Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học viện Tài chính



6



Luận văn tốt nghiệp



1.1.2.Yêu cầu quản lý hoạt động quá trình bán hàng,

xác định kết quả kinh doanh.

Quản lý quá trình bán hàng và kết quả kinh doanh là một yêu cầu thực tế,

nó xuất phát từ mục đích lợi nhuận của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp quản lý

tốt khâu bán hàng thì mới đảm bảo được chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch tiêu thụ

sản phẩm và đánh giá được độ chính xác hiệu quả sản xuất kinh doanh của

doanh nghiệp đó. Vì vậy vấn đề đặt ra cho mỗi doanh nghiệp là:

- Quản lý kế hoạch và tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ đối với từng

loại sản phẩm, từng thời kỳ, từng khách hàng, từng hoạt động kinh tế... Quản lý

theo chi tiết số lượng, chất lượng, chủng loại và giá trị của từng loại sản phẩm

hàng hóa, tránh hiện tượng mất mát, hư hỏng, tham ô thành phẩm đem tiêu thụ.

- Quản lý chất lượng sản phẩm và xây dựng thương hiệu là mục tiêu cho sự

phát triển bền vững của doanh nghiệp.

- Quản lý theo dõi từng phương thức bán hàng, từng khách hàng, tình

hình thanh tốn của khách hàng. u cầu khách hàng thanh tốn đúng hình

thức, đúng hạn để tránh hiện tượng mất mát thất thoát, ứ đọng vốn, bị

chiếm dụng vốn. Doanh nghiệp cần phải lựa chọn hình thức tiêu thụ đối với

từng đơn vị, từng thị trường, từng khách hàng nhằm thúc đẩy nhanh quá

trình tiêu thụ đồng thời phải tiến hành thăm dò, nghiên cứu thị trường và

mở rộng quan hệ buôn bán.

- Quản lý, giám sát chặt chẽ vốn, các khoản chí phí bán hàng, chí phí quản

lý doanh nghiệp, kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của các số liệu đảm bảo cho việc

xác định tiêu thụ được chính xác, hợp lý.



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



7



Luận văn tốt nghiệp



- Đối với việc hạch toán phải tổ chức chặt chẽ, khoa học đảm bảo việc xác

định kết quả cuối cùng của quá trình tiêu thụ, phản ánh và giám sát tình hình

thực hiện nghĩa vụ với Nhà Nước đầy đủ, kịp thời.



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



8



Luận văn tốt nghiệp



1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết kinh doanh.

Để đáp ứng nhu cầu về quản lý hàng hóa, bán hàng và xác định kết quả

kinh doanh, kế toán của doanh nghiệp cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ

sau:

- Phản ánh và ghi chép đầy đủ kịp thời, chính xác tình hình thực tế và sự

biến động của từng loại hàng hóa theo chỉ tiêu số lượng, chất lượng, chủng

loại và giá trị

- Phản ánh và ghi chép đầy đủ, hợp lý, kịp thời và chính xác các khoản

doanh thu, giảm trừ doanh thu. Tính tốn đúng đắn giá vốn của hàng hóa,

CPBH, CPQLDN và các chi phí khác nhằm xác định chính xác kết quả kinh

doanh. Đồng thời theo dõi, đôn đốc các khoản phải thu của khác hàng.

- Kiểm tra và giám sát tiến độ thực hiện kế hoạch bán hàng, việc thực

hiện nghĩa vụ với nhà nước và tình hình phân phối kết quả bán hàng.

- Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính

và định kỳ phân tích hoạt động kinh doanh liên quan đến quá trình bán hàng

và xác định kết quả kinh doanh.

Như vậy, kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là công tác

quan trọng của doanh nghiệp trong việc xác định số lượng và giá trị của hàng

hóa bán ra cũng như doanh thu và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy

nhiên để phát huy hết vai trò thực hiện tốt các nhiệm vụ đã nêu trên đòi hỏi

việc tổ chức cơng tác kế toán phải thật khoa học, hợp lý đồng thời cán bộ kế

tốn cần phải nắm vững nội dung cơng tác kế tốn nói chung và kế tốn bán

hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp nói riêng.



