Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Lý do chọn đề tài

Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ - 0trang

2

cđa häc sinh trªn líp, cho häc sinh trùc tiÕp tham gia vào bài

giảng của thầy; dới sự hớng dẫn của thầy, họ có thể phát hiện

ra vấn đề và suy nghĩ để tìm cách giải quyết vấn đề".

Nghị quyết sè 37/2004/QH-11 cđa Qc héi níc Céng

hßa X· héi Chđ nghĩa Việt Nam khoá 11, kỳ họp thứ 6

(12/2004) đã nhấn mạnh:

" Ngành Giáo dục cần chuẩn bị đầy đủ các điều

kiện cần thiết để thực hiện đổi mới nội dung, chơng trình,

phơng pháp giáo dục, nghiên cứu điều chỉnh phơng án

phân ban THPT góp phần tích cực hớng nghiệp cho HS và phù

hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam, phát triển mạnh giáo

dục nghề nghiệp, thực hiện phân luồng sau THCS".

1.2. Bàn về định hớng đổi mới PPDH ở nớc ta trong thời

gian tới, tác giả Trần Kiều cho rằng: "Hiện nay và trong tơng

lai xã hội loài ngời đang và sẽ phát triển tới một hình mẫu x·

héi cã sù thèng trÞ cđa kiÕn thøc, díi sù bïng nỉ vỊ khoa häc

c«ng nghƯ cïng nhiỊu u tè khác, ; việc hình thành và

phát triển thói quen, khả năng, phơng pháp tự học, tự phát

hiện, giải quyết vấn đề, tự ứng dụng lại kiến thức và kỹ năng

đã tích luỹ đợc vào các tình huống mới ở mỗi cá nhân có ý

nghĩa đặc biệt quan trọng. Thói quen khả năng, phơng

pháp nói trên phải đợc hình thành và rèn luyện ngay từ trên

ghế nhà trờng..."12, tr. 8.

Tác giả cũng đa ra kiến nghị: "Phải để học sinh suy

nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn"

12, tr. 12.

1.3. Trong những năm gần đây, khối lợng tri thức khoa

học tăng lên một cách nhanh chóng. Theo thống kê của các

nhà khoa học, cứ 8 năm nó lại tăng lên gấp đôi, dòng thông



3

tin tăng lên nh vũ bão dẫn đến chỗ khoảng cách giữa tri thức

khoa học của nhân loại và bộ phận tri thức đợc lĩnh hội trong

nhà trờng cứ mỗi năm lại tăng thêm. Mặt khác thời gian học

tập ở nhà trờng thì có hạn, do đó để hoà nhập với sự phát

triển của xã héi, con ngêi ph¶i tù häc tËp, trau dåi kiÕn thức,

đồng thời biết tự ứng dụng kiến thức và kĩ năng đã tích luỹ

đợc trong nhà trờng vào nhịp độ sôi động của cuộc sống

(dẫn theo V. A. Cruchetxki - Những cơ sở của Tâm lý học s

phạm [4]).

Mâu thuẫn giữa yêu cầu đào tạo con ngời xây dựng xã

hội công nghiệp hoá - hiện đại hoá với thực trạng lạc hậu của

PPDH làm nảy sinh và thúc đẩy một cuộc vận động đối với

PPDH ở tất cả các cấp trong ngành Giáo dục và đào tạo từ

một số năm nay với những t tởng chủ đạo đợc phát biểu dới

nhiều hình thức khác nhau nh: "Lấy ngời học làm trung

tâm", "Phát huy tính tích cực", "phơng pháp dạy học tích

cực" Những ý tởng này bao hàm những yếu tố tích cực, có

tác dụng thúc đẩy đổi mới PPDH nhằm nâng cao hiệu quả

giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, cần vạch rõ bản chất các ý tởng đó nh là định hớng cho sự nghiệp đổi mới PPDH hiện

nay là: Tổ chức cho ngời học học tập trong hoạt động và

bằng hoạt động tự giác, tích cực, sáng tạo (gọi là hoạt động

hoá ngời học).

