Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sau đó vào năm 1800, được xem là năm diễn ra sự kiện khiến thế giới sửng sốt, đó

là pin nhân loại đầu tiên đã ra đời, mang tên “pin Volta”. Những năm trước đó, nhà khoa

học Alessandro Volta (Italy) đã thí nghiệm và nghiên cứu chuyên sâu về điện và sau một

loạt các thử nghiệm thì ơng đã chế tạo ra loại pin đầu tiên mang chính tên của ông. Sở dĩ

danh từ pin hay chính xác hơn là pile được đặt cho thiết bị này, vì đây là 1 chồng các

miếng tròn bằng đồng và kẽm có hình dáng như một chiết cọc.



(Nguồn [4])



Hình 1. 2 Mơ hình pin đầu tiên của Volta

Nhưng cho đến thời điểm bấy giờ thì tồn bộ đều là pin sơ cấp, có nghĩa là pin chỉ

dùng được 1 lần và không thể sạc để tái sử dụng được. Đến năm 1859 thì nhà vật lí người

Pháp Gaston Planté đã phát minh ra pin sạc đầu tiên.

Các năm trở về sau đó, các nhà khoa học vẫn không ngừng nghiên cứu về các loại

pin bằng những chất liệu khác như pin nickel – cadimi (NiCd), pin Nicken – Sắt (NiMH),

… và những loại pin này chính là bàn đạp tạo tiền đề cho sự ra đời của pin Lithium – ion

(Li-ion). Pin Li-ion đầu tiên được đề xuất vào những năm 1970 bởi nhà hóa học người

Mỹ Michael Stanley Whittingham (1941) đến từ Đại học Binghamton sử dụng titanium

sunfide và kim loại liti thuần làm các điện cực. Dù vậy, do Liti là một kim loại hoạt động

mạnh nên khi tiếp xúc với khơng khí dễ dàng xảy ra các phản ứng hóa học gây nguy

hiểm. Chính vì vậy, mơ hình pin dùng liti thuần làm cực dương đã không được chấp

nhận.

Tiếp theo vào năm 1979 tại Đại học Oxford, John Goodenough và Koichi

Mizushima đã chế tạo một loại pin sạc tạo ra dòng khoảng 4V sử dụng Liti Cobalt Oxit

(LiCoO2) làm cực dương và liti thuần làm cực âm. Dựa vào các tính năng của Liti mang

lại thì vào năm 1985, Akira Yoshino lắp ráp mơ hình pin đầu tiên dựa trên tất cả các yếu

tố thành công từ trước, sử dụng vật liệu cacbonate giúp giữ các ion liti trong 1 điện cực

4



giúp LiCoO2 bền vững trong khơng khí hơn. Chính vì lý do này, thế hệ pin Li-ion đã

được hồn thiện và an toàn hơn rất nhiều so với trước đây. Đây là thế hệ pin đáng chú ý

nhất tính đến thời điểm hiện tại do có mức lưu trữ năng lượng cụ thể, thiết kế đơn giản,

hiệu suất cao, cho dòng ổn định, chi phí bảo trì thấp và khá thân thiện với mơi trường.

Cụ thể lịch sử hình thành của pin được thể hiện rỏ qua các mốc thời gian sau:



Bảng 1. 1 Tóm tắt các cột mốc quan trọng có liên quan mật thiết đến q trình

phát triển của pin



m

1600

1791

1800

1802

1820

1833

1836

1839

1859

1868

1899

1901

1932

1947

1949

1990

1991

1994

1996

1996

2002



Nhà phát minh



Sự kiện



William Gibert (Anh)

Luigi Galvani (Italy)

Alessandro Volta (Italy)

William Cruickshank (Anh)

André-Marie Ampère (Pháp)

Michael Faraday (Anh)

John F. Daniell (Anh)

William Robert Grove (Anh)

Gaston Planté (Pháp)

Georges Leclanché (Pháp)

