Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.9: Thực trạng quyết toán một số công trình

Bảng 2.9: Thực trạng quyết toán một số công trình

Tải bản đầy đủ - 0trang

1



1



MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu



Thành phố Tuyên Quang là thành phố trung tâm và lớn nhất của tỉnh

Tuyên Quang. Trong những năm qua, thành phố Tuyên Quang đã đầu tư xây

dựng nhiều dự án trọng điểm, cải tạo nâng cấp nhiều dự án để phục vụ đời

sống dân sinh. Để quản lý những dự án đầu tư xây dựng của thành phố, Ban

Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực thành phố Tuyên Quang đã được

thành lập và đạt được những kết quả tốt với nhiều dự án đã được triển khai và

hoàn thành làm thay đổi bộ mặt của tỉnh Tuyên Quang.

Tuy nhiên, công tác quản lý dự án của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng

khu vực thành phố Tuyên Quang vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế dẫn đến việc

phát sinh chi phí đầu tư, ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi cơng cơng trình

và tính hiệu quả của đầu tư.

Xuất phát từ thực tế nêu trên, việc nghiên cứu đề tài Hồn thiện cơng tác

quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng khu

vực thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang là rất cần thiết.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài



Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án của Ban Quản lý

dự án đầu tư xây dựng khu vực thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài



- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng và quản lý dự án

đầu tư xây dựng.

- Phân tích đánh giá thực trạng cơng tác quản lý dự án đầu tư xây dựng

của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực thành phố Tuyên

Quang, tỉnh Tuyên Quang từ năm 2013-2018.

- Đề xuất giải pháp hồn thiện cơng tác quản lý dự án đầu tư xây dựng

của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực thành phố Tuyên

Quang, tỉnh Tuyên Quang.



2



4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu



- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng của

Ban quản lý dự án.

- Phạm vi nghiên cứu: Các dự án đã và đang được thực hiện của Ban

quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực thành phố Tuyên Quang trong giai

đoạn từ năm 2013 đến năm 2018.

5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài



- Phương pháp luận: đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng.

- Phương pháp cụ thể: đề tài sử dụng các phương pháp sau:

+ Điều tra, thu thập số liệu.

+ So sánh, phân tích, tổng hợp

6. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài



a, Cơ sở khoa học.

Cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tư xây dựng, quy định pháp lý của

Nhà nước Việt Nam về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

b, Cơ sở thực tiễn.

Thực trạng công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban quản lý dự án

đầu tư xây dựng khu vực thành phố Tuyên Quang từ năm 2013 đến năm 2018.

7. Kết quả đạt được và các vấn đề còn tồn tại



Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về dự án đầu tư xây dựng, quản lý

dự án đầu tư xây dựng.

Thực trạng công tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án đầu tư xây

dựng khu vực thành phố Tuyên Quang xuất phát từ các nội dung thực tiễn

trong hoạt động quản lý dự án tại Ban quản lý dự án.Trên cơ sở phân tích tìm

ra những hạn chế trong công tác quản lý dự án , luận văn đã đưa ra một số

giải pháp hồn thiện cơng tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án đầu tư xây

dựng khu vực thành phố Tuyên Quang.



3



CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN

LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

Cơ sở lý luận về dự án đầu tư xây dựng và quản lý



1.



dự án đầu tư xây dựng

1.1.1.



Dự án đầu tư xây dựng



1.1.1.1. Khái niệm về dự án đầu tư, dự án đầu tư xây dựng



- Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau:

Theo Luật đầu tư năm 2005: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ

vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể,

trong khoảng thời gian xác định”.

Về mặt hình thức: dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách

chi tiết và có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được

những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.

Xét trên góc độ quản lý: dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử

dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong

một thời gian dài [2].

Trên góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư là một công cụ thể hiện kế hoạch

chi tiết của một công cuôc đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội,

làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ.[2]

Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí

cần thiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa

điểm xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất

định nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tương lai.[2]

- Dự án đầu tư (DAĐT) xây dựng là những dự án đầu tư phải thông qua

hoạt động xây dựng mới thực hiện được mục đích đầu tư .

Theo khoản 15 điều 3 Luật Xây Dựng năm 2014: “Dự án đầu tư xây

dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành



4



hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng

nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng cơng trình hoặc sản phẩm, dịch

vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây

dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư

xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế kỹ thuật đầu tư xây dựng”.

Về phương diện lý luận, DAĐT xây dựng được hiểu là các DAĐT mà

đối tượng đầu tư là cơng trình xây dựng, nghĩa là dự án có liên quan tới hoạt

động xây dựng cơ bản (XDCB) như xây dựng nhà cửa, đường xá, cầu cống,...

Không phải tất cả các DAĐT đều có liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản.

Vì thế, đối với những DAĐT khơng liên quan tới hoạt động xây dựng cơ bản

không gọi là DAĐT xây dựng.[1]

DAĐT xây dựng bao gồm dự án xây dựng mới cơng trình, dự án cải tạo

nâng cấp, duy tu sửa chữa các cơng trình đã được đầu tư xây dựng.

1.1.1.2. Đặc điểm của dự án đầu tư xây dựng

Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các hồ sơ và bản vẽ thiết kế, trong đó

bao gồm các tài liệu pháp lý, quy hoạch tổng thể, kiến trúc, kết cấu, công

nghệ và tổ chức thực hiện dự án. Các dự án đầu tư xây dựng có một số đặc

điểm sau:

- Có tính thay đổi: Dự án đầu tư xây dựng không tồn tại một cách ổn

định, hàng loạt phần tử của nó đều có thể thay đổi trong quá trình thực hiện

dự án do nhiều nguyên nhân. Chẳng hạn như các nhân tố từ bên trong như

nguồn lực tài chính, các hoạt động sản xuất,… và các nhân tố bên ngồi như

mơi trường chính trị, kinh tế, kỹ thuật, cơng nghệ… và thậm chí cả điều kiện

kinh tế xã hội.

- Có tính duy nhất: Mỗi dự án đều có đặc trưng riêng biệt được thực

hiện trong những điều kiện khác biệt nhau về cả địa điểm, không gian, thời



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.9: Thực trạng quyết toán một số công trình

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×