Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG Á

CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG Á

Tải bản đầy đủ - 0trang

Số lượng khách hàng cá nhân lớn. KHCN là một phân khúc thị trường có số

lượng khách hàng tiềm năng đông đảo khi dân số Việt Nam năm 2013 là hơn 90 triệu

người. Vì kích cỡ thị trường rất lớn nên phân khúc thị trường có rất nhiều nhu cầu đa

dạng, từ đơn giản đến phức tạp mà các Ngân Hàng đều có thể khai thác.

Sự phân bố địa lý không đồng đều. KHCN của Ngân Hàng không tập trung ở

một vùng địa lý nhất định mà trải đều, rải rác ở các vùng địa lý khác nhau. Điều này

ảnh hưởng tới các chiến lược phát triển của Ngân Hàng.

Tiến trình ra quyết định của khách hàng cá nhân phụ thuộc vào nhiều yếu

tố biến động. Tiến trình ra quyết định của KHCN thông thường lần lượt theo các

bước: nhận thức nhu cầu, tìm kiếm thơng tin, Đánh giálựa chọn phương án, ra quyết

định mua và hành vi sau mua. Tuy nhiên, có rất nhiều yếu tố khác nhau như ấn tượng

tức thời, thái độ chuyên viên tư vấn, khuyến mại, quảng cáo, tham vấn ý kiến người

than làm chệch hướng ra quyết định cuối cùng của KHCN. Và điều này khác biệt hẳn

so với KHDN, tạo cho KHCN của Ngân Hàng sự linh động và dễ dàng thích ứng các

hồn cảnh khác nhau.

Tần suất sử dụng hàng hóa dịch vụ nhiều nhưng giá trị sử dụng hàng hóa

dịch vụ thấp. Thực tế, số lượt tới giao dịch của KHCN khá lớn vì các hoạt động giao

dịch với Ngân Hàng của họ khơng có bộ phận chun trách xử lí như KHDN, thời gian

của họ cũng có thể linh hoạt sắp xếp hơn. Tuy nhiên, do nhu cầu cá nhân và thu nhập

thực tế còn khiêm tốn nên giá trị sử dụng hàng hóa dịch vụ của KHCN còn hạn chế và

chiếm tỷ trọng không cao trong giá trị sử dụng dịch vụ tại Ngân Hàng.

KHCN vay vốn để sản xuất kinh doanh có trình độ quản lý và sản xuất

kém hơn KHDN. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình

thường có trình độ quản lý kém, thiếu kinh nghiệm, trình độ khoa học kỹ thuật – công

nghệ lạc hậu, khả năng cạnh tranh trên thị trường bị hạn chế.

1.1.3. Vai trò của khách hàng cá nhân đối với Ngân Hàng Thương Mại

"Khơng có khách hàng sẽ khơng có bất cứ cơng ty nào tồn tại". Nhận định của

nhà kinh tế nổi tiếng Erwin Frand cho ta thấy vai trò của khách hàng (bao gồm cả

KHCN) trong mọi hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động Ngân Hàng nói riêng.



5



Thực tế, KHCN có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của NHTM và ta có thể liệt

kê ba vai trò nổi bật sau:

KHCN là một trong những nhân tố ảnh hưởng tới các định hướng phát triển

chung của Ngân Hàng trong tương lai. Vì sử dụng sản phẩm dịch vụ của Ngân Hàng

với tần số lớn và trong các hoàn cảnh khác nhau nên KHCN vừa có thể là người tiêu

dùng (đối với các sản phẩm huy động tiền gửi, thanh tốn, chuyển khoản...), vừa có thể

là đối tác của Ngân Hàng (đối với các sản phẩm cho vay). Do đó, ý kiến và phản hồi

của KHCN phản ánh chính xác chất lượng dịch vụ, khắc phục “tính vơ hình” của dịch

vụ Ngân Hàng. Yếu tố này giúp Ngân Hàng điều chỉnh các chính sách sản phẩm, dịch

vụ để phục vụ khách hàng tốt hơn và nâng cao tính cạnh tranh cho Ngân Hàng mình.

