Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIÁO DỤC THCS VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NSNN CHO GIÁO DỤC THCS

GIÁO DỤC THCS VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NSNN CHO GIÁO DỤC THCS

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



6



Học viện Tài chính



đến mọi hoạt động của xã hội. Vì vậy trên hết vấn đề giáo dục con người có

vai trò rất lớn và ngày càng được coi trọng.

Ở nước ta theo Luật Giáo dục 2005 thì hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:

- Giáo dục Mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo.

- Giáo dục phổ thơng có hai cấp bậc là bậc tiểu học và bậc trung

học. Bậc trung học có hai cấp học là cấp trung học cơ sở và cấp trung

học phổ thơng.

- Giáo dục nghề nghiệp có trung học chun nghiệp và dạy nghề.

- Giáo dục đại học đào tạo hai trình độ là trình độ cao đẳng và trình độ

đại học, giáo dục sau đại học đào tạo hai trình độ là trình độ thạc sĩ và trình

độ tiến sĩ.

Giáo dục bậc THCS là một phần quan trọng của sự nghiệp giáo dục và

đóng vai trò là nền tảng phát triển cho các bậc học cao hơn. Giáo dục THCS

nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục tiểu

học; có học vấn phổ thơng ở trình độ cơ sở và những hiểu biết ban đầu về kỹ

thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông, trung cấp, học

nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.

1.1.2. Vai trò của giáo dục THCS đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Với vị trí quốc sách hàng đầu, giáo dục có vai trò là nền tảng, động lực

thúc đẩy sự phát triển KT-XH. Vai trò của giáo dục được thể hiện rõ trong

quan điểm của Đảng ở các kỳ đại hội. Giáo dục nói chung và giáo dục THCS

nói riêng là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp CNH-HĐH, là

điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã

hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Cụ thể hơn, vai trò của giáo dục

THCS đối với sự phát triển KT-XH được thể hiện ở các mặt sau:

 Nâng cao dân trí

Để tiến hành sản xuất và tổ chức xã hội, con người phải dựa vào hai

nguồn tài nguyên là: thiên nhiên và lao động của con người, trong đó cái

Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



7



Học viện Tài chính



quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ. Mọi nguồn tài

nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Nhưng

sự hiểu biết của con người sẽ không bao giờ dừng lại, nghĩa là nguồn tài

ngun trí tuệ khơng có giới hạn. Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người là

nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội, phát huy được yếu tố này đảm

bảo thành công của con người trong sự nghiệp CNH-HĐH.

Khi mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và

sức mạnh của một quốc gia, thì Chính phủ mỗi quốc gia và Việt Nam cũng

không phải là ngoại lệ đều ý thức được rằng giáo dục nói chung và giáo

dục THCS nói riêng khơng chỉ là phúc lợi xã hội, mà thực sự là đòn bẩy

quan trọng để phát triển kinh tế, phát triển xã hội. Các nước muốn phát

triển nhanh phải hết sức quan tâm đến giáo dục và đầu tư cho sự nghiệp

giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng chính là đầu tư cho phát

triển.

 Đào tạo nguồn nhân lực có văn hóa

Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn

diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành

với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng

nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây

dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Giáo dục phải đảm bảo tính cơ bản, tồn diện, thiết thực, hiện đại và

có hệ thống; coi trọng giáo dục tư tưởng và ý thức công dân; bảo tồn và

phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa

văn hóa nhân loại; phù hợp với sự phát triển về tâm sinh lý lứa tuổi của

người học.



Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



8



Học viện Tài chính



1.2. CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CHO GIÁO DỤC THCS

1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của chi thường xuyên NSNN cho giáo

dục THCS

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà

nước có thẩm quyên quyết định và thực hiện trong một năm để đảm bảo thực

hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. NSNN bao gồm NSTW và NSĐP.

NSTW là ngân sách của các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan

khác ở trung ương. NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp

có HĐND và UBND.

Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhằm thực

hiện các nhiệm vụ của Nhà nước trong từng thời kỳ. Nội dung chi NSNN là

rất đa dạng, điều này xuất phát từ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong

việc phát triển kinh tế - xã hội. Thông thường căn cứ theo nội dung kinh tế

của các khoản chi mà chi NSNN có thể chia ra thành: chi thường xuyên, chi

đầu tư phát triển và chi khác.

Chi thường xuyên của NSNN cho giáo dục THCS là quá trình phân phối

và sử dụng các nguồn tài chính đã tập trung vào NSNN để đáp ứng cho các

nhu cầu chi của giáo dục THCS nhằm đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ đã

đặt ra.

