Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 1.1 Phân loại nhóm nợ

Bảng 1.1 Phân loại nhóm nợ

Tải bản đầy đủ - 0trang

xấu. Nợ xấu phản ánh khả năng thu hồi vốn khó khăn, vốn của ngân hàng đang ở

mức rủi ro cao, đó là nguy cơ mất vốn.

1.2.3.3 Trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng

Dự phòng rủi ro tín dụng cho biết khả năng chi trả của ngân hàng khi xảy ra

rủi ro. Khi ngân hàng phải sử dụng quỹ dự phòng nghĩa là ngân hàng đang rơi vào

tình trạng rủi ro mất vốn. Các chỉ số thể hiện Rủi ro tín dụng:

 Tỷ lệ trích lập Dự phòng rủi ro tín dụng =

Nếu một ngân hàng có danh mục cho vay càng rủi ro thì tỷ lệ trích lập dự

phòng sẽ càng cao. Tỷ lệ này dao động từ 0 đến 5%.

 Tỷ lệ xóa nợ =

Những khoản nợ khó đòi sẽ được xóa theo quy chế hiện hành (đưa ra hạch

toán ngoại bảng) và được bù đắp bởi quỹ dự phòng rủi ro tín dụng. Nếu tỷ lệ này

lớn (từ 2% trở lên) thì chất lượng tín dụng của ngân hàng được xem là có vấn đề.

(Nguồn: Hướng dẫn phân tích tài chính doanh nghiệp Ngân hàng cơng thương

Việt Nam)

1.2.4 Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng

1.2.4.1 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan

Các yếu tố về môi trường kinh tế

Chu kỳ phát triển kinh tế

Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì hoạt động tín dụng cũng sẽ tăng

trưởng theo và ít rủi ro hơn. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thối thì sản xuất

kinh doanh của khách hàng bị thu hẹp hoặc đình trệ, dẫn tới thua lỗ và bị phá sản.

Nếu ngân hàng vẫn mạo hiểm tăng trưởng tín dụng ở mức cao thì khả năng rủi ro

không thu được nợ sẽ tăng lên.

Rủi ro do quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế

Xu hướng tồn cầu hóa đang diễn ra sơi động trên tồn thế giới có thể làm cho

nợ xấu ngày càng gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khốc liệt,

khiến những khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy



luật đào thải khắc nghiệt của thị trường. Thêm vào đó, sự cạnh tranh của các ngân

hàng nước ngoài cũng khiến cho các ngân hàng trong nước nếu không quản lý rủi ro

tín dụng hiệu quả bị lép vế và mất dần các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn.

Các yếu tố về môi trường pháp lý

Nhiều khe hở trong áp dụng thi hành luật pháp Luật và các văn bản có liên

quan của nước ta khơng đồng bộ, còn nhều khe hở, điển hình là việc quy định Ngân

hàng thương mại có quyền xử lý Tài sản đảm bảo nợ vay khi khách hàng không trả

được nợ. Thực tế, các Ngân hàng thương mại không làm được điều này vì ngân

hàng là một tổ chức kinh tế, khơng phải là cơ quan quyền lực Nhà nước nên khơng

có chức năng cưỡng chế, do đó phải đưa ra Tồ án xử lý qua con đường tố tụng, dẫn

đến thời gian thu hồi được nợ là khá lâu, phức tạp và tốn khơng ít chi phí cũng như

nhân lực.

Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước mang nặng tính

hình thức

Mơ hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập, chưa phát huy hết

khả năng, hoạt động thanh tra giám sát thường chỉ tiến hành tại chỗ là chủ yếu, còn

thụ động theo kiểu xử lý “khi sự đã rồi”, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa

rủi ro. Vì thế có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra ngân hàng

Nhà nước cảnh báo sớm, để đến khi hậu quả nặng nề xảy ra rồi mới can thiệp thì đã

quá muộn.