Niềm tin của KHCN là nhân tố sống còn với sự phát triển của các NHTM. Nếu

ở các lĩnh vực thông thường, niềm tin của khách hàng đã có vai trò lớn thì ở NHTM,

vai trò đó còn lớn hơn rất nhiều. Điển hình, vai trò thể hiện rõ nét ở hoạt động huy

động vốn từ dân cư của các NHTM, khi một NHTM có uy tín thì dòng vốn huy động

từ dân cư đổ vào sẽ rất lớn, ln có xu hướng phát triển đi lên và ngược lại. Bên cạnh

đó, niềm tin của KHCN còn giúp NHTM mở rộng hoạt động quảng bá thương hiệu

thông qua hiệu ứng “truyền miệng” giữa các KHCN, không những nâng cao giá trị mà

còn giảm bớt chi phí xúc tiến cho NHTM.

Sự thiện chí và hợp tác của KHCN có thể nâng cao hiệu quả, kết quả của các

sản phẩm dịch vụ mà Ngân Hàng triển khai. Ngay từ những khâu đầu tiên như lập hồ

sơ: nếu KHCN hợp tác với cán bộ Ngân Hàng trong việc cung cấp các tài liệu kịp thời,

chính xác thì sẽ hỗ trợ Ngân Hàng giảm thời gian bổ sung hồ sơ, thẩm định phê duyệt

đồng thời tăng các hiệu quả của việc cung ứng sản phẩm dịch vụ, giảm thiểu rủi ro sau

này cho Ngân Hàng. Bên cạnh đó, nếu mục đích sử dụng sản phẩm dịch vụ, nhất là các

sản phẩm cho vay của KHCN đúng như quy định, khơng có dấu hiệu lừa đảo, chiếm

đoạt thì sẽ giảm thiểu rủi ro thất thoát cuối cùng cho Ngân Hàng.



6



1.2. Hoạt Động Cho Vay Đối Với Khách Hàng Cá Nhân

1.2.1. Khái niệm hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân

Cho vay đối với KHCN là hình thức cho vay mà Ngân Hàng chuyển nhượng

tạm thời quyền sử dụng vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình, tổ hợp tác;

với mục đích tiêu dùng hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ của

cá nhân và hộ gia đình, tổ hợp tác đó, với những điều kiện nhất định được thỏa thuận

trong hợp đồng theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ cả gốc lẫn lãi.

1.2.2. Đặc điểm hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân

Hoạt động cho vay đối với KHCN là một mảng hoạt động tín dụng tiềm năng.

Tuy nhiên, triển khai các sản phẩm dịch vụ Ngân Hàng trên phân khúc khách hàng này

khơng hề đơn giản vì hoạt động cho vay đối với KHCN rất khác biệt nếu so với hoạt

động cho vay với KHDN và tổ chức kinh tế. Điều này được thể hiện ở nhiều mặt:

Thứ nhất, về quy mô, số lượng khoản vay của KHCN: Số lượng các khoản vay của

KHCN rất lớn nhưng quy mơ thì nhỏ, giá trị thấp. Tần số, tần suất các khoản vay của

KHCN là không thường xuyên và không theo một chu kỳ nhất định. Nhu cầu vay vốn

của KHCN bị tác động và ảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường vĩ mơ như: kinh tế,

văn hóa, xã hội, cơng nghệ.

Thứ hai, về thời hạn cho vay: Phụ thuộc vào mục đích sử dụng vốn, khả năng chi trả

của KHCN và thỏa thuận giữa hai bên Ngân Hàng KHCN mà các khoản vay của

KHCN có thời hạn: ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn. Tuy nhiên, theo quan sát thông

thường, các khoản vay của KHCN thường đa phần là ngắn hạn dưới 1 năm, một phần

nhỏ là trung hạn từ 1 – 5 năm và rất hiếm các khoản vay dài hạn trên 5 năm.

