Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tổng quan về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

1 Tổng quan về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ - 0trang

trình cho vay phù hợp và nâng cao hiệu quả cơng tác quản lý rủi ro tín dụng

Phân loại tín dụng dựa vào 8 căn cứ sau:

1.1.2.1 Căn cứ vào hình thức tín dụng

Cho vay: Là việc ngân hàng giao cho khách hàng một khoản tiền để khách

hàng sử dụng vào mục đích và thời gian theo thỏa thuận của đơi bên với ngun tắc

có hồn trả cả gốc lẫn lãi, bao gồm: Cho vay từng lần, Cho vay theo hạn mức tín

dụng, Cho vay theo hạn mức thấu chi, Cho vay trả góp, Cho vay hợp vốn (Đồng tài

trợ), Cho vay luân chuyển.

Chiết khấu: Nếu các giấy tờ có giá (trái phiếu, thương phiếu..) chưa đáo hạn

thì ngân hàng có thể cấp cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá của giấy tờ

có giá trừ đi lãi chiết khấu và phí hoa hồng.

Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết dưới hình thức thư bảo lãnh về việc thực

hiện các nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện

đúng nghĩa vụ như cam kết. Phân theo mục tiêu có các loại bảo lãnh như sau: bảo

lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tiền ứng trước, bảo lãnh vay

vốn, bảo lãnh thanh tốn.

Cho th tài chính: Là việc ngân hàng tự bỏ tiền ra mua tài sản cố định cho

khách hàng thuê với những điều kiện nhất định và có thời hạn cam kết sao cho ngân

hàng phải thu gần đủ (hoặc thu đủ) giá trị của tài sản cho thuê và có lãi. Hết hạn

thuê, khách hàng có thể mua lại tài sản đó.

Các hình thức cấp tín dụng khác: Thẻ ghi nợ, bao thanh toán, L/C,…

1.1.2.2 Căn cứ vào mục đích tín dụng

Tín dụng bất động sản: Là các khoản tín dụng liên quan đến việc mua sắm và

xây dựng bất động sản nhà ở, đất đai, cơ sở dịch vụ.

Tín dụng cơng thương nghiệp: Các khoản tín dụng bổ sung vốn lưu động cho

các doanh nghiệp trong lĩnh vực cơng nghiệp, thương mại và dịch vụ.

Tín dụng nơng nghiệp: Là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động nông

nghiệp nhằm trợ giúp hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng, chăn ni gia súc.

Tín dụng tiêu dùng: Là khoản tín dụng cấp cho cá nhân, hộ gia đình để mua



sắm hàng hóa tiêu dùng đắt tiền như ô tô, nhà, laptop, di động, trang thiết bị trong

nhà...

1.1.2.3 Căn cứ vào thời hạn tín dụng

Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn cho vay đến 12 tháng (dưới 1 năm), chủ yếu

được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu

cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.

Tín dụng trung hạn: Có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng (trên 1

năm - 5 năm), thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến

hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án

có quy mơ nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh.

Tín dụng dài hạn: Có thời hạn cho vay trên 60 tháng (trên 5 năm), thường

được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu đầu tư dài hạn như xây dựng nhà ở, đầu tư

xây dựng các xí nghiệp mới, các cơng trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng

sản xuất có quy mơ lớn.

1.1.2.4 Căn cứ vào mức độ tín nhiệm

Tín dụng khơng có bảo đảm: Là tín dụng khơng có tài sản cầm cố, thế chấp

hay khơng có bảo lãnh của người thứ ba. Loại tín dụng này áp dụng cho khách hàng

truyền thống, khả năng tài chính mạnh và hệ số tín nhiệm cao.

Tín dụng có bảo đảm: Là loại tín dụng được cấp có thế chấp, cầm cố bằng tài

sản (của bên vay hoặc bên thứ ba). Sự bảo đảm này là biện pháp đảm bảo cho ngân

hàng có được nguồn thu nợ thứ hai khi khách hàng khơng có hoặc khơng đủ khả

năng hoàn trả nợ đúng hạn.

1.1.2.5 Căn cứ vào phương thức hồn trả nợ vay

Tín dụng có thời hạn: Là loại tín dụng có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể

theo hợp đồng. Tín dụng có thời hạn gồm: Tín dụng hồn trả một lần,Tín dụng trả

góp, Tín dụng trả nhiều lần khơng có kì hạn cụ thể

Tín dụng khơng có thời hạn cụ thể: ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi

vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào với điều kiện phải báo trước cho ngân hàng.



1.1.2.6 Căn cứ vào xuất xứ tín dụng

Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng

thời người đi vay trực tiếp hồn trả nợ vay cho ngân hàng.