Rủi ro tín dụng do nguyên nhân từ khách hàng vay

Sử dụng vốn sai mục đích, khơng có thiện chí trong việc trả nợ

Đối với các doanh nghiệp, khi hồ sơ vay vốn trình lên các các cán bộ tín dụng

thì đều có mục đích rõ ràng, phương án kinh doanh cụ thể và khả thi; còn các cá

nhân thì kê khai đầy đủ mục đích và khả năng tài chính có thể trả nợ đúng hạn. Tuy

nhiên khơng ít khách hàng sau khi vay lại sử dụng vốn sai mục đích, khơng có thiện

chí trả nợ sẽ làm cho các ngân hàng bị tổn thất và rủi ro trong vấn đề thu hồi nợ.

Khả năng quản lý hoạch định chiến lược kinh doanh kém

Nếu chiến lược kinh doanh không được quản lý hoạch định tốt sẽ ảnh hưởng



đến nguồn trả nợ. Ngân hàng cho vay dựa trên kế hoạch, chiến lược kinh doanh vì

đấy là nguồn trả nợ tốt nhất, tuy nhiên nếu sự quản lý hoạch định ấy yếu kém, sẽ

làm cho phương án kinh doanh có thể đi vào phá sản, ảnh hưởng đến khả năng trả

nợ của khách hàng.

Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch

Hiện nay các Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp cung cấp vẫn chưa phải

là nguồn thông tin xác thực, bởi chúng được “phù phép” sao cho đẹp để dễ tiếp cận

vốn vay. Mặc dù có những báo cáo tốt, có lợi nhuận nhưng bên trong lại tiềm ẩn,

chứa đựng nhiều vấn đề, rủi ro. Do đó ngân hàng khơng có căn cứ chính xác đáng

tin cậy dựa vào thông tin doanh nghiệp cung cấp mà phải dùng Tài sản tài chính làm

chỗ dựa để phòng chống rủi ro tín dụng.

1.2.4.2 Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan

Rủi ro do chính sách tín dụng của ngân hàng Chính sách tín dụng khơng rõ

ràng làm cho hoạt động tín dụng trở nên lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng sai lầm,

tạo ra những kẽ hở cho người sử dụng vốn lách luật và cuối cùng thì ngân hàng lại

phải chịu thiệt thòi.

Do những yếu kém và thiếu sót của Cán bộ tín dụng

Các Cán bộ tín dụng khơng nắm vững nghiệp vụ có thể tính tốn khơng chính

xác hoặc bỏ lỡ các dự dán đầu tư hiệu quả. Hoặc các Cán bộ tín dụng do bị áp

doanh số cho vay, cần hoàn thành chỉ tiêu nên đã bất chấp mà cấp vốn cho các dự

án không có hiệu quả, điều này sẽ gây ra rủi ro lớn cho ngân hàng.

Nhiều vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ ngân

hàng đã cho thấy sự xuống cấp đạo đức của họ. Một số cán bộ ngân hàng cùng với

khách hàng làm giả hồ sơ vay, nâng giá Tài sản Tài chính, cầm cố để được cấp tín

dụng nhiều hơn, gây thất thốt khơng nhỏ cho ngân hàng.

Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố quyết định để hạn chế rủi ro tín

dụng. Một cán bộ kém về năng lực thì có thể trau dồi thêm kinh nghiệm, nhưng một

cán bộ “có tài mà khơng có đức” được bố trí trong cơng tác tín dụng thì vơ cùng bất

lợi đối với ngân hàng.



Thiếu giám sát và quản lý sau cho vay

Việc theo dõi giám sát sau cho vay là nhiệm vụ rất cần thiết và quan trọng đối

với Cán bộ tín dụng. Thường xuyên thăm hỏi khách hàng sẽ giúp ngân hàng xác

nhận khách hàng có tuân thủ của các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng hay

không, đồng thời sớm phát hiện ra được vấn đề khó khăn, nguy cơ tiềm ẩn của

khách hàng để có những biện pháp giảm thiểu rủi ro thích hợp. Tuy nhiên do tâm lý

sợ gây phiền hà cho khách hàng, Cán bộ tín dụng phải di chuyển nhiều đến tận cơ

sở khách hàng và thiếu thông tin quản lý nên công tác giám sát sau cho vay chưa

hiệu quả.

