Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC

SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



đoạn này dạy cho trẻ biết các quy ước trong cuộc sống, các kỹ năng cơ bản

thơng qua các trò chơi.

- Giáo dục phổ thông: Kéo dài 12 năm bao gồm giáo dục cơ sở(giáo

dục tiểu học, giáo dục THCS) và giáo dục trung học phổ thông.

+ Giáo dục tiểu học: Cấp tiểu học hay còn gọi là cấp I tuổi vào học

chính thức thường là 6 tuổi, thời gian học thường là 5 năm. Đây là cấp học

phổ cập và thường bắt buộc với mọi học sinh. Ở giai đoạn này dạy cho các em

những kiến thức cơ bản nhu đọc viết, tính toán, tri thức về tự nhiên và xã hội.

+ Giáo dục THCS (hay còn gọi là cấp II):Bậc học này đào tạo trong

thời gian 4 năm, giáo dục cho học sinh nâng cao những kiến thức của mình và

học tập các kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp cơ bản.

+ Giáo dục trung học phổ thông (cấp III): Bậc học này được đào tạo

trong thời gian 3 năm.

-



Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;



-



Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi là giáo dục đại học) đào tạo trình

độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.

Hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo hiện nay rất đa dạng và

toàn diện, ở nhiều cấp ngành học với nhiều lĩnh vực khác nhau để nhằm mục

tiêu đào tạo con người phát triển tồn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức

khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc, hình

thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng

yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, sự nghiệp giáo dục và đào tạo

có vai trò cực kỳ to lớn trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.

1.1.2.Vai trò của sự nghiệp giáo dục đối với q trình phát triển kinh tế - xã

hội.

Giáo dục là một lĩnh vực hoạt động đặc biệt, có vai trò rất quan trọng

trong đời sống xã hội, sản phẩm của giáo dục là tạo ra những con người có

9



Sinh viên: Lê Thị Hằng



9

9

9



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



kiến thức, năng lực, hành vi phù hợp với yêu cầu xã hội và mục tiêu kinh tế

trong từng giai đoạn cụ thể. Phát triển giáo dục là một trong những nền tảng

và động lực quan trọng thúc đấy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là

điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã

hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Ngày nay giáo dục đang trở thành một bộ phận đặc biệt của cấu trúc hạ

tầng xã hội, là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của tất cả các lĩnh vực xã

hội như chính trị, văn hóa, quốc phòng và an ninh, bởi lẽ, con người được

giáo dục tốt và biết tự giáo dục thường xuyên mới có khả năng giải quyết một

cách có sáng tạo và có hiệu quả những vấn đề do sự phát triển của xã hội đặt

ra. Con người được giáo dục và biết tự giác giáo dục được coi là nhân tố quan

trọng nhất cho sự phát triển bền vững của xã hội. Chính bởi vậy, giáo dục

chính là một bộ phận hữu cơ quan trọng nhất trong chiến lược, quy hoạch và

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trong đó mục tiêu giáo dục phải được coi

là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của sự phát triển.

Giáo dục đóng vai trò trong việc phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng

nhân tài phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Cùng với

khoa học – cơng nghệ, vốn đầu tư, nguồn lực con nghười đóng vai trò quyết

định đến sự thành cơng của sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội. Kinh

tế nước ta có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực và thế giới, thu

hút được mạnh mẽ các nguồn đầu tư đều phụ thuộc phần lớn vào nguồn nhân

lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực

rất quan trọng đối với q trình CNH – HĐH đất nước. Nói đến phát triển

nguồn lực chính là phát triển nguồn lực con người về số lượng và chất lượng

để đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế. Như vậy vấn đề đặt ra là ở mỗi

một cấp học cụ thể, một giai đoạn cụ thể phải đào tạo những gì? Cung cấp

những kiến thức gì? Định hướng nghề nghiệp như thế nào để giảm bớt tình

10



Sinh viên: Lê Thị Hằng



10

10

10



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



trạng nguồn nhân lực dồi dào nhưng chất lượng lao động còn thấp. Vì vậy,

một nền giáo dục phát triển tồn diện sẽ góp tạo ra một đội ngũ lao động có

đủ phẩm chất, trình độ, ký thuật nghề nghiệp có khả năng tiếp thu khoa học –

công nghệ của nền sản xuất hiện đại.