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



9



Luận văn tốt nghiệp



1.2. KHÁI QUÁT VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ

KINH DOANH

1.2.1.Các phương thức bán hàng

Để đẩy mạnh khối lượng tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp có thể sử

dụng các phương thức bán hàng phù hợp với đặc điểm kinh doanh, mặt hàng tiêu

thụ của mình. Cơng tác tiêu thụ hàng hóa trong doanh nghiệp có thể được tiến

hành theo những phương thức sau:

* Phương thức bán buôn:

Bán buôn là việc bán sản phẩm của doanh nghiệp cho các doanh nghiệp

khác, các cửa hàng, đại lý…với số lượng lớn để các đơn vị tiếp tục bán cho các

tổ chức khác hay phục vụ cho việc khác nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu kinh tế.

Có 2 phương thức bán buôn:

-Bán buôn qua kho: Theo phương thức này, sản phẩm được sản xuất tại kho

của doanh nghiệp, sau đó chuyển bán cho khách hàng, bao gồm 2 trường hợp cụ

thể:

+ Bán buôn trực tiếp tại kho: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế mà doanh

nghiệp đã ký kết, doanh nghiệp xuất thành phẩm từ kho giao trực tiếp cho khách

hàng tại kho của doanh nghiệp. Khách hàng phải tự chịu trách nhiệm vận chuyển

hàng. Chứng từ sử dụng trong phương thức này là hoá đơn GTGT, thời điểm xác

nhận doanh thu là khi người mua đã nhận đủ hàng và ký xác nhận lên chứng từ

bán hàng. Hình thức thanh tốn tiền hàng dựa trên điều khoản thanh tốn có

trong hợp đồng đã ký kết.

+ Bán bn theo phương thức chuyển hàng: Căn cứ vào hợp đồng Kinh tế

đã ký kết, doanh nghiệp vận chuyển sản phẩm đến kho khách hàng bằng phương

tiện do doanh nghiệp quyết định. Thời điểm xác định doanh thu là khi khách



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



10



Luận văn tốt nghiệp



hàng đã nhận được hàng và thanh toán hay chấp nhận thanh toán. Chứng từ bán

hàng là hoá đơn GTGT

- Bán buôn không qua kho: Theo phương thức này doanh nghiệp sẽ bán sản

phẩm cho khách hàng ngay tại nơi sản xuất, sản phẩm sản xuất ra sẽ không làm

thủ tục nhập kho. Thời điểm xác nhận doanh thu là khi khách hàng đã nhận đủ

hàng và chấp nhận thanh toán.

* Phương thức bán lẻ:

Bán lẻ là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng nhằm đáp

ứng các nhu cầu sinh hoạt cá nhân và bộ phận nhu cầu kinh tế tập thể. Số lượng

tiêu thụ của mỗi lần bán thường vừa và nhỏ tùy theo từng loại hàng hóa. Có

nhiều phương thức bán lẻ:

- Phương thức bán hàng thu tiền trực tiếp:

Theo phương thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thực hiện nghĩa vụ thu

tiền và giao hàng cho khách hàng. Nhân viên bán hàng hoàn toàn chịu trách

nhiệm về số sản phẩm bán ra và chịu trách nhiệm quản lý về số tiền bán hàng

trong ngày. Định kỳ nhân viên bán hàng xác định lượng hàng đã bán ra và lập

báo cáo bán hàng. Đây là chứng từ để kể toán căn cứ và ghi sổ. Hàng ngày khi

nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ, nhân viên bán hàng phải nộp kèm theo giấy nộp

tiền bán hàng.