Chưa có sự hợp tác giữa các ngân hàng và Trung tâm Thơng tin Tín dụng

(CIC) chưa thực hiện tốt vai trò của mình

Ngày nay, tình hình cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, do đó

hiếm có sự hợp tác với nhau để nắm bắt kịp thời thông tin về khách hàng vay. Chính

vì thiếu sự trao đổi thông tin giữa các ngân hàng mà một khách hàng mất uy tín do

khơng trả được ở ngân hàng này lại chạy sang các ngân hàng khác vay, dẫn đến rủi

ro chia đều cho tất cả chứ không chừa một ngân hàng nào.

Nhiệm vụ của Trung tâm Thơng tin Tín dụng (CIC) là cung cấp thơng tin kịp

thời, chính xác để các ngân hàng có căn cứ để quyết định cho vay hợp lý. Điều đáng

tiếc là hiện nay ngân hàng dữ liệu của Trung tâm Thơng tin Tín dụng (CIC) chưa

đầy đủ và thơng tin còn q sơ sài, chưa được cập nhật và xử lý thường xuyên nên

đã lạc hậu.

1.2.5 Hậu quả của rủi ro tín dụng

1.2.5.1 Đối với ngân hàng

Lợi nhuận của nhân hàng bị giảm sút do rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng ngồi việc gây ra các khoản nợ khó đòi còn phát sinh thêm các

chi phí khác như chi phí quản lý, trích lập dự phòng rủi ro, giám sát, thu nợ... cao

hơn nhiều so với khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất NQH. Thực tế, ngân hàng khó

có thể thu hồi đầy đủ gốc và lãi của món nợ này. Trong khi đó, hàng tháng ngân



hàng vẫn phải trả lãi cho các khoản tiền gửi. Vì vậy, một khoản tiền khơng những

khơng sinh được lãi và quay vòng cho khách hàng khác vay mà còn có nguy cơ bị

hao hụt hoặc không thể thu hồi khiến lợi nhuận của ngân hàng giảm đáng kể.

Rủi ro tín dụng gây ra rủi ro thanh khoản, thậm chí là nguy cơ phá sản của

ngân hàng

Thực tế, các khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng

kỳ hạn trong khi các khoản tiền vay của khách hàng lại khơng được hồn trả đúng

hạn. Nếu ngân hàng khơng còn đủ khả năng chi trả, không đi vay các ngân hàng,

định chế tài chính khác, Ngân hàng Nhà Nước hoặc bán tài sản của mình thì khả

năng chi trả của ngân hàng sẽ bị suy yếu, gặp phải vấn đề lớn trong rủi ro thanh

khoản. Dần dần, rủi ro thanh khoản trở nên nghiêm trọng, ngân hàng mất khả năng

thanh tốn thì tất yếu dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng. Để tiếp tục tồn tại, ngân

hàng buộc phải sáp nhập, bị ngân hàng khác mua lại hoặc được Ngân hàng Nhà

Nước “cứu” nhưng phải chịu sự giám sát đặc biệt. Ngoài ra, ngân hàng cũng có sự

biến động nhân sự lớn do việc tái cơ cấu mạnh mẽ. Vì vậy, sẽ có nhiều cán bộ bị sa

thải, nghỉ việc hoặc thuyên chuyển công tác.

Khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá sản thì người gửi tiền

khơng những ở chính ngân hàng đó mà còn ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ

và kéo nhau ồ ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân

hàng cùng “chao đảo” theo.

Rủi ro tín dụng làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng Tình trạng mất khả

năng chi trả tái diễn nhiều lần hoặc những thơng tin về rủi ro tín dụng, nợ xấu của

ngân hàng bị tiết lộ ra công chúng, uy tín của ngân hàng trên thị trường tài chính sẽ

bị giảm sút, đây là cơ hội tốt cho các đối thủ cạnh tranh giành giật thị trường và

khách hàng. Một khi đã mất uy tín thì ngân hàng rất khó có thể gây dựng lại hình

ảnh tốt đẹp như trong quá khứ.

1.2.5.2 Đối với khách hàng

Những khoản nợ do không trả gốc và lãi đúng hạn bị chuyển xuống nhóm nợ

khác sẽ càng tăng thêm áp lực và gánh nặng cho người đi vay nếu họ đang gặp điều



kiện thị trường và sự cố bất lợi trong khi sử dụng vốn vay. Khách hàng có thể phải

chịu phí phạt và sự giám sát ngặt nghèo hơn của ngân hàng. Nếu rủi ro tín dụng xảy

ra nhiều, các ngân hàng sẽ thắt chặt quy trình tín dụng hơn, khiến cho thủ tục cấp

vốn ngày một thêm phức tạp, tốn thời gian và khách hàng khó tiếp cận nguồn vốn

hơn.