Waldmar Jungner (Thụy Điển)

Thomas A. Edison (Mỹ)

Shlecht & Ackermann

Georg Neumann (Đức)

Lew Urry, Eveready Battery

Nhóm nghiên cứu

Sony (Nhật Bản)

Bellcore (Mỹ)

Moli Energy (Canada)

Đại học Texas (Mỹ)

Đại học Montreal



Các nghiên cứu đầu tiên về điện hóa học

Phát hiện ra “điện sinh vật”

Phát minh pin đầu tiên – Pin Volta

Thiết kế pin sản xuất hàng loạt đầu tiên

Dòng điện từ trường

Phát hiện định luật Faraday

Phát minh ra Pin Daniell

Phát minh ra hiện tượng điện phân nước

Pin đầu tiên dùng acid làm chất điện hóa

Phát minh ra pin Cacbon – Zinc

Phát minh pin Nickel-Cadimi

Phát triển pin Nickel-Sắt

Cải tiến pin Nickel-Cadimi

Hoàn thiện pin Nickel-Cadimi với các vách ngăn

Phát minh ra pin Kiềm

Phát triển và hồn thiện pin NiMH

Chính thức thương mại hóa pin Li-ion

Thương mại hóa pin Li-ion Polymer

Giới thiệu pin Li-ion với cathode bằng mangan

Đề xuất pin Li-phosphate (LiFePo4)

Cải tiến pin Li-phosphate, áp dụng công nghệ nano

(Nguồn [4])



1.2. Cấu tạo của pin

Pin được cấu tạo bởi hắc ín, than hoạt tính, lõi than carbon, vải lọc cách ly và vỏ

bảo vệ kim loại bên ngoài.

Pin hoạt động dựa trên ngun lý ăn mòn điện hóa giữa các điện cực. Vật lý hiện

đại đã chứng minh hầu hết kim loại được nhúng vào dung dịch điện ly thì nó sẽ bị ăn

mòn điện hóa tạo ra ion dương và các electron. Kim loại bị ăn mòn mạnh sẽ tạo ra các

electron càng nhiều dẫn đến độ âm điện càng cao tạo thành điện cực âm. Các kim loại ít

bị ăn mòn điện hóa sẽ tạo thành cực dương so với kim loại còn lại vì độ âm điện thấp.

Chẳng hạn như vàng được biết đến là kim loại không bị ăn mòn điện hóa, nhưng khơng

thể sử dụng vàng làm cực dương vì tốn q nhiều chi phí. Nhưng rồi người ta đã tìm ra

than hoạt tính làm cực dương cho pin vì đây là loại chất rẻ tiền mà vẫn có khả năng dẫn

5



điện tốt nhưng khơng bị ăn mòn điện hóa. Người ta đặt lõi than làm cực dương vào trong

một túi đựng bột than hoạt tính để tăng khả năng dẫn điện.



(Nguồn [15])



Hình 1. 3 Cấu tạo của pin Cacbon

Khi nối hai cực của pin thông qua một tải (bóng đèn, điều khiển,…). Ở mạch

ngồi thơng qua tải thì dòng điện đi từ cực dương sang âm do các electron được tạo ra;

còn ở bên trong dòng điện được tạo bởi các ion dương sau đó kết hợp với electron ở

ngoài đi vào tạo thành nguyên tử Zn tự do.

Pin hiện đại được tạo bởi nhiều nguyên liệu khác nhau nhưng chúng đều hoạt

động theo một nguyên lí: Phản ứng ở cực âm tạo ra các electron điện tử và các phản ứng

ở cực dương sẽ hấp thu những electron đó. Kết quả là tạo thành dòng điện. Khi một hoặc

cả 2 điện cực bị ăn mòn hết thì pin sẽ ngừng sản xuất dòng điện vì tất cả các phản ứng

hóa học khơng thể xảy ra [15].