Chi NSNN cho giáo dục THCS là khoản chi thường xuyên vì vậy nó có

các đặc điểm sau:

- Phần lớn các khoản chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

mang tính ổn định khá rõ nét. Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS là

để duy trì hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước để thực hiện các chức

năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Mặt khác tính ổn định của chi thường xuyên

NSNN cho giáo dục THCS còn xuất phát từ sự ổn định trong các hoạt động

cụ thể mà các đơn vị sự nghiệp phải tiến hành nhằm thực hiện các chủ trương,

đường lối phát triển giáo dục THCS của Nhà nước.

Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



9



Học viện Tài chính



- Xét theo cơ cấu chi NSNN ở từng niên độ và mục đích sử dụng cuối

cùng của vốn cấp phát thì chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS có hiệu

lực tác động trong khoảng thời gian ngắn và mang tính chất tiêu dùng xã hội.

Trong từng niên độ ngân sách, các khoản chi cho giáo dục THCS chủ yếu

nhằm trang trải cho các nhu cầu thường xuyên, thiết yếu về hoạt động giáo dục

do Nhà nước tổ chức. Kết quả của hoạt động giáo dục này hầu như không tạo

ra của cải vật chất cho xã hội ở năm đó nhưng xét trong dài hạn, các khoản chi

này lại có tác động rất mạnh đến q trình hoạt động của nền kinh tế.

- Phạm vi, mức độ chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS gắn

chặt với sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa cơng cộng

trong lĩnh vực giáo dục. Phần lớn các hàng hóa cơng cộng trong lĩnh vực giáo

dục được cung ứng cho nhu cầu tiêu dùng và có thu phí do Nhà nước quy

định. Mặt khác, hiện nay tham gia vào hoạt động giáo dục THCS có cả đơn vị

cơng lập và ngồi cơng lập. Chính vì vậy, mức độ tư nhân hóa các hoạt động

giáo dục THCS, mức thu phí và diện phải thu phí vào các hàng hóa cơng cộng

do các hoạt động giáo dục này tạo ra là những nhân tố ảnh hưởng đến phạm vi

và mức độ chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS.

1.2.2. Vai trò chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

Thứ nhất, NSNN là nguồn tài chính cơ bản, to lớn để duy trì và phát

triển hệ thống giáo dục theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.

Đảng ta đã xác định giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự

nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc, đưa đất nước ta thốt khỏi tình

trạng nghèo nàn, lạc hậu. Do đó phần lớn nguồn kinh phí cho giáo dục nói

chung và giáo dục THCS nói riêng được đảm bảo từ nguồn cấp phát của

NSNN bởi việc duy trì, củng cố và phát triển các hoạt động thuộc lĩnh vực

này là nhiệm vụ và mục tiêu mà Nhà nước phải thực hiện trong quá trình xây

dựng và phát triển kinh tế. Ngoài ra, trong việc thực hiện chi NSNN cho giáo

Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



10



Học viện Tài chính



dục THCS, Nhà nước phải thực hiện việc điều phối cơ cấu giáo dục, đảm bảo

cho sự phát triển đồng đều trong cơ cấu giáo dục toàn ngành giữa các vùng

trong cả nước. Thông qua việc chi NSNN, Nhà nước đã tác động vào hệ thống

giáo dục quốc dân và làm cho nó vận động, phát triển theo đúng hướng đã đề

ra. Mặt khác, hệ thống trường cơng lập ở nước ta còn chiếm ưu thế, do đó

NSNN còn phải đảm bảo phần lớn trách nhiệm đầu tư cho giáo dục, còn các

nguồn vốn khác chỉ mang tính chất hỗ trợ thêm.

Thứ hai, chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS góp phần quyết

định đến sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà trường.

Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS là khoản tiền đầu tư chiếm

tỷ trọng lớn nhất, tạo ra cơ sở vật chất, mua sắm sửa chữa, trang bị đồ dùng

dạy học. Đây là khoản chi rất cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng

giáo dục. Nếu chúng ta coi giáo viên là lực lượng lao động, học sinh là đối

tượng lao động thì trang thiết bị, cơ sở vật chất chính là những cơng cụ lao

động. Chúng gắn liền với nhau tạo thành một quy trình hồn chỉnh khơng thể

tách rời. Vì vậy, để có được chất lượng giảng dạy tốt thì việc chi thường

xuyên NSNN để đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị… cũng là một trong

những việc làm hết sự cần thiết.