Đối với lĩnh vực khoa học công nghệ: Trong xã hội hiện đại hiện nay,

khi khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ thì lực lượng lao động, nhất là

lực lượng lao động kỹ thuật có tay nghề cao càng có ý nghĩa to lớn đối với

việc tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh tồn cầu hóa kinh tế, với đường lối

đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, nước ta có cơ hội thuận lợi để

tiếp thu và áp dụng phương tiện ỹ thuật hiện đại của các nước trên thế giới để

áp ứng yêu cầu phát tiển kinh tế - xã hội. Tận dụng những thành tựu của cách

mạng khoa học – công nghệ hiện đại để rút ngắn quá trình CNH – HĐH và

khoảng cách phát triển kinh tế đối với các nước đi trước. Do vây, giáo dục

phát triển tạo ra nguồn nhân lực có trình độ đáp ứng sự phát triển của khoa

học – công nghệ. Đồng thời để thúc đẩy đổi mới công nghệ trong nền kinh tế,

nhất là trước sức ép cạnh tranh trong điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế

thì nguồn nhân lực chất lượng cao đóng vai trò rất quan trọng. Qua đó thấy

được vai trò của giáo dục đối với việc phát tiển khoa học – công nghệ. Do đó

để tăng cường tri thức cho khoa học – cơng nghệ đòi hỏi chúng ta phải đầu tư

phát triển nguồn lực con người. Việc đào tạo đội ngũ tri thức có đủ trình độ để

áp dụng những kỹ thuật hiện đại của các nước đồng thời phát triển đội ngũ

khoa học – công nghệ ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết.

Đới với sự nghiệp văn hóa: giáo dục có vai trò cực kí quan trọng, nó

giúp cho con người lưu giữ được các văn hóa kết tinh qua các thời kỳ từ

những gì đã được rèn luyện qua các cấp học. Văn hóa mang đến cho giáo dục

những nội dung thiết yếu, những hiểu biết cần truyền đạt là yếu tố quan trọng

để phát triển tri thức con người một cách toàn diện hơn. Sự sáng tọa trong

11



Sinh viên: Lê Thị Hằng



11

11

11



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



giáo dục làm phong phú thêm những giá trị văn hóa vốn có và làm nảy sinh

những giá trị văn hóa mới. Quan trọng hơn nữa là nó tạo ra được những thế hệ

mới có khả năng sáng tạo khơng chỉ trong lĩnh vực văn hóa.

Như vậy, giáo dục có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã

hội: như góp phần tạo nguồn lực con người, nguồn lực đó là con người lao

động có trí tuệ cao, có tay nghề cao, có phảm chất tốt đẹp. Từ đó tọa nguồn

lực cho đất nước, đội ngũ lao động hiện đại. Bên cạnh đó, giáo dục còn có ý

nghĩa rất lớn đối với hoạt động xã hội và chính trị tạo nên một xã hội lành

mạnh, văn minh và ổn định.

1.2.Chi thường xuyên Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp giáo dục

1.2.1.Khái niệm, đặc điểm chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo

dục.

Chi thường xuyên là quá trình phân phối và sử dụng vốn từ quỹ NSNN

để đáp ứng các nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường

xuyên của nhà nước về quản lí kinh tế - xã hội. Xét theo lĩnh vực chi, chi

thường xuyên bao gồm:

-



Chi cho các đơn vị sự nghiệp.