- Phương thức giao hàng đại lý(ký gửi):

Theo phương thức này, sản phẩm sản xuất ra được giao cho các đại lý để

tiêu thụ, hàng hóa ký gửi được coi là hàng gửi bán và vẫn thuộc quyền sở hữu

của doanh nghiệp cho đến khi doanh nghiệp nhận được thông báo đã bán được

hàng. Căn cứ vào hợp đồng Kinh tế đã ký với bên nhận đại lý, doanh nghiệp lập

chứng từ, phiếu xuất kho hay biên bản giao hàng để giao cho đại lý. Đến thời



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



11



Luận văn tốt nghiệp



hạn thanh toán, đại lý sẽ lập quyết toán gửi cho doanh nghiệp về số hàng đã bán,

số tiền bán hàng đã thu và số tiền hoa hồng cho bên đại lý. Khi đó hang hóa mới

được coi là đã tiêu thụ và kế toán căn cứ vào bảng quyết tốn để nghi sổ.

- Phương thức bán hàng trả góp, trả chậm:

Theo phương thức này khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển

giao được coi là tiêu thụ, khi đó doanh thu bán hàng được tính theo giá bán tại

thời điểm thu tiền một lần, khách hàng chỉ phải thanh toán một phần tiền mua

hàng để nhận hàng và phần còn lại sẽ được trả dần trong một thời gian và chịu

khoản lãi theo quy định đã ghi trong hợp đồng. Khoản lãi do bán trả góp được

hạch tốn vào doanh thu hoạt động tài chính.

*Các phương thức bán hàng khác:

Ngoài các phương thức tiêu thụ chủ yếu trên, doanh nghiệp còn có thể sử

dụng phương thức đổi hàng, sử dụng sản phẩm của mình sản xuất ra để phục vụ

cho hợp đồng sản xuất kinh doanh, triển lãm, biếu tặng hoặc sử dụng sản phẩm,

hàng hóa để thanh tốn tiền lương, tiền thưởng cho cán bộ cơng nhân viên

chức…

1.2.2.Doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ doanh thu

* Doanh thu bán hàng

Doanh thu bán hàng là toàn bộ số tiền thu được hoặc số thu được từ các

giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán hàng cho khách hàng

bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngồi giá bán (nếu có).

Điều kiện ghi nhận:Doanh thu bán hàng được phép ghi nhận khi đồng

thời thỏa mãn tất cả 5 điều kiện sau:

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền

với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa sang cho người mua.



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



12



Luận văn tốt nghiệp



- Doanh nghiệp khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như

người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa.

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.

- Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ

giao dịch bán hàng.

- Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

* Các khoản giảm trừ doanh thu

Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm:

- Chiết khấu thương mại: là khoản tiền chênh lệch giá bán nhỏ hơn

giá niêm yết mà doanh nghiệp đã giảm trừ cho người mua hàng do việc

người mua hàng đã mua sản phẩm, hàng hóa với khối lượng lớn theo

thỏa thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua

bán hoặc các cam kết mua, bán hàng.

- Giảm giá hàng bán: là khoản tiền doanh nghiệp giảm trừ cho bên

mua hàng trong trường hợp đặc biệt vì lý do hàng bán bị kém phẩm

chất, không đúng theo yêu cầu, quy cách, hoặc không đúng thời hạn…

đã ghi trong hợp đồng.

- Doanh thu hàng đã bán bị trả lại: là số sản phẩm, hàng hóa

doanh nghiệp đã xác định tiêu thụ, đã được ghi nhận doanh thu nhưng

bị khách hàng trả lại do vi phạm các điều kiện đã cam kết trong hợp

đồng kinh tế hoặc theo chính sách bảo hành, như: Hàng kém phẩm

chất, không đúng yêu cầu, sai quy cách, chủng loại.

1.2.3. Giá vốn hàng bán

Trị giá vốn hàng bán là toàn bộ chi phí kinh doanh liên quan đến q

trình bán hàng, bao gồm trị giá vốn hàng xuất kho, chi phí bán hàng và chi

phí quản lý doanh nghiệp.

