sự phê duyệt của cấp lãnh đạo phòng trở lên.

Các khoản tín dụng có thể được giải ngân thành nhiều lần khác nhau do thời

gian dài, giá trị khoản vay quá lớn hoặc thỏa thuận giữa hai bên. Vì vậy, trong

trường hợp này nguyên tắc quản lý rủi ro là phải theo dõi chặt chẽ giữa các lần giải

ngân để nhận biết kịp thời các dấu hiệu bất thường: khách hàng rút lượng tiền lớn

bất thường hoặc liên tục, các khoản nợ khác của khách hàng này có dấu hiệu khó

đòi, những biến động lớn gây bất lợi cho ngành kinh doanh của khách hàng.

 Đo lường rủi ro tín dụng tại ngân hàng

Đo lường rủi ro theo các chỉ tiêu phản ảnh rủi ro tín dụng

 Các chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn:

Bảng 2.6: Chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn của NHCT giai đoạn 2013-2015

Đơn vị: Triệu đồng

Chỉ tiêu

2013

2014

2015

Dư nợ cho vay

2.934.343,12

3.333.560,92

3.762.889,68

Vốn huy động

2.571.359,45

2.891.053,07

3.644.970,01

Tổng tài sản

4.606.039,25

5.035.302,59

5.763.684,16

Dư nợ cho vay/ Vốn huy dộng

114,1%

115,3%

103,2%

Dư nợ cho vay/ Tổng tài sản

63,7%

66,2%

65,3%

( Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo hợp nhất năm 2013,2014 và 2015 NHCT )

Nhìn chung các hệ số sử dụng vốn tăng đều qua các năm, luôn ổn đinh.

Dư nợ cho vay trong giai đoạn này đều cao hơn nguồn vốn huy động được,

nhưng hệ số Dư nợ cho vay/vốn huy động vẫn khá là lí tưởng bởi hệ số vẫn xấp xỉ

bằng 100%. NHCT chỉ cần đi vay từ các ngân hàng khác với số tiền không quá

nhiều để cho vay lại.

Hệ số Tổng dư nợ cho vay/Tổng tài sản của NHCT vẫn chưa đạt đến mức bình

thường là 70-80%, chứng tỏ nguồn vốn chưa được sử dụng một cách tối ưu.

 Các chỉ tiêu nợ quá hạn:

Bảng 2.7: Chỉ tiêu hệ số NQH của NHCT giai đoạn 2013-2015

Đơn vị: Triệu đồng



Chỉ Tiêu

2013

2014

2015

NQH có khả năng thu hồi

60.170,24

14.117,38

25.288,01

NQH khơng có khả năng thu

22.041,71

48.899,96

37.385,53

hồi

Nợ q hạn

82.211,95

63.017,34

62.673,54

Tổng dư nợ

2.934.343,12

3.333.560,92

3.748.566,99

Tỷ lệ nợ quá hạn

2,80%

1,89%

1,67%

Tỷ lệ NQH có khả năng thu hồi

73,19%

22,40%

40,35%

Tỷ lệ NQH khơng có khả năng

26,81%

77,60%

59,65%

thu hồi

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo hợp nhất năm 2013,2014 và 2015 NHCT

Nhìn chung NQH của NHCT giảm theo thời gian, năm 2014 và 2015 NQH đã

giảm xuống so với năm 2013 nhưng vẫn còn ở mức cao. Năm 2013, NQH có khả

năng thu hồi cao hơn NQH khơng có khả năng thu hồi, thế nhưng giai đoạn 20142015 thì ngược lại.

Tỷ lệ NQH biến động qua các năm nhưng ln duy trì ở mức dưới 3% và chưa

đến mức đáng lo ngại.

Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi trong những năm 2013 cao hơn 50%

nhưng bắt đầu từ năm 2014 lại giảm mạnh và năm 2015 đã phục hồi nhưng chỉ

được 40,35%. Tỷ lệ NQH không có khả năng thu hồi đang có xu hướng tăng lên

nhưng tổng dư nợ của NHCT tăng theo thời gian nên tỷ lệ này cần phải giảm xuống

để đảm bảo an tồn cho ngân hàng.

 Các chỉ tiêu trích lập dự phòng và bù đắp rủi ro tín dụng:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng của NHCT theo nhóm nợ giai đoạn 2013-2015

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×