+ Chi cho hoạt động của các đơn vị sự nghiệp kinh tế của nhà nước

+ Chi cho hoạt động các đơn vị sự nghiệp văn hóa – xã hội



-



Chi cho các hoạt động quản lý nhà nước (chi quản lý hành chính)

Chi cho hoạt động an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội

Chi khác

Chi NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản chi trong nhóm chi cho các

đơn vị sự nghiệp, là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ

quỹ NSNN nhằm duy trì và phát triển sự nghiệp giáo dục theo ngun tắc

khơng hồn trả trực tiếp.

Chi thường xun NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang đặc điểm chi

thường xuyên NSNN và được biểu hiện cụ thể như sau:

12



Sinh viên: Lê Thị Hằng



12

12

12



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



- Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục mang tính ổn định,

bởi vì khoản chi này phải được chi liên tục hàng năm để phục vụ cho công tác

giáo dục tại các cấp học, nhằm tạo ra những con người hồn thiện, có đủ trình

độ năng lực phục vụ đất nước

- Chi thường xuyên NSNN cho giáo dục mang tính chất tiêu dùng xã

hội. Lý do là vì khoản chi thường xuyên này không trực tiếp tạo ra của cải vật

chất cho xã hội mà nó chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong hiện tại,

song điều này không làm mất đi ý nghĩa chiến lược của khoản chi này.Và như

vậy người ta có thể xem nó như là một khoản chi có tích chất tích lũy đặc biệt

cho tương lai.

- Phạm vi, mức độ chi thường xuyên NSNN cho giáo dục gắn chặt với

sự lựa chọn của Nhà nước trong việc cung ứng hàng hóa giáo dục. Căn cứ vào

đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng trong từng thời kỳ phát triển mà

Nhà nước đưa ra những chính sách thực hiện khác nhau. Khoản chi này

thường chiếm tỷ trọng lớn có tính chất quyết định trong việc hình thành hệ

thống giáo dục quốc dân.

1.2.2.Vai trò của chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục

Để ngành giáo dục tồn tại và phát triển thì cần phải có nguồn lực tài trọ

cho các hoạt động của ngành. Chi NSNN có vai trò rất quan trọng để đảm bảo

kinh phí chủ yếu cho sự nghiệp giáo dục duy trì và phát triển theo đúng định

hướng của Nhà nước. Giáo dục được sự quan tâm rất lớn của cả cộng đồng,

tất cả các thành phần kinh tế, mọi công dân trong xã hội. Song trên thực tế

trong tất cả các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục thì nguồn vốn từ NSNN ln

giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng lớn nhất và ổn định nhất trong tất cả các

nguồn vốn đầu tư cho giáo dục. Do vậy quy mô và chất lương giáo dục phụ

thuộc rất nhiều vào nguồn vốn từ NSNN. Vai trò của nó được thể hiện cụ thể

như sau:

13



Sinh viên: Lê Thị Hằng



13

13

13



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



Chi NSNN là một trong những nhân tố quan trọng trong việc đảm bảo

duy trì sự tồn tại và hoạt động của sự nghiệp giáo dục. Để duy trì sư tồn tại

và hoạt động ngành giáo dục cần phải có nguồn tài chính để đảm bảo các nhu

cầu chi tiêu. Phần lớn nhu cầu chi tiêu của ngành giáo dục được đảm bảo

bằng nguồn từ NSNN. Bằng viêc chi NSNN, Nhà nước thực hiện việc cung

cấp các phương tiện vật chất cần thiết trang trải những chi phí phát sinh trong

q trình hoạt động và phát triển của sự nghiệp giáo dục. Một phần chi của

NSNN dùng để đảm bảo đời sống vật chất cho đội ngũ cán bộ giáo viên và

những người làm công tác quản lý trong ngành giáo dục. Khoản chi này bao

gồm các khoản chi lương, phụ cấp lương, các khoản phúc lợi tập thể và có

chế độ khen thưởng phù hợp với từng đối tượng. Đây là khoản chi không thể

thiếu, để bù đắp và tái sản xuất sức lao động cho đội ngũ cán bộ ttrong ngành.

