Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN III. ĐỀ XUẤT, KIÉ N NGHỊ

PHẦN III. ĐỀ XUẤT, KIÉ N NGHỊ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Thơng tư. Chính vì vậy, việc xây dựng một đạo Luật về hộ tịch làm cơ sở pháp

lý đồng bộ, thống nhất về đăng ký và quản lý hộ tịch trong toàn quốc là yêu cầu

cấp thiết đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

2. Tiếp tục phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch:

2.1. Lập Sổ bộ hộ tịch và cấp Sổ hộ tịch cá nhân:



Để khắc phục tình trạng dữ liệu hộ tịch của cá nhân bị phân tán, khơng

kết nối được với nhau thì cần cải tiến sổ hộ tịch và phương thức đăng ký, quản

lý hộ tịch. Theo đó, cần lập Sổ bộ hộ tịch (do cơ quan nhà nước quản lý) và cấp

Sổ hộ tịch cá nhân (do cá nhân công dân giữ để sử dụng khi cần chứng minh tình

trạng hộ tịch của mình). Sổ bộ hộ tịch được lập và Sổ hộ tịch cá nhân được cấp

khi công dân đăng ký khai sinh và các sự kiện hộ tịch phát sinh sau khi đăng ký

khai sinh như: kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ

tịch... cũng sẽ phải được ghi vào Sổ bộ hộ tịch và Sổ hộ tịch cá nhân.

2.2. Cấp số định danh công dân



Hiện nay, khi các cơ quan nhà nước, các tổ chức cấp các loại giấy tờ liên

quan đến nhân thân của mỗi cá nhân để sử dụng thường dùng nhiều số khác

nhau (Số chứng minh nhân dân, Số Hộ chiếu, Mã số thuế...) nên khơng có sự

thống nhất, kết nối với nhau dẫn đến khó khăn cho cơng tác quản lý xã hội. Dự

thảo Luật cần quy định việc cấp số định danh công dân cho công dân Việt Nam

và số này sẽ được ghi vào Sổ bộ hộ tịch, Sổ hộ tịch cá nhân; theo đó, các số

Chứng minh nhân dân, mã số thuế... của cá nhân cũng sẽ lấy theo số này; từ đó,

mỗi cá nhân chỉ cần có một số duy nhất trong đời để thực hiện các giao dịch liên

quan.

2.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử:



Cần xác định, xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là một yêu cầu bức

thiết hiện nay. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công

tác quản lý hộ tịch, đặc biệt là trong thống kê, báo cáo số liệu đăng ký hộ tịch để

phục vụ chính xác, kịp thời cho việc xây dựng, hoạch định chính sách kinh tế, xã

hội, quốc phòng, an ninh và trong tra cứu thông tin biến động hộ tịch theo yêu

cầu của người dân.

2.4. Tăng cường công tác tuyên truyền:



Cần coi công tác tun truyền là nhiệm vụ khơng thể thiếu của chính



quyền các cấp; nâng cao nhận thức về pháp luật cho người dân, đặc biệt là bà

con thuộc khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa là đòi hỏi cấp bách, cần được

thực hiện thường xuyên. Để thu hút sự tham gia của bà con, cần có những tài

liệu chuẩn phục vụ cơng tác tun truyền, trong đó lưu ý trình độ của bà con

theo từng vùng (tránh việc đọc văn bản), bên cạnh đó cũng cần đầu tư những

khoản kinh phí cần thiết phục vụ cho cơng tác tun truyền, để bảo đảm hiệu

quả của công tác tuyên truyền.

2.5. Tăng cường bảo đảm các điều kiện về phương tiện, cơ sở vật chất



cho các cơ quan tư pháp

Các cấp chính quyền địa phương cần xác định rõ ý nghĩa và tầm quan

trọng của cơng tác hộ tịch trong việc góp phần xây dựng các chính sách về kinh

tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình để quan tâm,

đầu tư hơn cho cơng tác này. Cần dành kinh phí nhất định cho việc mở các lớp

tập huấn, các đợt tuyên truyền để người dân hiểu được quyền và nghĩa vụ đăng

ký hộ tịch của mình. Tại các xã, phường, thị trấn cần trang bị đầy đủ phương

tiện làm việc (máy tính), tủ lưu hồ sơ, sổ hộ tịch, bố trí địa điểm tiếp dân...

2.6. Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, tạo điều kiện thuận lợi



tối đa cho người dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch

Thực hiện yêu cầu cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa quy

trình, rút ngắn thời gian giải quyết, giảm bớt chi phí và phiền hà cho cơng dân

khi có u cầu đăng ký hộ tịch đã được thể hiện tại Nghị định số 158/2005/NĐCP; tuy nhiên, để người dân thực sự được hưởng lợi từ u cầu cải cách thủ tục

hành chính, đòi hỏi trước hết là các công chức trực tiếp giải quyết yêu cầu đăng

ký hộ tịch của công dân phải là những người có đạo đức, có tâm với nghề; thực

hiện đúng chức trách của cán bộ cơng chức nói chung và cán bộ làm cơng tác hộ

tịch nói riêng đã được quy định cụ thể trong pháp luật.



KỂ T LUẬN

Ngày 29 tháng 12 năm 2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định số

158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch, thay thế Nghị định số



83/1998/NĐ-CP. Giữ nguyên quy định về đăng ký sổ kép tại Nghị định số

83/1998/NĐ-CP, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định việc lưu sổ ở hai cấp

là Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã,

thành phố thuộc tỉnh. Nghị định số 158/2005/NĐ-CP cũng đã quy định rõ: Cán

bộ Tư pháp hộ tịch là công chức cấp xã, giúp UBND cấp xã thực hiện các nhiệm

vụ, quyền hạn trong đăng ký và quản lý hộ tịch; đối với những xã, phường, thị

trấn có đơng dân cư, số lượng cơng việc hộ tịch nhiều, thì phải có cán bộ chuyên

trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các cơng tác tư pháp khác.