* Cách xác định trị giá vốn hàng xuất kho

GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



13



Luận văn tốt nghiệp



- Đối với thành phẩm: Thành phẩm xuất kho được phản ánh theo giá

thành sản xuất thực tế xuất kho. Việc tính giá thành thực tế của thành phẩm

xuất kho được áp dụng một trong bốn phương pháp sau:

 Phương pháp tính theo giá đích danh: được áp dụng đối với doanh

nghiệp có tương đối ít loại mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện

được. Theo phương pháp này, hàng hóa nhập kho từng lơ theo giá nào thì xuất

kho theo giá đó khơng quan tâm đến thời gian nhập, xuất.

 Phương pháp bình quân gia quyền: giá trị của từng loại hàng hóa xuất

kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng hóa tương tự đầu kỳ

và giá trị từng loại hàng hóa được mua trong kỳ. Giá trị trung bình có thể

được tính theo thời kỳ hoặc vào sau mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc

vào tình hình của doanh nghiệp.

 Phương pháp nhập trước, xuất trước: Phương pháp này giả định là

hàng hóa nào mua trước thì sẽ xuất trước và lấy giá thực tế của lần xuất đó là

giá của hàng hóa xuất kho.

 Phương pháp nhập sau, xuất trước: Theo phương pháp này, giả định

số hàng hóa nào nhập sau thì sẽ xuất trước, lấy đơn giá xuất kho bằng đơn giá

nhập.

- Đối với hàng hóa: Trị giá vốn thực tế của hàng hóa xuất kho

được tính theo 2 bộ phận sau: Trị giá mua thực tế + Chi phí mua phân

bổ cho hàng hóa xuất kho.

 Trị giá mua thực tế của hàng hóa xuất kho bao gồm giá mua phải trả

người bán và thuế nhập khẩu (nếu có). Trong trường hợp doanh nghiệp mua

hàng hóa về để bán lại nhưng phải qua gia cơng, sơ chế thì trị giá mua sẽ bao

gồm cả chi phí gia cơng, chế biến.

Việc tính trị giá mua thực tế của hàng xuất kho được áp dụng theo một

trong bốn phương pháp như tính trị giá thành phẩm xuất kho.

GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



14



Luận văn tốt nghiệp



 Chi phí mua phân bổ cho hàng hóa xuất kho bao gồm các chi phí liên

quan trực tiếp đến q trình thu mua: Chi phí vận chuyển, bốc dỡ, tiền thuê

kho, bãi, khoản hao hụt tự nhiên trong định mức phát sinh qua q trình thu

mua.

Chi phí thu mua được phân bổ vào cuối kỳ cho số hàng hóa xuất kho

theo cơng thức sau:

Chi phí mua

hàng phân bổ

cho HH xuất



Chi phí mua hàng của

=



HH tồn kho đầu kỳ



+



Chi phí mua hàng của



Tiêu chuẩn



HH phát sinh trong kỳ



x



HH tồn kho cuối kỳ và HH đã xuất bán trong kỳ



kho trong kỳ



phân bổ của

HH đã xuất

bán trong kỳ



1.2.4.Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp

* Chi phí bán hàng

Chi phí bán hàng là tồn bộ các chi phí liên quan đến q trình bán sản

phẩm, hàng hóa

Nội dung của chi phí bán hàng bao gồm các yếu tố sau:

- Chi phí nhân viên bán hàng: là tồn bộ các khoản tiền lương phải

trả cho nhân viên bán hàng, nhân viên đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng

hố, nhân viên vận chuyển đi tiêu thụ và các khoản tính theo lương

(BHXH, BHYT, KPCĐ).

- Chi phí vật liệu, bao bì: là các khoản chi phí về vật liệu, bao bì để

đóng gói, bảo quản sản phẩm, hàng hoá, các loại vật liệu dùng để sửa

chữa TSCĐ dùng trong khâu bán hàng, nhiên liệu cho vận chuyển sản

phẩm, hàng hố.

- Chi phí dụng cụ đồ dùng: là chi phí về cơng cụ, dụng cụ, đồ dùng

đo lường, tính tốn làm việc phát sinh ở khâu bán hàng và cung cấp dịch

vụ.