Hiện nay, trên thế giới đang có những bớc tiến mạnh mẽ

việc cải cách giáo dục theo hớng nâng cao vai trò chủ thể

hoạt động cđa häc sinh trong häc tËp. ë níc ta c«ng cuộc cải

cách giáo dục đang đợc tiến hành mạnh mẽ và toàn diện về

các mặt: hệ thống tổ chức, nội dung chơng trình môn học,

cơ sở vật chất của trờng học và đang đòi hỏi có sự đổi

mới kịp thời, ®ång bé vỊ PPDH. §ỉi míi PPDH theo híng vËn

dơng quan điểm hoạt động là một trong những giải pháp



4

quan trọng nhằm hội nhập và góp phần tích cực vào chiến lợc phát triển giáo dục chung của thế giới.

1.4. Chúng ta biết rằng, dạy Toán là dạy hoạt động toán

học (dẫn theo 29, tr. 12]. Dạy học Hình học theo hớng vận

dụng Quan điểm hoạt động là một trong những giải pháp

nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới PPDH theo định hớng đã nói

ở trên, bởi vì, theo hớng này sẽ giúp HS tự quan sát, tự thao

tác, tự giải quyết vấn đề đặt ra; thông qua hoạt động của

mình mà tự chiếm lĩnh tri thức, nắm vững kĩ năng, rèn

luyện thái độ dới sự chỉ đạo, hớng dẫn của thầy.

Quan điểm hoạt động trong PPDH môn Toán do GS.

Nguyễn Bá Kim đề xuất là điểm tựa quan trọng cho nhiều

công trình nghiên cứu về giáo dục Toán học, chẳng hạn nh:

"Tiếp cận hoạt động nhiều mặt trong dạy học lập trình ở trờng phổ thông" của Lê Khắc Thành (1993), "Phát triển t duy

thuật giải của học sinh trong khi dạy học các hệ thống số" của

Vơng Dơng Minh (1996)... Dạy hoạt động Toán học cho học

sinh cũng đã đợc bàn đến trong các công trình của A. A.

Stoliar (1969) hoặc của Krgowskaia (1966), nhng đến nay,

cha có công trình nào nghiên cứu việc vận dụng Quan điểm

hoạt động vào dạy Hình học ở lớp đầu cấp Trung học phổ

thông.

Vì những lý do trên đây, chúng tôi chọn đề tài nghiên

cứu của luận văn là:

"Vận dụng quan điểm hoạt động vào dạy Hình

học ở lớp đầu cấp Trung học phổ thông" (Thể hiện qua

Chơng 1 và Chơng 2).

2. Mục đích nghiên cứu



5

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu để vận

dụng Quan điểm hoạt động thể hiện qua những thành tố cơ

sở của PPDH vào việc dạy Hình học lớp 10; đồng thời cũng

làm sáng tỏ hơn những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về

định hớng hoạt động hóa ngời học.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có nhiệm vụ giải đáp những câu hỏi khoa học

sau đây:

3.1. Quan điểm hoạt động trong PPDH Toán là gì ?

Định hớng "hoạt động hoá ngời học" có những đặc trng nào

của PPDH hiện đại?

3.2. Những thành tố cơ sở của PPDH đợc thể hiện trên

chất liệu Hình học lớp 10 nh thế nào ?

3.3. Hiện thực hóa việc vận dụng Quan điểm hoạt

động vào dạy học Hình học 10 nh thế nào?

4. Giả thuyết khoa học

Nếu quan tâm đúng mức đến việc vận dụng những t

tởng chủ đạo của Quan điểm hoạt động vào việc dạy học

Hình học cho học sinh đầu cấp THPT, thì sẽ góp phần nâng

cao chất lợng dạy học Hình học và thể hiện định hớng đổi

mới phơng pháp giảng dạy Toán ở trờng phổ thông.

5. Phơng pháp nghiên cứu

5.1. Nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu, nghiên cứu các tài

liệu về các vấn đề có liên quan đến đề tài luận văn.

5.2. Điều tra quan sát: Một số nét về thực trạng dạy và

học Hình học ở lớp đầu cấp THPT.

5.3. Thực nghiệm s phạm: Tổ chức thực nghiệm s phạm

để xem xét tính khả khi, ý nghĩa thực tiễn của đề tài.