Đồng thời nó là khoản chi nhằm nâng cao đời sống vật chất và khuyến khích

họ nâng cao tinh thần trách nhiệm, lòng nhiệt huyết với nghề.

Chi NSNN là khoản chi lớn trong việc tạo ra cơ sở vật chất, mua sắm,

sửa chữa trang thiết bị, đồ dùng giảng dạy. Hàng năm do quy mô giáo dục

được mở rộng, do nhu cầu hoạt động và sự xuống cấp tất yếu của các tài sản

cố định neen thường phát sinh nhu cầu xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện

đại hóa các trang thiết bị giảng dạy. Đây là khoản chi hết sức cần thiết nhằm

tạo ra tài sản cố định, nâng cao năng suất hoạt động của các tài sản hiện có và

có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục. Một cơ sở vật chất với nhiều

trang thiết bị hiện đại sẽ là cơ sở quan trọng trong việc nâng cao chất lượng

dạy và học. Chi cho khoản này được lấy một phần từ nguồn thu đóng góp xây

dựng từ học sinh tuy nhiên chiếm tỷ lệ nhỏ và nguồn kinh phí từ NSNN,

chiếm tỷ trọng lớn giữ vai trò quan trọng trong tổng nguồn vốn đầu tư.

Chi NSNN có tác dụng điều chỉnh cơ cấu ngành giáo dục theo cấp học,

theo vùng miền khác nhau. Mỗi một cấp học, mỗi vùng đều có những điều

14



Sinh viên: Lê Thị Hằng



14

14

14



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



kiện nhất định và chất lượng giảng dạy và điều kiện trang thiết bị cho học tập.

Hằng năm theo định hướng chủ trương của Đảng và Nhà nước trong từng giai

đoạn nhất định nguồn chi cho sự nghiệp giáo dục có sự khác nhau giữa các

vùng và các cấp học. Trong đó ln ln dành sự ưu tiên đặc biệt cho các

vùng còn khó khăn. Thể hiện tỷ lệ đầu tư của NSNN vào các vùng có điểu

kiện kinh tế còn khó khăn, trình độ dân trí thấp ngày càng tăng. Tăng đầu tư

các vùng này có thêm nguồn lực để xay dựng thêm cơ sở vật chất, thu hút

được đội ngũ giáo viên có trình dộ cao về giảng dạy ở các vùng còn khó khăn.

Điều đó nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống giáo dục một cách tồn diện.

Thơng qua chi ngân sách sẽ điều tiết được cơ cầu chi cho các vùng miền khác

nhau từ đó cơ cấu ngành giáo dục sẽ phát triển theo định hướng của Nhà

nước.

Chi NSNN là điều kiện quan trọng quyết định sự phát triển của giáo

dục. Sự nghiệp giáo dục được coi là yếu tố quan trọng của quá trình quá trình

phát triển kinh tế, do vậy phát triển sự nghiệp giáo dục được coi là mục tiêu,

động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, đòi hỏi phải có sự nỗ

lực cố gắng của tồn xã hội. Tuy nhiên, hiện nay do nguồn thu ngồi ngân

sách còn hạn chế thì kinh phí từ NSNN đóng một vai trò quan trọng trong

việc hiện đại hóa cơ sở vật chất, thực hiện tốt các chủ trương chính sách về

phát triển giáo dục của Nhà nước. Nói cách khác: nguồn kinh phí từ NSNN có

vai trò chủ yếu nhất trong việc đưa sự nghiệp giáo dục phát triển để đáp ứng

được các nhu cầu phát triển của nền kinh tế hiện nay.

Mặc dù NSNN hiện nay còn hạn hẹp lại được sử dụng chi cho nhiều

lĩnh vực khác nhau, song với tầm quan trọng của giáo dục hàng năm Nhà

nước giành sự ưu tiên rất lớn đầu tư để phát huy vai trò quyết định của nó đến

sự phát triển kinh tế của đất nước.