1.3. Phân loại pin

Có 2 cách phân loại pin: Là loại pin khơng có khả năng sạc lại và pin có thể sạc lại.



6



1.3.1. Pin khơng có khả năng sạc lại

Loại pin khơng có khả năng sạc lại chỉ nên sử dụng được một lần gồm các loại

sau:

+ Pin Cacbon: Là loại pin được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay và được bán phổ

biến tại thị trường Việt Nam. Pin Cacbon là hợp chất của Kẽm, Kẽm Oxit và Cacbon, với

giá thành sản xuất thấp nên được bán với giá rẻ và có thể mua được dễ dàng ở bất cứ cửa

hàng dù lớn hay nhỏ tại thị trường trong nước. Pin thích hợp với các thiết bị tiêu hao ít

tốn điện như đồ chơi, đồng hồ, remote,… Các loại pin Cacbon thường hay gặp như Pin

Con Thỏ, Pin Con én,…và một số loại pin khác như Toshiba, Maxell, Sony, Panasonic …

+ Pin Alkaline: Được cấu tạo từ Magan Oxit (MnO2), chất Kiềm (KOH) và Kẽm

nên được gọi là Pin Alkaline. Với giá pin rẻnên pin Alkaline vẫn là sự lựa chọn của nhiều

người. Pin Alkaline có chất lượng tốt trên thị trường và do các hãng danh tiếng như

Panasonic, Duracell,… sản xuất. Khi sử dụng, điện áp và khả năng chịu tải của pin

Alkaline giảm dần, nhờ vậy màngười dùng có thể nhận biết được thời gian hết pin. Pin

Alkaline có điện trở nhỏ, khả năng chịu tải cao, có thể bảo quản trong nhiều năm, suy yếu

trung bình 2%/năm. Thích hợp với các thiết bị như máy đo huyết áp, máy ảnh, cửa tự

động,…

+ Pin Oxit bạc (Siver Oxide): Hoạt động được trong môi trường nhiệt độ thấp,

điện trở nhỏ. Pin silver có độc tính cao không được sử dụng rộng rãi do giá thành rất đắt.

Loại pin này có thể thấy trong một số loại đồng hồ, máy trợ thính và các máy ảnh tiêu thụ

ít năng lượng.

+ Pin Lithium (Li/Mno2): Pin Lithium là sự lựa chọn tốt khi sử dụng dòng pin

khơng sạc và cần độ tin cậy cao. Loại pin này có mật độ năng lượng cao, trọng lượng

nhẹ, hoạt động tốt trong dãy nhiệt độ rộng (từ 40- 600C) và có khả năng bảo quản tốt [6].



Hình 1. 4 Một số loại pin khơng có khả năng sạc lại

1.3.2. Loại pin có thể sạc lại

Loại pin này có thể sạc lại khi hết điện và có thể dùng được nhiều lần gồm các loại

sau:

+ Pin Ni-Cd ( Niken– Cadium ): Ni-Cd có điện trở nhỏ bằng ½ so với các pin NiMH “đời” sau, do đó rất phù hợp khi dùng với đèn flash (chu kỳ nạp nhanh hơn).

7



Tuynhiên pin Ni-Cd rất độc nên cần phải cẩn thận khi sử dụng. Nhược điểm của pin NiCd có thể giảm điện thếđột ngột ở cuối chu kỳ.

+ Pin Ni-MH (Nickel Metal Hudride): Pin Ni-MH có khả năng lưu trữ năng lượng

tốt và điện trở nhỏ. Đây là lựa chọn phổ biến vì pin Ni-MH có dung lượng pin cao hơn

hai lần so với pin Ni-Cd.

+ Pin Lithium-Ion (Li-Ion): Pin Li-ion được sử dụng nhiều trong các thiết bị cao

cấp như điện thoại di động, PDA, máy ảnh đắt tiền và máy tính xách tay,… Nó có thể lưu

trữ nhiều năng lượng điện hơn pin Ni-Cd và Ni-MH nhưng giá tiền lại đắt hơn nhiều do

công nghệ chế tạo và chất liệu được sử dụng khi chế tạo. Trong mỗi viên pin Li-Ion được

sử dụng thì thường có mạch điều khiển trong q trình sạc và quá trình bảo vệ pin [6].