6

6. Đóng góp của luận văn

6.1. Đã làm sáng tỏ thêm đợc những thành tố cơ sở,

những t tởng chủ đạo của Quan điểm hoạt động trên chất

liệu Hình học 10.

6.2. Đã hiện thực hóa đợc việc vận dụng Quan điểm

hoạt động vào dạy học Hình học lớp 10.

6.3. Có thể sử dụng Luận văn để làm tài liệu tham

khảo cho giáo viên Toán nhằm góp phần nâng cao hiệu quả

dạy học môn Toán ở trờng Trung học phổ thông

7. Cấu trúc của luận văn

Luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham

khảo, có 3 chơng:

Chơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1. Bàn về định hớng đổi mới PPDH

1.2. Quan điểm hoạt động trong PPDH

1.3. Quan điểm hoạt động dới góc độ cấu trúc vĩ mô

của Tâm lý học

1.4. Kết luận Chơng 1

Chơng 2: Vận dụng Quan điểm hoạt động vào dạy

Hình học ở lớp đầu cấp THPT

2.1. Sơ lợc về chơng trình Hình học lớp 10

2.2. Vận dụng Quan điểm hoạt động vào việc dạy Hình

học 10

2.3. Kết luận Chơng 2

Chơng 3: Thực nghiệm s phạm

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Tổ chức và nội dung thực nghiệm

3.3. Đánh giá kết quả thực nghiệm



7

3.4. Kết luận



8

Chơng 1



Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1. Bàn về định hớng đổi mới phơng pháp dạy

học

1.1.1. Nhận xét chung vỊ thùc tr¹ng d¹y häc hiƯn

nay ë níc ta

Cã nhiỊu ý kiến cho rằng, PPDH đợc sử dụng trong nhà

trờng nói chung còn lạc hậu. Mặc dù nhiều GV tâm huyết với

nghề và có hiểu biết sâu sắc về bộ môn, đã có những giờ

dạy tốt; nhng nhìn chung, phần lớn GV vẫn sử dụng phơng

pháp thuyết trình và thậm chí là "thầy đọc - trò chép" nh

nhiều tài liệu đã gọi. Đó là những hiện tợng đáng lo ngại, mà

nguyên nhân có thể là bắt nguồn từ những vấn đề sau

đây:

Một là, phần lớn giáo viên chỉ nghĩ đến việc dạy đúng,

dạy đủ, dạy cái gì chứ cha nghĩ đến việc dạy nh thế nào;

Hai là, cha phá đợc vòng luẩn quẩn của việc tuyển chọn,

đào tạo, bồi dỡng giáo viên. Do nhiều khó khăn khách quan

nên chất lợng đào tạo, đặc biệt là chất lợng đào tạo nghiệp

vụ trong các trờng S phạm cha cao;

Ba là, các hoạt động chỉ đạo, nghiên cứu, bồi dỡng giảng

dạy còn nặng về tìm hiểu, làm quen và khai thác nội dung

chơng trình và sách giáo khoa. Thiếu sự chuẩn bị đồng bộ

đối với các mắt xích trong mối quan hệ rất chặt chẽ là mục

tiêu, nội dung, phơng pháp, phơng tiện giảng dạy Việc cụ

thể hoá, quy trình hoá những phơng pháp dạy học tốt để

giúp giáo viên



sử dụng trong giảng dạy cha làm đợc bao



9

nhiêu. Ngoài ra cũng thiếu các thông tin cần thiết về đổi mới

PPDH nói riêng và đổi mới giáo dục nói chung trên thế giới;

Bốn là, các kiểu đánh giá và thi cử cũng ảnh hởng rõ rệt

tới phơng pháp giảng dạy; đánh giá và thi cử nh thế nào thì

sẽ có lối dạy tơng ứng ®èi phã nh thÕ Êy.