Thứ ba về chi phí: Do số lượng khoản vay KHCN lớn nên chi phí thời gian, công sức,

tiền bạc mà Ngân Hàng phải bỏ ra trong quá trình thẩm định, xét duyệt và quản lý các

khoản vay thường rất cao. Đó là chưa kể các chi phí phát sinh trong q trình khai thác

phát triển thị trường và các dịch vụ sau giải ngân. Do đó, nếu so sánh tỷ số chi phí



7



Ngân Hàng đầu tư trên giá trị giải ngân cho KHCN thì một đồng giải ngân cho KHCN

thường có chi phí lớn hơn nhiều so với một đồng giải ngân cho KHDN.

Thứ tư về lãi suất: Do chi phí đầu tư cho phát triển các khoản vay KHCN lớn nên kéo

theo lãi suất cho vay KHCN lớn. Thêm nữa, rủi ro KHCN lớn hơn KHDN dẫn tới các

chi phí dự phòng rủi ro cũng cao hơn.

Thứ năm, về độ rủi ro: Các khoản vay KHCN có hệ số rủi ro cao nhất đối với Ngân

Hàng. Nguyên nhân là do khả năng tài chính của KHCN thường không ổn định, không

bền vững, dễ dàng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài, thậm chí còn phụ thuộc vào

tình trạng cơng việc và sức khỏe cá nhân. Nhiều trường hợp, Ngân Hàng sẽ phải đối

mặt với nhiều rủi ro khi khách hàng gặp các biến cố như: thất nghiệp, gặp tai nạn hay

phá sản… Chính vì lẽ đó, các khoản vay KHCN cần được giám sát, quản lý nghiêm

ngặt hơn.

Thứ sáu, ưu tiên các khoản vay có TSĐB hoặc có bảo lãnh: Các khoản vay có tài sản

đảm bảo (TSĐB) hoặc được người thứ ba bảo lãnh làm tăng mức độ tin cậy, giúp Ngân

Hàng giảm thiểu rủi ro hơn so với các khoản vay khơng có TSĐB. Điều này dẫn tới

việc KHCN sẽ được vay ở hạn mức cao hơn, lãi suất thấp hơn so với các khoản vay

khơng có TSĐB, vay tín chấp.

1.2.3. Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân

1.2.3.1 Đối với nền kinh tế

Hoạt động cho vay KHCN góp phần duy trì q trình sản xuất liên tục,

đầu tư phát triển kinh tế điều hoà cung cầu dịch vụ hàng hố. Trong đó:

Cho vay sản xuất: Cho vay sản xuất hỗ trợ vốn cho các cá nhân, hộ gia đình, tổ

hợp tác để duy trình quá trình sản xuất liên tục, khơng bị giảm sút hay đình trệ, góp

phần vào việc gia tăng cung ứng hàng hóa cho thị trường.

Cho vay tiêu dùng: Trong tình hình cung vượt cầu như hiện nay, người tiêu

dùng cá nhân, với một mức thu nhập nhất định, họ khơng thể có đủ số tiền để mua tất



8



cả hàng hố mình mong muốn tại mọi thời điểm. Họ chỉ có đủ khả năng mua sau một

thời gian dài tích luỹ. Ngân Hàng có thể cho người tiêu dùng cá nhân vay để thoả mãn

nhu cầu hàng hố tức thì, thơng qua đó đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ hàng hóa, sản xuất

chung của doanh nghiệp. Như vậy hoạt động cho vay của Ngân Hàng đã góp phần

điều hồ cung cầu sản phẩm hàng hố dịch vụ cho nền kinh tế.

Góp phần điều tiết và phân phối lại các nguồn vốn

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, tiêu thụ hàng hóa, tại nhiều thời điểm, tình

trạng tạm thời thừa vốn, ứ đọng vốn ở cá nhân, doanh nghiệp này thiếu vốn ở cá nhân,

doanh nghiệp khác là thường xuyên và phổ biến, nhất là trong tình hình kinh tế khơng

ổn định hiện nay. Điều này nảy sinh nhu cầu bức thiết về điều hồ vốn cho nền kinh tế.