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



15



Luận văn tốt nghiệp



- Chi phí khấu hao TSCĐ: chi phí khấu hao TSCĐ dùng ở khâu tiêu

thụ sản phẩm, hàng hoá và cung cấp dịch vụ như nhà kho, cửa hàng, máy

bán hang, phương tiện vận chuyển bốc dỡ...

- Chi phí bảo hành sản phẩm: là các khoản chi phí của các dịch vụ

mua ngoài phục vụ cho khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hố và dịch vụ như:

chi phí th tài sản, thuê kho, thuê bến bãi, tiền hoa hồng đại lý…

- Chi phí bằng tiền khác: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh

trong khâu tiêu thụ sản phẩm, hàng hố và cung cấp dịch vụ nằm ngồi

các chi phí kể trên như: chi phí tiếp khách, hội nghị khách hàng, chi phí

quảng cáo giới thiệu sản phẩm, hàng hố…

* Chi phí quản lý doanh nghiệp

Chi phí quản lý doanh nghiệp là tồn bộ chi phí liên quan đến hoạt động

quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý hành chính và một số khoản có tính chất

chung tồn doanh nghiệp

Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm các yếu tố sau:

- Chi phí nhân viên quản lý: Gồm tiền lương, phụ cấp phải trả cho

ban giám đốc, nhân viên các phòng ban của doanh nghiệp và khoản trích

BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lương nhân viên quản lý theo tỷ lệ quy

định.

- Chi phí vật liệu quản lý: Trị giá thực tế các loại vật liệu, nhiên liệu

xuất dùng cho hoạt động quản lý của ban giám đốc và các phòng ban

nhiệm vụ của doanh nghiệp, cho việc sữa chữa TSCĐ, cơng cụ, dụng cụ

dùng chung của doanh nghiệp.

- Chi phí đồ dùng văn phòng: Chi phí về dụng cụ, đồ dùng văn

phòng dùng cho cơng tác quản lý chung của doanh nghiệp.



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Học viện Tài chính



16



Luận văn tốt nghiệp



- Chi phí khấu hao TSCĐ: Khấu hao của những TSCĐ dùng chung

cho doanh nghiệp như văn phòng làm việc, kho tàng, vật kiến trúc…

- Thuế phí, lệ phí: Các khoản thuế như thuế nhà đất, thuế mơn bài và

các khoản phí, lệ phí giao thơng, cầu phà…

- Chi phí dự phòng: Khoản trích dự phòng phải thu khó đòi.

- Chi phí dịch vụ mua ngồi: Các khoản chi phí về dịch vụ mua

ngồi, th ngồi như tiền điện, nước, thuê sửa chữa TSCĐ dùng chung

của doanh nghiệp.

- Chi phí bằng tiền khác: Các khoản chi phí khác bằng tiền ngoài các

khoản đã kể trên như chi phí hội nghị, tiếp khách, chi cơng tác phí, đào tạo

cán bộ…

Chi phí quản lý doanh nghiệp là loại chi phí gián tiếp sản xuất kinh

doanh cần được dự tính và quản lý chi tiêu tiết kiệm, hợp lý. Hoạt động quản lý

doanh nghiệp liên quan đến các hoạt động của doanh nghiệp, do vậy cuối kỳ cần

được tính tốn phân bổ, kết chuyển để xác định kết quả kinh doanh.

1.2.5.Chi phí hoạt động tài chính và doanh thu hoạt động tài chính

*Chi phí hoạt động tài chính

Chi phí hoạt động tài chính là những chi phí liên quan đến các hoạt

động về vốn, các hoạt động đầu tư tài chính và các nghiệp vụ mang tính chất

tài chính của doanh nghiệp.

Chi phí hoạt động tài chính bao gồm:

- Chi phí liên quan đến hoạt động đầu tư cơng cụ tài chính, đầu tư liên

doanh, liên kết, đầu tư vào cơng ty con

- Chi phí liên quan đến hoạt động cho vay vốn

- Chi phí liên quan đến mua bán ngoại tệ



GVHD:PGS/TS NGUYỄN VŨ VIỆT



SV: Bùi Đức Phúc



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×