Tãm l¹i, víi kiĨu d¹y häc thầy truyền thụ kiến thức còn

trò thụ động ngồi nghe, những gì thầy giảng thờng không

có sự tranh luận giữa thầy và trò, điều thầy nói có thể coi là

tuyệt đối đúng Một phơng pháp giảng dạy tự phát, dựa

vào kinh nghiệm, không xuất phát từ mục tiêu đào tạo, không

có cơ sở kiến thức về những quy luật và nguyên tắc của lý

luận dạy học sẽ làm cho quá trình học tập trở nên nghèo nàn,

làm giảm ý nghĩa giáo dục cũng nh hiệu quả bài giảng.

1.1.2. Tính cấp thiết và những yêu cầu đặt ra

của việc đổi mới PPDH

Trớc thực trạng dạy học của nớc ta trong những năm gần

đây và hiện nay, cùng với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá, sự

phát triển của công nghệ thông tin, sự tăng lên gấp bội của tri

thức đòi hỏi chúng ta phải đối mặt với cuộc tranh đua tận

dụng những tiến bộ nhanh chóng về khoa học, công nghệ

để tăng tốc độ phát triển và giảm nguy cơ tụt hậu. Vì thế

trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, Đảng ta

đã nêu rõ: "CNH gắn liền với HĐH ngay từ đầu và trong

suốt các giai đoạn phát triển. Nâng cao hàm lợng tri thức

trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội, tõng bíc ph¸t

triĨn kinh tÕ tri thøc ë níc ta…".

Kinh tế tri thức là giai đoạn phát triển mới của lực lợng

sản xuất của loài ngời. Đối với kinh tế công nghiệp, dựa vào

máy móc và tài nguyên là chính, còn kinh tế tri thức thì dựa



10

vào tri thức và thông tin là chủ yếu, trong đó khoa học trở

thành lực lợng sản xuất trực tiếp và quan trọng hàng đầu.

Hiện nay trên thế giới, nền kinh tế tri thức đã hình

thành ở nhiều nớc. Đây là xu thế tất yếu của quá trình phát

triển sức sản xuất, là thành tựu quan trọng của loài ngời,

chúng ta cần phải nắm lấy và vận dụng để phát triển kinh

tế - xã hội nói chung và để phát triển giáo dục, trong đó có

liên quan đến vấn đề PPDH nói riêng.

Bàn về đổi mới PPDH, tác giả Trần Kiều đa ra một số

kiến nghị:

"Do mối quan hệ chặt chẽ của PPDH với mục tiêu, nội

dung, phơng tiện dạy học và các điều kiện khác nên chiến lợc

đổi mới phơng pháp không thể thực hiện một cách riêng lẻ.

Phải đổi mới đồng bộ mà trớc hết là từ mục đích giáo dục,

hệ thống giáo dục. Chiến lợc đổi mới phơng pháp phải nằm

trong chiến lợc chung.

- Vai trò của ngời học nếu muốn đợc thay đổi về cơ

bản thì trớc hết phải hình thành ở họ các phẩm chất, thói

quen và năng lực ngay từ khi đến trờng, tức là phải đổi mới

PPDH ngay từ lớp 1. Hình thành đợc thói quen, đặc biệt là

thói quen và cách thức suy nghĩ là rất khó khăn và cần đợc

diễn ra trong cả một quá trình từ thấp đến cao, từ đơn

giản đến phức tạp.

- Đội ngũ GV giữ vai trò quyết định trong công việc

đổi mới PPDH. "Không có hệ thống giáo dục nào vơn quá

tầm những giáo viên làm việc cho nó".

- Soát xét và soạn thảo lại SGK và các tài liệu hớng dẫn

cho phù hợp với các quan điểm, yêu cầu đổi mới phơng pháp.

"Nội dung quyết định phơng pháp nhng phơng pháp lại đợc



11

thể hiện qua việc chọn lựa và trình bày nội dung" 12, tr.

11].

Ngày nay, trớc ngỡng cửa của thế kỷ XXI - đòi hỏi nhà trờng phổ thông phải đào tạo ra những con ngời không những

nắm vững đợc những kiến thức khoa học mà loài ngời đã

tích luỹ đợc mà còn phải có những năng lực sáng tạo giải

quyết những vấn đề mới mẻ của đời sống bản thân mình,

của đất nớc, của xã hội.