Hình 1. 5 Một số loại pin có khả năng sạc lại

1.4. Hiện trạng phát thải, thu gom và quản lý pin

1.4.1. Hiện trạng phát thải

1.4.1.1. Ở Việt Nam

a) Hiện trạng phát thải từ hoạt động hằng ngày

Theo điều tra rác thải pin- ắc quy ở Hà Nội năm 2004 cho thấy: Mức tiêu thu ở

khu vực nội thành là 5- 8 thiết bị pin/người/năm, khu vực ngoại thành là 3- 5 thiết bị

pin/người/năm. Ước tính lượng pin thải ở Hà Nội năm 2004 là 200- 350 tấn/năm (con số

tương ứng năm 2010 có thể đạt tới 750 tấn). Ắc-quy chạy xe gắn máy chủ yếu là loại ắcquy chì-axit, tuổi thọ trung bình là 5 năm/1 cục pin với trọng lượng 2,5 kg/ắc-quy. Ước

tính lượng ắc-quy xe máy chì-axit vào năm 2004 ở Hà Nội là 580 tấn/ năm (con số tương

ứng cho năm 2010 có thể đạt trên 1.200 tấn) [13].

Theo Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, hiện nay bình quân mỗi ngày, người

dân Hà Nội thải ra hơn 5.400 tấn rác sinh hoạt và hơn 100 tấn rác thải nguy hại, trong đó

có rác thải từ pin, ắc quy, cao su, nhựa,... Nhưng các doanh nghiệp chỉ thu gom, phân loại

và xử lý được khoảng 60-65 tấn/ngày, còn lại lẫn trong rác thải sinh hoạt ra môi trường

[8].

Việt Nam đã có các nghị định và quyết định của Chính phủ về việc hướng dẫn

quản lý, thu hồi, xử lý chất thải và phế liệu trong đó có pin và ắc quy đã qua sử dụng. Tuy

nhiên, do thiếu sự hiểu biết, tuyên truyền và hướng dẫn, phần lớn người dân chưa có ý

thức phân loại rác thải độc hại và pin tại nguồn.

8



Hiện nay, các viên pin không còn giá trị sử dụng đều bị thải bỏ chung với rác thải

sinh hoạt. Người dân vẫn chưa ý thức được đây chính là một trong những hành vi gây ô

nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng.

Hầu hết các cơ quan xử lý rác và chất thải ở Việt Nam chưa có hướng dẫn hay

tuyên truyền đến người dân cách phân loại, bảo quản, vận chuyển và xử lý các sản phẩm

pin sau khi sử dụng cũng như không chỉ rõ nơi thu gom và xử lý các rác thải độc hại này

[7].

b) Hiện trạng phát thải từ hoạt động cơng nghiệp

Tính đến năm 2018 trên cả nước có hơn 45 cơng ty, xí nghiệp vừa và nhỏ hay lớn

đều sản xuất pin và bình ắc quy [11]. Hiện nay pin đã và đang được sử dụng vào các hoạt

động giao thông vận tải để giảm việc khai thác các loại khí đốt. Tuy nhiên khi chuyển

sang sử dụng các loại pin điện để giảm lượng lớn khí thải vào mơi trường thì lượng pin

này sau khi hết hạn sử dụng sẽ là một lượng lớn các chất độc hại đối với môi trường đất

và nước.