Thứ ba, chi thường xun NSNN cho giáo dục THCS đóng vai trò quan

trọng trong việc củng cố, tăng cường số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ giảng dạy.

NSNN chính là nguồn tài chính cơ bản đảm bảo đời sống cho đội ngũ

cán bộ giảng dạy, đội ngũ cán bộ quản lý hành chính của hệ thống giáo dục.

NSNN ngồi việc đảm bảo tiền lương hàng tháng cho cán bộ, giáo viên thì

còn dành một phần ưu đãi riêng cho sự nghiệp giáo dục như: phụ cấp giảng

dạy, phụ cấp dạy thêm giờ… Đây cũng là những yếu tố khích lệ góp phần

nâng cao chất lượng giáo dục.



Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



11



Học viện Tài chính



1.2.3. Nội dung chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

Nếu phân chia NSNN theo nội dung từng khoản mục, chi thường xuyên

NSNN cho giáo dục THCS được phân thành các nhóm chi sau:

Nhóm I: Chi thanh toán cá nhân

Đây là khoản chi quan trọng trong các yếu tố đầu vào của bất kỳ cơ quan,

tổ chức nào muốn tồn tại và hoạt động, là nội dung chi chiếm tỷ trọng lớn nhất

trong tổng chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS, nhằm đáp ứng nhu cầu

về đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ giáo viên qua đó nâng cao chất lượng

giáo dục. Chi thanh toán cá nhân bao gồm: chi tiền lương, tiền công, phụ cấp,

tiền thưởng, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp như chi bảo hiểm xã hội, bảo

hiểm y tế, kinh phí cơng đồn,…và các khoản thanh tốn khác cho cá nhân.

Nhóm II: Chi nghiệp vụ chun môn

Chi nghiệp vụ chuyên môn bao gồm các khoản chi như: chi thanh tốn dịch

vụ cơng cộng, chi hội nghị, chi cơng tác phí, chi vật tư văn phòng, chi thuê mướn

và các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn đặc thù của các trường. Đây là khoản

chi cần thiết, có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Vì vậy, cần phải

được chú trọng để có mức đầu tư thích hợp nâng cao chất lượng, hiệu quả của

cơng tác giáo dục.

Nhóm III: Chi mua sắm, sửa chữa và xây dựng nhỏ

Đây là các khoản chi nhằm nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị trong

trường phục vụ cho việc giảng dạy. Các khoản chi này tuy chiếm tỷ trọng không

lớn trong tổng chi thường xuyên của NSNN cho giáo dục THCS nhưng đóng vai

trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập của giáo viên

và học sinh trong nhà trường.

Nhóm IV: Chi khác

Ngồi các khoản chi ở ba nhóm mục trên thì các đơn vị trường học còn

phát sinh các khoản chi khác như: trợ cấp thơi việc, chi trợ cấp khó khăn cho

các học sinh gặp hồn cảnh khó khăn có thành tích tốt, trích lập các quỹ,…

Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



12



Học viện Tài chính



Các khoản chi này phát sinh tương đối ít nhưng nó vẫn có vai trò lớn trong

hoạt động giáo dục.

1.3. QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN CHO GIÁO DỤC THCS

1.3.1. Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

1.3.1.1. Nguyên tắc quản lý theo dự toán

NSNN hàng năm được sử dụng để đầu tư cho nhiều lĩnh vực khác nhau,

mức chi cho mỗi loại hoạt động được xác định theo đối tượng riêng, định mức

riêng dẫn đến mức chi từ NSNN cho các hoạt động đó cũng khác nhau. Vì

vậy, quản lý chi theo dự toán được coi là rất quan trọng đối với việc quản lý

chi thường xuyên cho sự nghiệp giáo dục nói chung và cho giáo dục THCS

nói riêng. Mặt khác quản lý theo dự toán sẽ đảm bảo được cân đối ngân sách,

tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành ngân sách, hạn chế tính tùy tiện

trong quản lý và sử dụng kinh phí tại các trường THCS.

Sự tuân thủ nguyên tắc quản lý theo dự toán đối với các khoản chi

thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS được thể hiện như sau:

- Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến trong năm kế hoạch được lập từ

các trường THCS là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách sau đó gửi lên cơ quan

có thẩm quyền xét duyệt là phòng TC-KH.