15



Sinh viên: Lê Thị Hằng



15

15

15



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



1.2.3. Nội dung chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho giáo dục

Chi thường xuyên NSNN cho sự nghiệp giáo dục là khoản chi thuộc

nhóm chi hoạt động sự nghiệp cho lĩnh vực văn hóa – xã hội, thuộc phạm vi

chi thường xuyên NSNN. Về bản chất đây là quá trình thực hiện quan hệ phân

phối dưới hình thức giá trị từ quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước theo ngun

tắc khơng hồn trả trực tiếp là chủ yếu, nhằm duy tŕ và phát triển một nền

giáo dục Quốc gia đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước.

Nếu phân chia theo nội dung kinh tế thì chi thường xuyên NSNN cho sự

nghiệp giáo dục được phân thành các nhóm chi sau:

Nhóm 1: chi thanh toán cá nhân

Là khoản chi cho nhu cầu đời sống vật chất, sinh hoạt của cán bộ, giáo

viên trong trường và là khoản chi quan trọng nhất, trực tiếp quyết định đến

chất lượng giáo dục.

Chi thanh toán cá nhân bao gồm chi tiền lương, phụ cấp lương, tiền

thưởng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, phúc lợi tập thể, kinh phí cơng đồn

và các khoản thanh tốn khác cho cá nhân, nhằm duy trì sự hoạt động bình

thường của bộ máy nhà trường.

Nhóm 2: chi nghiệp vụ chuyên môn

Là khoản chi phục vụ cho nghiệp vụ chuyên môn của nhà trường, ảnh

hưởng trực tiếp đến công tác giảng dạy cũng như chất lượng giáo dục, do vậy

cần chú trọng đầu tư thích đáng để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác

giáo dục.

Chi nghiệp vụ chuyên môn bao gồm chi mua tài liệu, sách giáo khoa,

đồ dùng thí nghiệm, chi thanh tốn dịch vụ cơng cộng phục vụ việc giảng dạy

như tiền điện, nước, chi công tác phí và chi nghiệp vụ chun mơn khác.

16



Sinh viên: Lê Thị Hằng



16

16

16



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



Nhóm 3: chi mua sắm, sửa chữa

Là các khoản chi nhằm nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị... Phục vụ

cho việc giảng dạy học tập của nhà trường. Khoản chi này chiếm tỉ trọng

không lớn trong tổng chi thường xuyên NSNN cho giáo dục trung học cơ sở

nhưng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả giảng dạy và học

tập trong nhà trường. Do vậy cần dành ra một mức kinh phí phù hợp để dành

cho khoản chi này.

Chi mua sắm, sửa chữa bao gồm các khoản về mua sắm và sửa chữa tài

sản, nó phụ thuộc vào tình trạng nhà cửa và trang thiết bị của nhà trường.

Nhóm 4: chi khác

Là các khoản chi có thời hạn tác động ngắn, phát sinh tương đối ítvà

khơng thường xuyên liên tục nên việc chi tiêu không thể căn cứ vào định mức

chi, do đó khó khăn trong việc quản lý các khoản chi này và đặc biệt dễ gây

thất thốt lãng phí cho NSNN.

Chi khác gồm các mục chi như chi tiếp khách, chi hỗ trợ thôi việc, chi

cho các ngày lễ lớn, trích lập quỹ...

1.3.Quản lý chi thường xuyên của Ngân sách Nhà nước cho sự nghiệp

giáo dục

1.3.1.Khái niệm

Quản lý chi NSNN nói chung và chi cho sự nghiệp giáo dục nói

riêng là quản lí theo chu trình Ngân sách, được thực hiện bằng cơng cụ kế

hoạch thơng qua 3 khâu chủ yếu là:

-



Lập dự tốn chi NSNN



-



Chấp hành dự toán NSNN



-



Quyết toán NSNN

17



Sinh viên: Lê Thị Hằng



17

17

17



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



1.3.2.Các nguyên tắc quản lý

Tất cả các nội dung công tác quản lý cần phải luôn quán triệt được

các nguyên tắc cơ bản là:

- Nguyên tắc quản lý chi theo dự toán,

- Nguyên tắc chi trực tiếp qua Kho bạc Nhà nước,

- Nguyên tắc tiết kiệm – hiệu quả.