Ở thời điểm hiện tại, ngồi những quy định có tính ngun tắc liên quan

đến hộ tịch và đăng ký hộ tịch tại Bộ luật Dân sự năm 2005 (quy định về quyền

nhân thân), Luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 (quy định về

quyền được đăng ký khai sinh và có quốc tịch), Luật Hơn nhân và gia đình năm

2000 (quy định về kết hôn; nhận cha, mẹ, con), Luật Nuôi con nuôi năm 2010

(quy định về nuôi con nuôi trong nước và ni con ni có yếu tố nước ngồi),

còn có tới 06 Nghị định, 01 Thơng tư liên tịch và 05 Thông tư điều chỉnh trực

tiếp trong lĩnh vực hộ tịch .

Cho đến nay, mặc dù Nhà nước ta chưa có một đạo luật riêng về hộ tịch

nhưng hệ thống pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực hộ tịch (kể cả văn bản pháp

luật điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch trong nước và hộ tịch có yếu tố nước ngoài) đã

ngày càng được tăng cường và đã phát huy hiệu quả, góp phần tích cực cho cơng

tác đăng ký và quản lý hộ tịch, cụ thể là:

- Tạo hành lang pháp lý bảo đảm cho sự quản lý của Nhà nước về công



tác hộ tịch;

- Bảo đảm sự thống nhất trong toàn quốc và các Cơ quan đại diện trong



việc thực hiện các văn bản pháp luật về hộ tịch;

- Bảo đảm công khai, minh bạch về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời



gian giải quyết các yêu cầu đăng ký hộ tịch;

- Tạo điều kiện thuận lợi cho cơng dân khi có u cầu đăng ký hộ tịch;

- Định hướng lành mạnh hóa quan hệ hơn nhân và gia đình có yếu tố



nước ngồi, phù hợp với thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; góp



phần vào hội nhập quốc tế.

Do các cấp ủy, chính quyền địa phương đã nhận thức được tầm quan

trọng của công tác hộ tịch, nên đã quan tâm, đầu tư hơn cho cơng tác tun

truyền, qua đó, người dân đã nhận thức được việc đăng ký hộ tịch vừa là quyền,

vừa là nghĩa vụ của mình nên đã tự giác đi đăng ký, qua đó tỷ lệ đăng ký hộ tịch

đã được tăng lên. Quy định về đăng ký hộ tịch lưu động ở khu vực miền núi,

vùng sâu, vùng xa cũng đã được triển khai ở một số địa phương, qua mỗi đợt

đăng ký lưu động, đa số các sự kiện hộ tịch phát sinh trên địa bàn tại thời điểm

đó đã được đăng ký.

Đánh giá lại tình huống:

Để hoàn thiện thủ tục thay đổi hộ tịch (đổi tên cho con anh Long). Ngày

03/11/2016 sau khi đã hỏi và được nghe hướng dẫn của cán bộ tiếp nhận và trả

hồ sơ hành chính Sở tư pháp Hà Tĩnh, anh Long đã đến Bộ phận tiếp nhận và trả

kết quả hồ sơ hành chính UBND thành phố làm thủ tục thay đổi hộ tịch và xuất

trình các giấy tờ sau:

1. Tờ khai đăng ký việc thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại



dân tộc, xác định lại giới tính trong Giấy khai sinh (theo mẫu).

2. Bản chính Giấy khai sinh của người cần thay đổi (để thực hiện ghi chú



nội dung thay đổi).

3. Bản photo CMND/Hộ chiếu và Sổ hộ khẩu của người yêu cầu.

4. Các giấy tờ liên quan để làm căn cứ cho việc thay đổi hộ tịch (ví dụ:



gia phả dòng họ, quyết định nhận cha, mẹ con, Quyết định việc nuôi con nuôi,

Quyết định xác định giới tính....).

(nộp bản photo hoặc bản sao chứng thực).

Giấy tờ phải xuất trình:

1. Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của người có yêu cầu (người được



ủy quyền - nếu có).

2. Sổ hộ khẩu, sổ đăng ký tạm trú (đối với công dân Việt Nam ở trong



nước) để xác định thẩm quyền đăng ký.

3. Giấy tờ làm căn cứ cho việc thay đổi.



Sau khi xem xét hồ sơ, cán bộ tiếp nhận hồ sơ chuyển giao cho Trưởng bộ

phận phụ trách một cửa thành phố, ký phiếu chuyển giao hồ sơ lên Phòng Tư

pháp. Phòng Tư pháp kiểm tra và thụ lý hồ sơ, tham mưu UBND thành phố ký

Quyết định thay đổi hộ tịch cho cháu Trần Minh Phú thành Trần Minh Phúc. Và

sau 03 ngày làm việc anh Long đã được nhận Quyết định thay đổi tên của con

trai mình.



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Luật dân sự 2005;

2. Tài liệu chương trình quản lý nhà nước nghạch chuyên viên;

3. Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính Phủ



về đăng ký và quản lý hộ tịch;

4. Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2013 của Chính



Phủ sửa đổi một số điều của các Nghị định về hộ tịch, hôn nhân gia đình và

chứng thực;

5. Thơng tư số 01/2008/TT- BTP ngày 02/8/2008 của Bộ Tư pháp hướng



dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP;



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN III. ĐỀ XUẤT, KIÉ N NGHỊ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×