NHTM với vai trò là một trung gian tài chính đứng ra tập trung phân phối lại tiền tệ,

điều hoà cung và cầu vốn cho KHCN, KHDN; đặc biệt là KHCN - đối tượng thường

xuyên rơi vào tình trạng kể trên, KHCN có thể thơng qua hoạt động cho vay KHCN

của Ngân Hàng tiếp cận và giải quyết được nhu cầu nguồn vốn. Từ đây, ta thấy hoạt

động cho vay KHCN đã góp phần điều tiết lại nguồn vốn, tạo điều kiện cho quá trình

sản xuất kinh doanh của KHCN không bị gián đoạn.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại hoá

KHCN đi vay vốn từ Ngân Hàng thường để đầu tư sản xuất hoặc tiêu dùng vào

các ngành thương mại dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn. Do vậy bằng các chính sách cho vay

KHCN cũng góp phần tạo cho nền kinh tế một cơ cấu kinh tế hợp lý, cân đối.

Bằng các sản phẩm cho vay KHCN, Ngân Hàng có thể cho vay ưu đãi những

nghành nghề quan trọng, cần thiết để phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của

Đảng và Nhà Nước trong từng giai đoạn cụ thể.

1.2.3.2. Đối với khách hàng cá nhân

Các sản phẩm cho vay KHCN giúp KHCN thỏa mãn nhu cầu và chớp thời

cơ kinh doanh



9



Đối với cho vay tiêu dùng: Hoạt động mang lại lợi ích to lớn cho KHCN trong

tiêu dùng, bằng cách thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu tự nhiên, cấp thiết của họ, từ đó

giúp họ sở hữu những hàng hóa có chất lượng tốt nhất để cải thiện đời sống.

Đối với cho vay sản xuất kinh doanh: Ngân Hàng hỗ trợ KHCN có vốn để nắm

bắt thời cơ, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc thực hiện phương án sản xuất

kinh doanh mới không cần mất nhiều thời gian đi huy động từ các nguồn khác. Đặc

biệt, giúp họ tránh sa vào bẫy tín dụng đen, lãi suất cực kỳ cao.

Hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh góp phần giúp các KHCN tiếp cận,

mở rộng ứng dụng cơng nghệ mới

Vì KHCN là các cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác nên quy mơ sản xuất kinh

doanh thường nhỏ, trình độ trang bị kĩ thuật còn thấp kém, cơng nghệ thơ sơ, lạc hậu

làm giảm năng lực cạnh tranh trên thị trường. Thông qua vốn vay của Ngân Hàng,

KHCN có thể đầu tư, tìm kiếm những cơng nghệ hiện đại, đổi mới dây truyền sản xuất,

nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra nhiều sản phẩm thoả mãn nhu cầu trong và ngoài

nước. Như vậy hoạt động cho vay KHCN phần nào mở rộng ứng dụng cơng nghệ mới,

thơng qua đó giúp KHCN sản xuất hiệu quả, mở rộng sản xuất kinh doanh.

1.2.3.3. Đối với Ngân Hàng

Hoạt động cho vay cá nhân mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân Hàng

Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động lớn của Ngân Hàng, doanh

thu từ hoạt động này thường chiếm 70% doanh thu ở các nước phát triển, hay đến 80%

doanh thu của Ngân Hàng ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Chỉ là một phần trong tổng doanh thu cho vay nhưng tỷ trọng doanh thu cho vay

KHCN cũng chiếm một tỷ trọng lớn. Dù không thể so sánh với cho vay KHDN nhưng

tỷ trọng cho vay KHCN ngày càng có xu hướng gia tăng, nhất là trong thời kỳ kinh tế

suy thoái, nhiều Ngân Hàng ngại cho vay KHDN, nhất là những DN đang có nợ xấu,

nợ quá hạn thì KHCN càng được ưu tiên.



10



Thúc đẩy các hoạt động khác của NHTM

Nhờ có hoạt động cho vay cá nhân mà KHCN có vốn để đầu tư cho hoạt động

sản xuất kinh doanh; lợi nhuận thu được KHCN không những đủ tiền trả cho Ngân

Hàng mà còn có tiền gửi, tiền sử dụng các dịch vụ khác của Ngân Hàng như thanh

toán, chuyển khoản, tiết kiệm. Điều này cho thấy hoạt động cho vay cá nhân cũng góp

phần làm tăng doanh thu nhiều dịch vụ, sản phẩm khác của Ngân Hàng.