Có như vậy mới thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả vốn NSNN

đầu tư cho sự nghiệp giáo dục.

1.3.3.Quy trình quản lý

1.3.3.1.Lập dự toán

Lập dự toán chi thường xuyên NSNN cho giáo dục thực chất là lập dự

tốn (ước tính) các khoản chi của Nhà nước dành cho các trường thuộc các

cấp học trong một năm. Kết quả của khâu này là dự toán chi thường xuyên

NSNN cho giáo dục được các cấp có thẩm quyền quyết định. Đây là khâu đầu

tiên của một chu trình ngân sách và nó mang tính định hướng, tạo nền tảng

cho các khâu tiếp theo. Các căn cứ để lập dự toán:

- Chủ trương của Nhà nước về phát triển hệ thống giáo dục, chỉ tiêu

tuyển sinh, về số học sinh và giáo viên, chỉ tiêu biên chế định mức kinh phí

trên đầu học sinh..., trong năm kế hoạch. Dựa vào căn cứ này để phân bổ

nguồn lực phù hợp với chính sách ưu tiên của Nhà nước trong từng thời kỳ.

- Khả năng nguồn kinh phí của tỉnh đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu

thường xuyên của huyện. Căn cứ này nhằm huy động nguồn lực tài chính và

đảm bảo chi tiêu trong khn khổ cho phép.

- Dựa vào tiêu chuẩn định mức, các chính sách, chế độ của Nhà nước

liên quan đến hoạt động giáo dục. Tạo điều kiện cho việc quản lý chi trong



18



Sinh viên: Lê Thị Hằng



18

18

18



Lớp: CQ50/01.02



Học viện Tài chính



Luận văn tốt nghiệp



khâu chấp hành ngân sách cũng như việc đánh giá, quyết toán ngân sách được

hiệu quả.

- Căn cứ vào đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm trước. Căn cứ

này là cơ sở để xây dựng dự toán một cách chính xác, sát thực với tình hình

thực tế của các trường.

Trình tự các bước lập dự tốn:

Bước 1: Hướng dẫn và giao số dự toán

Sau khi UBND tỉnh giao số dự tốn, Phòng Tài chính – Kế hoạch phối

hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn các trường trong huyện lập dự

tốn cho đơn vị mình.

Bước 2: Xây dựng dự toán và tổng hợp dự toán từ các trường

Phòng GD&ĐT xây dựng dự tốn chi thường xuyên cho các trường,

tổng hợp dự toán từ các trường gửi lên sau đó gửi sang Phòng Tài chính – Kế

hoạch xem xét tính hợp lệ, đúng đắn cũng như điều chỉnh dự tốn kinh phí mà

các trường lập và trình UBND đồng cấp, sau đó trình lên cơ quan tài chính

cấp trên. Đây là bước quan trọng để đạt được sự nhất quán giữa mục tiêu cần

đạt được và nguồn lực sẵn có để có thể đệ trình lên cơ quan cấp trên ra quyết

định.

Bước 3: Quyết định giao dự toán

Dựa vào chế độ kế toán và định mức chi tiêu dành cho các trường đã

được HĐND huyện phê duyệt. UBND huyện ra quyết định phân bổ dự toán

kinh phí cho phòng Tài chính – kế hoạch huyện, từ đó phân cho phòng giáo

dục huyện và các trường do huyện quản lý.

1.3.3.2.Chấp hành dự toán

Chấp hành dự toán chi thường xuyên NSNN cho các trường là khâu thứ

hai trong chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN cho các trường. Nó là

19



Sinh viên: Lê Thị Hằng



19

19

19



Lớp: CQ50/01.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CHO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×