1.2.5.3 Đối với nền kinh tế

Rủi ro tín dụng mở đầu cho chu kỳ lạm phát mới, làm trầm trọng thêm tình

trạng thất nghiệp và các doanh nghiệp sẽ ngần ngại vay vốn để mở rộng sản xuất.

Rủi ro tín dụng còn gây tâm lý hoang mang cho quần chúng, khiến họ giảm lòng tin

vào sự lành mạnh và vững chắc của hệ thống tài chính quốc gia, vào chính sách tiền

tệ của nhà nước, dẫn đến quyết định tiêu dùng và tích luỹ cho đầu tư khơng hiệu

quả.

Ngày nay, nền kinh tế mỗi quốc gia đều phụ thuộc vào nền kinh tế khu vực và

thế giới, vì vậy chỉ cần hệ thống ngân hàng của một quốc gia gặp khó khăn cũng

ảnh hưởng đến nền kinh tế thế giới. Lịch sử đã chứng minh cuộc khủng hoảng tài 17

chính châu Á (1997) bắt nguồn từ Thái Lan, cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ (2007)

tuy chỉ phát sinh từ một nước nhưng đã kéo theo một loạt hệ lụy cho nền kinh tế

tồn cầu.

1.3 Quản lý rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại

1.3.1 Định nghĩa quản lý rủi ro tín dụng

Quản lý rủi ro là một q trình mang tính chủ động, chiến lược, và tích hợp

bao gồm cả đo lường và giảm thiểu rủi ro, với mục tiêu cơ bản là tối đa hóa giá trị

của một ngân hàng, đồng thời giảm thiểu nguy cơ phá sản. (Schroeck, 2002).

Quản lý rủi ro tín dụng là q trình các ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ

chức, triển khai thực hiện và giám sát kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng,

nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận

được



1.3.2 Quy trình quản lý rủi ro tín dụng

Gồm 4 giai đoạn:

 Nhận biết rủi ro tín dụng

 Đo lường rủi ro tín dụng

 Ứng phó rủi ro tín dụng

 Kiểm sốt và xử lí rủi ro tín dụng

Mặc dù quy trình quản lý rủi ro được phân thành 4 giai đoạn, nhưng các khâu

trong quy trình này lại ln có mối liên hệ gắn bó với nhau và tạo thành một chu

trình khép kín để đảm bảo kiểm sốt được rủi ro theo mục tiêu đã đề ra. Cụ thể các

giai đoạn như sau:

1.3.2.1 Nhận biết rủi ro

Để nhận biết rủi ro, những công việc mà ngân hàng cần phải làm là:

 Phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng

Phân tích chung tồn bộ danh mục của ngân hàng để nhận biết những rủi ro về

quy mơ tín dụng, cơ cấu tín dụng, về ngành, về loại tiền. Cần kết hợp với dự báo

kinh tế vĩ mô để đánh giá rủi ro chung của toàn bộ danh mục tín dụng.

 Phân tích đánh giá khách hàng

Việc phân tích này nhằm phát hiện các nguy cơ rủi ro trong từng khách hàng,

từng khoản nợ cụ thể. Công việc này được thực hiện từ khi bắt đầu tiếp xúc khách

hàng, phân tích trong q trình cho vay và phân tích sau khi cho vay. Ngân hàng cần

thu thập thông tin về khách hàng rồi phân tích theo các tiêu chí định lượng và định

tính để có thể có những kết luận chính xác về tình trạng của khách hàng.

Các chỉ tiêu định tính:

Mơ hình 6C được xem như cơng cụ hữu hiệu. Trọng tâm của mơ hình này là

xem xét liệu người vay có thiện chí và khả năng thanh tốn các khoản vay khi đến

hạn hay khơng.

(1) Tư cách khách hàng: Khách hàng phải có mục đích vay vốn rõ ràng và có

thiện chí trả nợ khi đến hạn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 1.1 Phân loại nhóm nợ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×