Phát triển hệ thống sản phẩm dịch vụ Ngân Hàng nói chung

Hoạt động cho vay cá nhân thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển, xã hội phát

triển thì nhu cầu phát triển, tạo điều kiện cho các mảng hoạt động dịch vụ của NHTM

phát triển sâu rộng và phong phú hơn.

1.2.4. Các hình thức cho vay đối với khách hàng cá nhân

Các hình thức cho vay KHCN được phân chia dựa trên mục đích, thời gian vay,

phương thức vay trả nợ và có hay khơng tài sản đảm bảo kèm theo, theo đó:

- Theo mục đích sử dụng tiền vay có hai hình thức chính là cho vay tiêu dùng

và cho vay sản xuất.

+ Cho vay tiêu dùng là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các

KHCN như nhu cầu mua sắm vật dụng gia đình, sửa chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm

kinh tế hộ gia đình, thanh tốn học phí, đi du lịch, chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi... và

các nhu cầu thiết yếu khác trong cuộc sống. Tuy nhiên, cho vay tiêu dùng dễ khiến cho

người vay vượt quá khả năng của họ để trả nợ khiến cho tình trạng nợ xấu tăng cao,

ảnh hưởng đến nền kinh tế.

+ Cho vay sản xuất kinh doanh là loại hình cho vay nhằm để phục vụ hoạt

động kinh doanh của KHCN, bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong quá trình hoạt động

sản xuất kinh doanh mở rộng sản xuất.



11



- Theo thời hạn: hời hạn cho vay chia làm ba loại là ngắn hạn (thời hạn cho

vay dưới 12 tháng), trung hạn (thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng) và dài hạn

(thời hạn cho vay từ 60 tháng trở lên).

- Theo các phương thức cho vay có thể là: cho vay từng lần, cho vay trả góp,

thấu chi, riêng đối với các nhu cầu vay bổ sung vốn lưu động thường xuyên trong hoạt

động sản xuất kinh doanh thì phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng được sử

dụng khá phổ biến.

+ Cho vay từng lần: Là phương thức cho vay tách biệt các lần, mỗi lần vay,

khách hàng và Ngân Hàng làm các thủ tục theo quy trình bình thường và ký hợp đồng

tín dụng. Cho vay từng lần là hình thức cho vay theo món, u cầu KHCN phải có một

mục đích sử dụng vốn cụ thể như thanh tốn tiền hàng, các chi phí hoạt động sản xuất

kinh doanh khác.

+ Cho vay trả góp: là phương thức vay mà khách hàng và Ngân Hàng ngay từ

đầu đã thỏa thuận xác định số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để

trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời gian cho vay.

+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là phương thức cho vay dựa trên quan hệ

tài chính giữa KHCN Ngân Hàng tồn tại trước đó, mà qua đó Ngân Hàng cho phép

khách hàng được sử dụng vượt quá số tiền mà họ đã ký thác ở Ngân Hàng trên tài

khoản vãng lai với một số lượng và thời hạn nhất định.

+ Cho vay theo hạn mức tín dụng:là phương thức cho vay mà Ngân Hàng và

khách hàng thỏa thuận xác định một hạn mức tín dụng duy trì một thời gian nhất định.

Hạn mức tín dụng là dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời gian nhất định, được

Ngân Hàng và khách hàng thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

- Theo các biện pháp đảm bảo an toàn vay yếu tố quan trọng trong việc xét

duyệt cho vay của Ngân Hàng với khách hàng, hiện tại các Ngân Hàng xem xét cho

vay với khách hàng dựa trên hai hình thức:

+ Cho vay có tài sản đảm bảo: Là các khoản vay được đảm bảo bằng tài sản

thuộc sở hữu của chính khách hàng vay vốn hoặc của người thứ ba. TSĐB cho khoản



12



vay có thể là: số dư tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, hàng hóa, máy móc thiết bị,

BĐS…

+ Cho vay khơng có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp): Là cho vay khơng

cần đảm bảo tài sản mà dựa trên uy tín của khách hàng. Ngân Hàng lựa chọn các

khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay.