Tín dụng gián tiếp: Là khoản cấp vốn thông qua việc mua lại các khế ước hoặc

chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.

1.1.2.7 Căn cứ vào chủ thể vay vốn

Tín dụng doanh nghiệp (Tín dụng bán bn): Ngân hàng cho doanh nghiệp

vay những khoản vay có giá trị lớn.

Tín dụng cá nhân, hộ gia đình (Tín dụng bán lẻ): Những đối tượng này vay

những khoản vay có giá trị nhỏ nhằm vào mục đích tiêu dùng.

Tín dụng cho các định chế tài chính: Đây là khoản tín dụng cấp cho các ngân

hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.

1.1.2.8 Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng

Tín dụng bằng tiền: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tiền mặt,

hay chính là cho vay.

Tín dụng bằng tài sản: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng tài sản,

đây chính là hình thức cho thuê tài chính.

Tín dụng bằng uy tín: Là tín dụng mà hình thái giá trị của nó là bằng uy tín.

Hình thức tín dụng này là Bảo lãnh ngân hàng.

1.1.3 Đặc điểm của Tín dụng ngân hàng

Thứ nhất, cơ sở quyết định một khoản tín dụng là lòng tin của ngân hàng về

việc sử dụng vốn vay đúng mục đích của khách hàng và có khả năng hồn trả nợ 7

vay đúng hạn. Còn người đi vay thì tin tưởng vào khả năng kiếm được tiền trong

tương lai để trả nợ gốc và lãi vay.

Thứ hai, tín dụng là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim) hoặc

tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi quyền

sở hữu chúng. Tín dụng cấp cho khách hàng là từ nguồn vốn huy động của ngân

hàng mà chủ yếu là tiền gửi của các cá nhân, tổ chức trong và ngồi nước. Do đó,

khách hàng nhận được khoản vay chỉ nắm giữ mang tính chất “tạm thời” và sử dụng



vào mục đích đã cam kết với ngân hàng.

Thứ ba, tín dụng bao giờ cũng có thời hạn và phải hồn trả vô điều kiện. Ngân

hàng thực hiện chức năng “đi vay để cho vay”, do đó mọi khoản tín dụng đều phải

có thời hạn để đảm bảo cho ngân hàng hoàn trả vốn huy động khi khách hàng gửi

tiền cần rút hoặc ngân hàng lại sử dụng nguồn vốn đó cho khách hàng khác vay.

Chính vì khách hàng khơng phải là chủ sở hữu thực sự của số tiền vay nên đương

nhiên phải cam kết hồn trả vơ điều kiện khoản vay này cho ngân hàng.

Thứ tư, giá trị tín dụng khơng những được bảo tồn mà còn được nâng cao

nhờ lợi tức tín dụng. Giá trị hồn trả phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, bởi khách

hàng phải trả giá cho quyền sử dụng vốn vay. Khoản lợi tức này ln dương để bù

đắp chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng.

Thứ năm, đặc trưng bản chất nhất của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao. Cho dù

khách hàng có thiện chí trả nợ nhưng nếu gặp môi trường kinh doanh bất lợi, biến

động các chỉ số kinh tế, sự cố bất khả kháng... thì cũng dễ gây ra khó khăn trong

việc trả nợ và tất yếu ngân hàng gặp rủi ro tín dụng.

1.2 Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng

Thực tế đã có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng ngân hàng, cụ thể như:

Anthony Sauders (2007) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng

khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính

mang lại từ khoản vay của ngân hàng khơng thể được thực hiện cả về số lượng và

thời hạn”.

Theo Timothy W.Koch (2006) thì “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của

thu nhập thuần và thị giá khi khách hàng khơng thanh tốn hay thanh tốn trễ hạn”.

Theo khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT-NHNN: “Rủi ro tín dụng là tổn

thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước

ngồi do khách hàng khơng thực hiện hoặc khơng có khả năng thực hiện một phần

hoặc tồn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Như vậy, có thể hiểu rủi ro tín dụng là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra



trong q trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện

nghĩa vụ trả nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng

như đã cam kết trong hợp đồng. Đây là rủi ro gắn liền với hoạt động tín dụng, dẫn

đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn

1.2.2 Phân loại rủi ro tín dụng

1.2.2.1 Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro

Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát

sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá

khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận:

- Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến q trình đánh giá phân tích tín dụng

khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.

- Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản

trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm

bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.

- Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt

động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý

các khoản cho vay có vấn đề.

Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh

mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.

- Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng

biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ

đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay.

- Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với

một số khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một

ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại

hình cho vay có rủi ro cao.

Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân

hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc

do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tổng quan về hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×