Trong vài thập kỷ gần đây, dựa trên những thành tựu

Tâm lý học, Lý luận dạy học đã chứng tỏ rằng, có thể đạt đợc

mục đích trên bằng cách đặt HS vào vị trí của chủ thể

hoạt động trong quá trình dạy học, thông qua hoạt động

tích cực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức đồng thời

hình thành và phát triển năng lực. Hoạt động hoá ngời học là

một hớng cơ bản đổi mới PPDH ở các trờng Trung học phổ

thông để tạo ra một chất lợng mới trong dạy học.

Nếu trớc đây chủ yếu phổ biến các phơng pháp dạy

học mà ở đó ngời học tiếp nhận tri thức một cách thụ động,

một chiều theo thuật ngữ của một số nhà lý luận dạy học thì

đó là phơng pháp lấy giáo viên làm trung tâm (GVTT) thì

giờ đây các tài liệu giáo dục và dạy học ở nớc ngoài cũng nh

trong níc thêng nãi tíi viƯc cÇn thiÕt chun tõ dạy học lấy

giáo viên làm trung tâm (GVTT) sang dạy học lấy HS làm

trung tâm (HSTT). Đây là một xu hớng tất yếu có do lịch sử.

Trên cơ sở đó những khẩu hiệu mới, nhiều nguyên tắc,

phơng pháp mới bắt đầu đợc đề cao theo tinh thần lấy học

sinh làm trung tâm, coi nh một sự đối trọng lại phơng pháp

truyền thống. Nhà s phạm nổi tiếng đầu thế kỷ XX ở Mĩ là J.

Dewey đề ra phơng châm: "Học sinh là mặt trời, xung

quanh nó quy tụ mọi phơng tiện giáo dục", có một thời đợc



12

xem nh là một cách tân của giới s phạm. Với lý thuyết lấy HS

làm trung tâm, ngời ta đề cao kinh nghiệm của HS, kêu gọi

dạy theo nhu cầu, hứng thú của HS. Đã có những khẩu hiệu khá

hấp dẫn và lý thú của HS: " Nói, không phải là dạy học; nói ít

hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động cña HS "… 17,

tr. 13.

Nh vËy, lý thuyÕt HSTT ra đời mong muốn phá vỡ lối học

trung cổ còn ngự trị trong xã hội phơng Tây, nó là một

khuynh hớng tiến bộ, lành mạnh, nhằm giải phóng năng lực

sáng tạo cho con ngêi HS. Song, do chÞu sù chi phèi của ý

thức hệ t sản, của sức mạnh của chủ nghĩa cá nhân, lý

thuyết này đã ngày một đi sâu vào việc tuyệt đối hoá hứng

thú, nhu cầu, hành vi biệt lập của cá nhân và đó là lí do vì

sao từ một ý tởng nhân văn tiến bộ đã trở thành một lý

thuyết cực đoan, máy móc và cuối cùng bị chính những nhà

s phạm phơng Tây phản bác Nền giáo dục XHCN có thế

mạnh hơn hẳn các nền giáo dục t bản phơng Tây chính là ở

bản chất xã hội, ở định hớng vào quảng đại quần chúng nhất

là quần chúng lao động. Xét trong lịch sử dạy häc cđa níc ta,

chó träng ®Õn ngêi häc, ®Õn chđ thể HS trong quá trình

giáo dục và đào tạo của nhà trờng, nhằm phát huy cao độ

tính tự giác, tính năng động, tính sáng tạo của bản thân ngời học thì đó là một phơng hớng mà bản thân chúng ta

nhiều năm đã có những cố gắng đáng kể: Với các khẩu hiệu:

"Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo". "Thầy

chủ đạo trò chủ động", "Dạy học cá thể hoá", "Dạy học nêu

vấn đề", "học sinh là chủ thể sáng tạo"... Thủ tớng Phạm Văn

Đồng nhiều lần đã từng nói về vấn đề phát huy óc thông

minh, trí sáng tạo của HS: "Chúng ta phải nhắc đi nhắc lại

trăm lần ý muốn lớn của chúng ta trong giáo dục là đào tạo HS



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Lý do chọn đề tài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×