Do pin có nhiều cơng dụng và năng lượng lớn nên ngành công nghiệp sử dụng rất

nhiều, từ ngành công nghiệp nhẹ đến ngành cơng nghiệp nặng. Khi thị trường có nhu cầu

sử dụng nhiều thì hoạt động sản xuất ra pin càng lớn. Tại Việt Nam hiện nay chúng ta vẫn

còn nhập các bình ắc quy từ các nước phát triển hơn như Nhật Bản, Trung Quốc để tái sử

dụng lại loại pin này. Các loại pin này đã hết thời hạn sử dụng, mặc dù vậy nhưng tại

nước ta loại pin này sau khi được vận chuyển về vẫn có thể tái sử dụng lại vào nhiều lĩnh

vực khác với giá thành rẻ hơn nhiều lần so với pin được sản xuất trong nước.

Theo một báo cáo ngân hàng Thế giới, Việt Nam hiện có 40 ngàn tấn ắc quy chì

được thải bỏ, đến năm 2015 đã lên gần 70 ngàn tấn [12]. Phần lớn trong số lượng này

được thu gom và tái chế gia công tại các cơ sở tư nhân. Tương tự như thế, pin được sử

dụng trong các thiết bị điện-điện tử sẽ trở thành phế thải và vấn đề nằm ở việc thu gom

xử lý.

1.4.1.2. Trên thế giới

a) Hiện trạng phát thải từ hoạt động hằng ngày

Theo các kết quả nghiên cứu khảo sát trên thế giới thì hiện nay nhu cầu sử dụng

các thiết bị điện tử có chứa pin ngày càng tăng cao. Ở châu Âu, vào năm 1999, khoảng

76% lượng pin NiCd đã được những gia đình sử dụng và thải ra đang được xử lý tại các

bãi chôn lấp hoặc thiêu hủy [19]. Tại Mỹ thì trung bình một hộ gia đình ở đây sử dụng từ

35 đến 90 viên pin mỗi năm. Điều này góp phần tạo nên 83.500 tấn pin bị loại bỏ ra mơi

trường hằng năm [25]. Còn tại thành phố Istanbul của Thổ Nhĩ Kì, hằng năm khoảng 12

tấn pin đã qua sử dụng được thu thập thông qua khoảng 1000 điểm thu gom tập trung tại

thành phố [20].

b) Hiện trạng phát thải pin từ hoạt động cơng nghiệp

Pin chì-axit (LAB) là nguồn năng lượng điện hóa được sử dụng rộng rãi trên toàn

thế giới trong các ngành cơng nghiệp khác nhau do mức chi phí thấp và hiệu suất ổn định

[21]. Việc sử dụng Pin chì-axit tại Trung Quốc chiếm 70% thị phần của tất cả các loại

pin, và tổng giá trị sản xuất của nó chiếm một nửa trong số tất cả các nguồn năng lượng

điện hóa [22]. Hàng năm tại Trung Quốc, một lượng lớn Pin chì-axit đã qua sử dụng được

thải ra chiếm 62% tổng lượng pin được sử dụng tại đây [23].



9



1.4.2. Thu gom và quản lý pin

1.4.2.1. Trên thế giới

Trong những thập kỷ qua, sự gia tăng đáng kể về số lượng pin được xử lý chung

với chất thải sinh hoạt. Trên thực tế này nguồn tác động môi trường do sử dụng pin

không đúng cách đã khiến một số quốc gia trên thế giới thiết lập các quy định về việc xử

lý các sản phẩm pin và thúc đẩy việc tái chế chúng. Brazil là quốc gia đầu tiên ở Châu

Mỹ Latinh điều chỉnh việc xử lý pin.

Ngày 30 tháng 6 năm 1999, việc chế tạo và sử dụng pin được quy định ở Brazil

bởi tổ chức chính phủ Brazil được đặt tên Ambiente Conselho Nacional de Meio

(CONAMA), là hội đồng môi trường Brazil. Điều này được thực hiện thông qua

CONAMA của nghị quyết số 257/99 với các điều như sau:

- Điều 1: Sau khi pin hết hạn sử dụng, pin có chứa chì, cadmium, thủy ngân và các

thành phần kim loại khác, sẽ được người dùng cuối cùng gửi đến các cơ sở hay cửa hàng

mà chúng đã được mua hoặc được chuyển tiếp đến các nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu

để tái chế và xử lý đúng quy định.