- Trong q trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên, các trường

THCS phải căn cứ vào dự tốn kinh phí đã được duyệt mà phân bổ và sử

dụng cho các khoản chi và phải hạch toán theo đúng mục lục ngân sách.

- Định kỳ theo chế độ quyết tốn kinh phí đã quy định, các trường THCS

cũng như các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt khi phân tích, đánh giá kết quả

thực hiện của kỳ báo cáo phải lấy dự toán làm căn cứ để đối chiếu, so sánh.



Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



13



Học viện Tài chính



1.3.1.2. Nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả

Tiết kiệm, hiệu quả là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu

trong quản lý kinh tế - tài chính, bởi lẽ nguồn lực có hạn trong khi nhu cầu thì

vơ hạn. Do vậy trong q trình phân bổ và sử dụng nguồn lực khan hiếm cho

giáo dục THCS đó cần phải tính tốn sao cho chi phí là thấp nhất nhưng phải

đạt được kết quả là cao nhất. Hơn thế nữa do hoạt động của NSNN diễn ra

rộng và đa dạng phức tạp, nhu cầu chi luôn gia tăng với mức độ không ngừng

trong giới hạn huy động các nguồn thu; vì vậy để tiết kiệm và hiệu quả được

tôn trọng, giáo dục THCS phải làm tốt và đồng bộ một số nội dung sau:

- Xây dựng các định mức chi tiêu phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội

của địa phương đồng thời bảo đảm tính thực tiễn cao.

- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các hoạt động hoặc nhóm mục chi phù

hợp với ngân sách mà hiệu quả cao, phù hợp với từng giai đoạn phát triển (ví

dụ có những năm nhu cầu cho mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ tăng lên hay

những nhu cầu về trang thiết bị vật chất tăng để đáp ứng các yêu cầu về dạy

học thì khi đó khoản chi nghiệp vụ chun mơn sẽ tăng lên…).

1.3.1.3. Nguyên tắc quản lý trực tiếp qua kho bạc

Một trong những chức năng quan trọng của KBNN là quản lý quỹ NSNN.

Do vậy, KBNN vừa có quyền vừa có trách nhiệm phải kiểm sốt chặt chẽ mọi

khoản chi NSNN. Tất cả mọi khoản chi thường xuyên NSNN cho giáo dục

THCS phải được kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau q trình cấp phát

thanh tốn. Các khoản chi này phải có trong dự tốn NSNN được duyệt theo

đúng chế độ tiêu chuẩn. Các trường THCS sử dụng kinh phí NSNN phải mở

tài khoản tại KBNN, chịu sự kiểm tra, kiểm sốt của cơ quan tài chính,

KBNN trong q trình lập dự tốn, phân bổ hạn mức, cấp phát, thanh toán, hạch

toán và quyết toán NSNN.



Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



14



Học viện Tài chính



Cơ quan tài chính các cấp có trách nhiệm thẩm định dự tốn và thơng

báo hạn mức kinh phí cho các trường THCS sử dụng kinh phí ngân sách,

kiểm tra việc sử dụng kinh phí, xét duyệt quyết tốn của các đơn vị đó và tổng

hợp quyết toán chi NSNN.

KBNN phải kiểm soát hồ sơ, chứng từ, điều kiện chi và thực hiện cấp

phát, thanh toán kịp thời các khoản NSNN theo quy định; tham gia với các cơ

quan tài chính trong việc kiểm tra tình hình sử dụng NSNN và xác nhận số

thực chi ngân sách qua KBNN.

1.3.2. Quy trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

1.3.2.1. Lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

Lập dự toán là khâu đầu tiên của một chu trình ngân sách, nhằm mục

đích để phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của

Nhà nước nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi NSNN hàng năm một cách đúng

đắn, khoa học và hiệu quả. Việc lập dự tốn phải được thực hiện theo đúng

quy trình, định mức và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.

Khâu này mang tính định hướng tạo nền tảng cơ sở cho các khâu tiếp theo.

Khi lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS cần phải dựa

trên căn cứ sau:

Thứ nhất, chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển hoạt động

giáo dục THCS trong từng thời kỳ.

Thứ hai, dựa vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đặc

biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến hoạt động của giáo dục THCS.

Thứ ba, văn bản hướng dẫn và thông báo số kiểm tra của cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền.

Thứ tư, các chính sách chế độ chi sự nghiệp của NSNN hiện hành và dự

kiến thay đổi, bổ sung trong kỳ kế hoạch.

Thứ năm, khả năng NSNN chi cho giáo dục THCS năm kế hoạch.



Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



15



Học viện Tài chính



Thứ sáu, ước thực hiện năm báo cáo và kết quả thực hiện các năm trước

về dự toán chi thường xuyên của NSNN cho giáo dục THCS.

Quy trình lập dự tốn:

Các trường THCS là đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách có trách nhiệm

tổng hợp, xác định nhu cầu chi để lập dự toán chi năm kế hoạch cho đơn vị mình

gửi lên cơ quan tài chính cùng cấp xét duyệt theo những căn cứ đã nêu ở trên.

Trong quá trình tổng hợp, lập dự tốn ngân sách, cơ quan tài chính có trách

nhiệm làm việc với các đơn vị trường học để điều chỉnh dự tốn kinh phí mà các

đơn vị lập. Cơ quan tài chính xem xét tính hợp lệ, đúng đắn của dự toán cho

các đơn vị trường THCS và trình UBND đồng cấp phê duyệt, sau đó trình lên

cơ quan tài chính cấp trên. Dự tốn sau khi đã được cơ quan có thẩm quyền

duyệt và thơng qua, phòng TC-KH đề nghị HĐND huyện phân bổ, giao dự

toán cho các trường, các đơn vị sử dụng kinh phí giáo dục.

1.3.2.2. Chấp hành dự tốn chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

Đây là khâu thứ hai trong chu trình ngân sách, nhằm biến các chỉ tiêu đã

có trong khâu lập kế hoạch chi thành hiện thực. Trong khâu này phải dựa vào

định mức chi đã được duyệt, dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành

cho giáo dục THCS, cơ quan tài chính có nhiệm vụ cấp phát NSNN chi cho

các đơn vị giáo dục theo đúng dự toán đã được duyệt.

Thực hiện kế hoạch chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS cần chú

ý đến yêu cầu sau:

- Đảm bảo việc cấp phát kinh phí một cách hợp lý tập trung có trọng

điểm trên cơ sở dự toán đã được duyệt.

- Đảm bảo việc cấp phát kinh phí kịp thời, chặt chẽ cấp phát theo đúng

định mức được duyệt, tránh lãng phí NSNN.

- Trong q trình cấp phát NSNN đòi hỏi phải có sự giám sát, điều phối

chặt chẽ giữa các cơ quan nhất là giữa phòng TC-KH với KBNN.



Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Luận văn tốt nghiệp



16



Học viện Tài chính



Sở Tài chính phối hợp với phòng TC-KH huyện kiểm tra, giám sát việc

thực hiện chi tiêu và sử dụng ngân sách tại các trường. Trường hợp phát hiện các

khoản chi vượt quá nguồn cho phép, sai chính sách chế độ hoặc đơn vị khơng

chấp hành chế độ báo cáo thì có quyền u cầu KBNN tạm dừng thanh toán.

Cơ chế kiểm soát chi:

Các đơn vị trường học phải mở tài khoản tại KBNN theo hướng dẫn của

Bộ Tài chính, chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính và KBNN trong q

trình thanh tốn và sử dụng kinh phí. Các khoản thanh tốn về cơ bản theo

nguyên tắc chi trả trực tiếp qua KBNN.

Các khoản chi NSNN chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện sau đây:

- Đã có trong dự tốn NSNN giao.

- Đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức do cấp có thẩm quyền quy định.

- Đã được Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy

quyền quyết định chi.

Đối với công tác quản lý điều hành NSNN, chấp hành ngân sách là

khâu cốt yếu có ý nghĩa quyết định đối với một chu trình ngân sách. Nếu

khâu lập dự tốn tốt thì cơ bản cũng mới dừng ở trên giấy, nằm trong khả

năng và dự kiến, chúng có biến thành hiện thực hay khơng còn tùy vào khâu

chấp hành ngân sách. Hơn nữa, chấp hành ngân sách thực hiện tốt còn có tác

dụng tích cực trong việc thực hiện khâu tiếp theo là quyết toán ngân sách.

1.3.2.3. Quyết toán chi thường xuyên NSNN cho giáo dục THCS

Quyết tốn là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý ngân sách, là q

trình nhằm kiểm tra, rà sốt, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau

một năm để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra kinh

nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo. Bởi vậy,

trong q trình quyết tốn phải chú ý đến các yêu cầu sau:



Phạm Thị Thanh Huyền



Lớp CQ50/01.01



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIÁO DỤC THCS VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN CỦA NSNN CHO GIÁO DỤC THCS

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×