1.3. Hiệu quả hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân

1.3.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN

Hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN là một trong những chỉ tiêu quan

trọng khi Đánh giáhoạt động của NHTM, phải được Đánh giátrên cả ba góc đơ: nền

kinh tế, Ngân Hàng và KHCN.

Đứng trên góc độ nền kinh tế: Hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN là

thước đo phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa chi phí đầu tư ban đầu và kết quả cuối

cùng thu được trên các khoản cho vay đối với KHCN.

Đứng trên góc độ KHCN và Ngân Hàng: Hiệu quả hoạt động cho vay đối với

KHCN là việc các khoản vay vốn được khách hàng sử dụng đúng mục đích, đúng kế

hoạch tạo ra lợi nhuận trong quá trình sản xuất kinh doanh của KHCN, thơng qua đó

Ngân Hàng thu hồi được gốc và lãi đúng hạn còn khách hàng có thể trả được nợ, bù

đắp chi phí và thỏa mãn nhu cầu của mình.

Tuy nhiên, do phạm vi và khn khổ đề tài nên trong khóa luận của mình, em

xin phép chỉ xem xét hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN chủ yếu trên góc độ

Ngân Hàng.

1.3.2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với khách

hàng cá nhân

- Đối với xã hội: Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN là góp phần

nâng cao chất lượng cuộc sống, ổn định trật tự xã hội.

- Đối với khách hàng cá nhân



13



+ Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN để tối đa hoá giá trị sử

dụng của khoản vốn vay

Đối với KHCN, hiệu quả cho vay chính là sự thoả mãn của họ về khoản tín dụng

trong đó bao gồm giá trị, lãi suất, thời gian trả nợ, thời gian thẩm định...Nếu các yếu tố

trên không được triển khai tốt dễ dẫn tới việc ảnh hưởng tới quá trình sử dụng khoản

vay, làm giảm lợi nhuận, gia tăng chi phí thời gian, tiền bạc cho KHCN, ảnh hưởng tới

việc trả nợ. Bởi thế, KHCN coi hiệu quả cho vay là vấn đề cần thiết và ngày càng phải

được nâng cao

+ Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN tốt tạo thuận lợi cho sự

phát triển của hồ sơ thông tin tín dụng KHCN

Theo Thơng tư 03/2013/TT-NHNN, thơng tin tín dụng là các thông tin về khách

hàng vay và những thông tin liên quan đến khách hàng vay tại tổ chức tín dụng, chi

nhánh Ngân Hàng được lưu trữ tại Trung tâm Thơng tin tín dụng Quốc Gia (CIC Credit Information Center). Tất cả các thông tin như các khoản vay, thời hạn vay, nợ

quá hạn, nợ xấu... đều được lưu trữ tại CIC để làm căn cứ cho các NHTM thẩm định

KHCN xin vay sau này. Do thiếu kinh nghiệm quản lý tài chính cá nhân, thiếu hiểu

biết về hoạt động cho vay nợ tại các Ngân Hàng, khơng ít KHCN đã lâm vào tình cảnh

khơng trả được nợ hay trả nợ muộn. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vay

vốn của họ trong tương lai khi gần như các NHTM sẽ từ chối các đơn vay mới. Chính

vì vậy, nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN để ít nhất KHCN khơng

có nợ q hạn, nợ xấu. Điều này sẽ cải thiện đáng kể hồ sơ tín dụng cá nhân, tạo thuận

lợi cho KHCN tiếp tục vay vốn sau này.

- Đối với Ngân Hàng

+ Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN là một nhân tố quyết

định sự phát triển của NHTM.

Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đối với KHCN làm tăng khả năng sinh lời

của Ngân Hàng, bên cạnh đó là làm giảm các chi phí về thời gian, tiền bạc, nhân lực



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐÔNG Á

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×