- Điều 5: Bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2000 việc sản xuất, nhập khẩu hoặc

thương mại hóa của pin phải tuân theo trong các giới hạn sau:

• Khơng vượt q 0,025% trọng lượng thuỷ ngân, kẽm-mangan, kiềm-mangan và

cadmium trong pin

• Khơng vượt q 0,400% trọng lượng chì, kẽm-mangan và kiềm-mangan trong

pin

• Khơng vượt q 25mg thủy ngân, cho các pin đồng hồ.

- Điều 6: Bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2001

• Khơng vượt q 0,010% về trọng lượng thuỷ ngân, kẽm-mangan và kiềmmangan trong pin

• Khơng vượt q 0,015% trọng lượng cadmium, kẽm-mangan và kiềm-mangan

trong pin

• Khơng vượt q 0,200% trọng lượng chì, kẽm-mangan và kiềm-mangan trong

pin.

Nghị quyết thiết lập thời hạn trong đó các nhà sản xuất và nhà nhập khẩu chịu

trách nhiệm sẽ thực hiện các hệ thống thu gom, vận chuyển, lưu trữ, tái sử dụng, tái chế,

xử lý Pin để đáp ứng các giới hạn hoặc các thông số kỹ thuật được nêu trên [16].

Hầu hết các luật cụ thể về pin được thực hiện trong thập kỷ đầu năm 1990. Chúng

thường tập trung vào việc hạn chế thủy ngân trong pin kiềm , pin khô và pin đồng hồ và

cả pin NiCd. Tuy nhiên, ở một số quốc gia như Thụy Sĩ, Na Uy, Thụy Điển và Đức việc

thu thập pin không giới hạn ở bất kỳ loại pin cụ thể nào [17].

Luật pháp của Cộng đồng Châu Âu đã được thông qua vào năm 1991. Mục tiêu

của quy định này là hạn chế nồng độ thủy ngân, cadmium và chì trong pin, để chuẩn hóa

việc xác định pin có thể tái chế và phát triển các chương trình tái chế. Bên cạnh đó, luật

pháp châu Âu cũng có mục tiêu thiết lập các quy định tiến bộ như: đến năm 2008, phát

triển hệ thống thu gom để thu thập 75% pin di động và 95% pin công nghiệp; cho đến

năm 2009, tất cả các Cd phải được loại bỏ và các quy trình tái chế sẽ thu hồi 55% nguyên

liệu trong pin. Xu hướng là thu thập được số lượng pin ở tất cả các nước châu Âu, đặc

biệt là pin NiCd. Hiệp hội các nhà sản xuất pin châu Âu đã đồng ý trong việc giới hạn số

lượng Hg trong pin xuống còn 5ppm và thu thập tất cả các loại pin trong năm 2003 [17].

10



1.4.2.2. Tại Việt Nam

Luật bảo vệ môi trường, quyết định 16/2015/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ

quy định về thu hồi xử lý sản phẩm thải bỏ như sau: Chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch

vụ có trách nhiệm thu hồi sản phẩm đã hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ thuộc các ngành

hàng pin và ắc quy, thiết bị điện tử, điện dân dụng và công nghiệp,…[10]. Nhưng đến nay

hoạt động thu hồi, xử lý các sản phẩm hết hạn sử dụng hoặc thải bỏ vẫn chưa được xử lý

nghiêm túc.

Theo báo cáo từ Tổng Cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Mơi trường) trong năm

2010 đã có khoảng 40.000 tấn ắc quy chì đã được thải ra mơi trường. Dự báo đến năm

2015, con số này sẽ là gần 70.000 tấn [14]. Phần lớn lượng pin này đã và đang được tái

chế gia công tại các làng nghề như: tại làng Đơng Mai, Hưng n, có hơn 60 hộ thu gom

ắc quy, với số lao động tham gia trên 500 người. Do khơng có các biện pháp quản lý sản

xuất tốt và thiếu thiết bị xử lý ô nhiễm về mơi trường theo quy định. Nên đất, nước và

khơng khí của các làng nghề này đang bị ơ nhiễm khói bụi chì, nước thải a-xit trầm trọng.

Đáng lo ngại, mức độ nhiễm chì của trẻ em trong các làng đã ở mức báo động. Khi xã hội

càng chú trọng hơn về vấn đề sức khỏe thì phong trào truyền thơng về tác hại của pin đã

được lan rộng và chính quyền càng quan tâm hơn đến việc thu gom và xử lý các loại chất

thải rắn Pin.

Tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh hiện nay đã có nhiều chiến dịch

hơn để thu gom Pin đã qua sử dụng để bảo vệ mơi trường. Ngồi các loại pin ắc quy lớn,

các loại pin nhỏ trước đây thường được vứt chung với rác thải sinh hoạt hằng ngày. Đồ

dùng hàng ngày có rất nhiều thiết bị sử dụng loại pin nhỏ. Sau một thời gian số lượng pin

thải ra môi trường là tương đối lớn nếu không được phân loại, tiêu hủy đúng quy trình sẽ

trở thành mối nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người, xuất phát từ tác hại vô

cùng nghiêm trọng này người dân đã bắt đầu q uan tâm và phân loại pin cho các cở sở thu

gom rác trên toàn quốc. Việc thu gom pin hiện nay đã phổ biến hơn tại các thành phố, tuy

nhiên vẫn còn rất nhiều nơi, người dân chưa có đầy đủ kiến thức về tác hại của loại pin

này nên việc xả thải và thu gom chưa được quan tâm phổ biến.

1.5. Tác hại của pin

Thơng thường, khi pin khơng còn giá trị sử dụng, chúng ta có thói quen vứt bừa

bãi hoặc bỏ chúng vào thùng rác gia đình như các loại rác thải khác, để rồi người ta sẽ xử

lý chúng bằng hai phương pháp: chôn lấp hoặc đốt.

Việc đốt, phá hủy, chôn lấp, tiếp xúc trực tiếp, hay bỏ pin trong thùng rác bình

thường đều được khuyến cáo là khơng phù hợp với tất cả các loại pin.

Các viên pin thường có các kim loại nặng như chì, thủy ngân, kẽm, cadmium,

lithium,… Nếu chỉ được chôn lấp, các kim loại nặng này thấm vào đất và nguồn nước

ngầm, gây ra ô nhiễm nguồn nước hoặc khi đốt, các thành phần nguy hại trong pin sẽ bốc

lên thành khói độc, hay chất độc còn đọng lại trong tro sẽ gây ơ nhiễm khơng khí.

Lượng thủy ngân có trong một viên pin cũng có thể làm ơ nhiễm 500 lít nước hoặc

1 mét khối đất trong 50 năm. Thủy ngân từ các nguồn ô nhiễm khi xâm nhập vào cơ thể

qua đường ăn uống hoặc hít thở, chúng có thể gây hại não, thận, hệ thống sinh sản và tim

mạch…



11



Hình 1. 6 Tác hại của pin đối với mơi trường

Một lượng nhỏ của chì cũng có thể gây hại cho cơ thể. Nó có xu hướng thay thế vị

trí của tất cả các kim loại khác trong cơ thể người. Ví dụ chì sẽ chiếm chỗ của canxi trong

xương, chiếm chỗ của kẽm và canxi trong các protein, chiếm chỗ của canxi trong các

phản ứng truyền xung điện não, thay thế sắt trong máu…

Tóm lại chì gây rối loạn hoặc ngưng các phản ứng sinh hóa diễn ra bình thường

trong cơ thể. Nó gây còi xương, chậm lớn ở trẻ, huyết áp cao đối với người lớn, tổn hại

máu và xương, gây chứng mất trí và giảm khả năng suy nghĩ, giảm sinh tinh, thậm chí là

vơ sinh, giảm chức năng của thận…



Hình 1. 7 Tác hại của pin đối với sức khỏe con người



12



Khi nhiễm độc kẽm, người bệnh thường nôn mửa nhiều và có thể bị chảy máu

đường ruột. Tình trạng chung của cơ thể thường không ổn định, hay run rẩy, giảm mức

phản xạ tự nhiên, đôi khi bị tê liệt.

Khi Cadmium xâm nhiễm vào cơ thể người, nó sẽ là tác nhân dẫn đến nhiều loại

bệnh như loãng xương, thiếu máu, suy gan thận, gây nhiều loại ung thư như ung thư

tuyến tiền liệt, ung thư phổi, đối với phụ nữ có thai, nó làm tăng nguy cơ gây dị dạng cho

thai nhi...

Pin lithium-ion tuy không ảnh hưởng lớn đến sức khỏe nhưng có nguy cơ cháy nổ

cao [7].



13



CHƯƠNG II. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng chính tập trung nghiên cứu là người dân trên địa bàn thành phố Đà

Nẵng, nhằm tìm hiểu hiện trạng sử dụng pin và hướng đến các giải pháp thu gom và

xử lý pin đã qua sử dụng.

2.2. Nội dung nghiên cứu

- Điều tra hiện trạng mức độ xả thải pin đã qua sử dụng của người dân trên địa bàn

thành phố Đà Nẵng. Bao gồm các nội dung mô tả hiện trạng sử dụng pin.

- Đánh giá mức độ hiểu biết và nhận thức của người dân đối với các hoạt động xả

thải pin đã qua sử dụng.

- Đề xuất biện pháp thu gom, xử lý pin và nâng cao nhận thức của người dân về

hoạt động xả thải pin đã qua sử dụng ra mơi trường. Dựa vào kết quả phân tích hiện

trạng, nghiên cứu tiến hành đề xuất các giải pháp về mặt công tác quản lý pin.

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp khảo sát

Khảo sát nhằm thu thập thông tin chung về hiện trạng thu gom, xử lí, và xả thải

của người dân trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Ngoài ra còn tìm hiểu các tài liệu liên

quan đến pin (khái niệm, thành phần, lịch sử hình thành, hiện trạng phát thải pin tại các

thành phố ở Việt Nam,…). Tìm hiểu các chính sách thu gom và quản lý chất thải nguy hại

của Việt Nam và thành phố Đà Nẵng, tìm hiểu mơ hình thu gom pin hiện có tại Đà Nẵng

như BigC và phương pháp xử lí pin thải hiện nay tại Việt Nam. Từ kết quả khảo sát ta có

thể xác định tổng số lượng phiếu điều tra của mỗi quận huyện và phiếu điều tra phỏng

vấn có những nội dung như sau:



Bảng 2. 1 Các đối tượng được tiến hành phỏng vấn

Đối tượng

Nội dung phỏng vấn

phỏng vấn

Hưu trí

- Họ tên người cung cấp thơng tin

- Nghề nghiệp

Cơng nhân - Nơi ở hiện nay

- Tên các thiết bị điện tử sử dụng ở gia đình có chứa pin

- Thời gian vứt thải pin đã qua sử dụng

Kinh doanh - Vứt thải pin đã qua sử dụng ở đâu

Nội trợ

- Sự hiểu biết về pin của ông bà như thế nào

- Ơng (bà) có quan tâm đến vấn đề thải bỏ và xử lý pin đã qua sử

Tri thức

dụng pin hay khơng

Cơng nhân - Những quy định và chính sách về pin hoặc chất thải nguy hại

mà ông bà đã từng biết

Nội dung chi tiết của bảng phỏng vấn xin xem ở phụ lục 1.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×