Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đặc điểm hình thái:

Đặc điểm hình thái:

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1. Pha trứng:

Trứng có kích thước dài khoảng 2 – 2,5 mm, rộng khoảng 1 – 1,5 mm, khối lượng

trung bình khoảng 0,006 g, có hình bầu dục với màu trắng ngà và được được bao

phủ bởi một lớp mỏng chất nhầy màu đen Hình 7: Kích thước trứng của ngài atlas

huyết, do đó thoạt nhìn trứng có màu

trắng hồng với nhiều vệt sậm màu. Đặc điểm màu sắc trứng có sự khác biệt với

nhận xét “trứng có màu nâu nhạt” trên website của Bảo tàng Nghiên cứu Đa dạng

sinh học Raffles, Singapore. Sau một thời gian, phần lớn trứng khơng nở vỏ trứng

sẽ bị lõm vào bên trong.



A

B



Hình 8: Màu sắc trứng của ngài sau khi lau đi dịch nhầy (A) và không lau (B)



1.2. Pha ấu trùng:

Ấu trùng tuổi 1 lúc mới nở có màu vàng hơi

xanh, riêng phần đầu có màu đen, dài khoảng 4 – 5 mm.

Cơ thể gồm 3 đôi chân thật (chân ngực) và 5 đôi chân

giả (chân bụng): 4 đôi chân ở các đốt giữa bụng, đôi

chân giả thứ 5 nằm ở đốt cuối cùng của cơ thể gọi là

chân giả hậu môn. Hai bên hơng của ấu trùng có những

sọc màu đen theo chiều từ trên xuống. Cơ thể mang

Hình 9: Ấu trùng tuổi 1

nhiều gai thịt màu vàng nhạt, chiều dài gai thịt ở phần

đầu và cuối cơ thể dài hơn so với phần giữa cơ thể, trên mỗi gai thịt có nhiều sợi lơng

mảnh màu đen. Ấu trùng vừa nở có tập tính ăn vỏ trứng, tuy nhiên nhiều cá thể khơng ăn

hết hồn tồn vỏ trứng.



A



14



B



Hình 10: Ấu trùng tuổi 1 nở ra từ trứng (A) và ấu trùng mới nở ăn vỏ trứng (B)



Sau lần lột xác đầu tiên, ấu trùng tuổi 1 chuyển bước sang

tuổi 2. Lúc này kích thước trung bình của ấu trùng khoảng 9 mm,

có màu vàng nhạt hơi trắng, riêng phần đầu ban đầu có màu vàng

sau đó chuyển dần sang màu nâu đỏ. Khoảng một ngày sau khi

bước sang tuổi 2, ở phần giữa thân và gần cuối đuôi của ấu trùng

xuất hiện những mảng màu cam, sau đó tồn bộ cơ thể được bao

phủ bởi lớp sáp màu trắng, cuối tuổi 2 kích thước của ấu trùng

Hình 11: Ấu trùng tuổi 2

trung bình khoảng 2 cm. Như vậy các mảng màu cam

xuất hiện trên cơ thể ấu trùng bắt đầu từ tuổi 2.

Ấu trùng vừa bước sang tuổi 3 có kích thước

trung bình khoảng 2,3 cm, cơ thể từ màu vàng xanh

(tuổi 2) chuyển thành màu xanh lá nhạt, có nhiều mảng

màu cam trên cơ thể, dần dần cơ thể được phủ bởi lớp

sáp màu trắng khắp cơ thể. Đặc điểm mới xuất hiện ở

tuổi này là ở đốt cuối cùng của cơ thể, ở hai bên hơng Hình 12: Ấu trùng tuổi 3

gần đơi chân bụng thứ 5 có hai đốm màu cam.

Ấu trùng tiếp tục lột xác thêm 2 lần để

lần lượt bước qua tuổi 4 và tuổi 5. Kích thước

trung bình của ấu trùng vừa bước sang tuổi 4

là 4,0 cm và tuổi 5 là 5,5 cm. Ngoại trừ sự

khác biệt chủ yếu về kích thước, ấu trùng ở

hai tuổi này đều có các đặc điểm chung là cơ

Hình 13: Ấu trùng tuổi 4

thể có màu xanh lục, sau khi lột xác cơ thể ấu

trùng dần dần được bao phủ bởi lớp bột sáp

màu trắng tuy nhiên lúc này lớp bột sáp không phủ hết màu xanh của ấu trùng, trên cơ thể

khơng còn các mảng màu cam như ở tuổi 2 và 3.

1.3. Pha nhộng:

Ấu trùng tuổi 5 sau một thời gian ngừng ăn và di chuyển chậm chạp, khác với nhện có các

nhú nhả tơ ở cuối bụng, ấu trùng bướm khế nhả tơ màu trắng từ miệng kết nối lá cây

chôm chôm để tạo thành một cái kén bao quanh lấy cơ thể. Kén vừa tạo thành từ tơ có

màu trắng, dần dần chuyển sang màu nâu theo thời gian. Ấu trùng nằm bên trong kén lột

xác lần cuối để hóa nhộng.

15



A



B



Hình 14: Ấu trùng tuổi 5 nhả tơ kết kén (A) và kén của ngài sau khi hoàn thành



1.4. Pha trưởng thành:

Đặt điểm chung: Attacus atlas là

lồi có kích thước cơ thể và sải cánh lớn,

chiều dài sải cánh dao động từ 15,3 cm

đến 18,7 cm, trung bình là 17,38±0,83 cm,

cơ thể chủ yếu có màu nâu đỏ, râu dạng

lơng chim. Ở phần giữa của mỗi cánh có

một đóm trắng lớn trong suốt, riêng ở cánh

trước phía trên đóm trắng và hơi lệch về

phía rìa cánh có một đóm nhỏ trong suốt

hình bầu dục, xung quanh những đóm

Hình 15: Ngài trưởng thành (đực)

trắng đó có rìa màu đen bao bọc.

Ở phần cánh trên, mép ngoài uốn lượn đặc trưng, ở gần phần đỉnh của cánh trước

có đóm màu đen, phía dưới đóm đen có vạch đỏ uốn cong theo mép trên của cánh, phía

dưới và trên của vạch này là mảng cánh màu cam, từ đây tính ra mép ngồi dần chuyển

sang màu vàng nhạt và màu hồng ở đỉnh cánh. Ở gần rìa ngồi của mỗi cánh có một vạch

màu đen uốn lượn, mảng cánh từ vạch này trở ra ngồi có màu xám nhạt, hoa văn ở cánh

trước và cánh sau khá đặc trưng cho lồi.

Con đực: có kích thước nhỏ hơn cá thể cái, sải cánh từ 15,3 cm đến 17,5 cm, trung

bình 16,58± 0,68. Râu của cá thể đực lớn hơn

nhiều so với râu của cá thể cái, đây là một trong

những đặc điểm quan trọng giúp phân biệt cá

thể đực và cá thể cái.

Con cái: có kích thước cơ thể lớn hơn cá

thể đực, sải cánh từ 17,5 cm đến 18,7 cm, trung

16



Hình 16: Ngài trưởng thành (cái)



bình 18,18± 0,43 cm. Râu dạng lược nhỏ hơn so với râu của cá thể đực, bốn đóm trắng

lớn trong suốt ở bốn cánh có hình giống giọt nước hơn so với cá thể đực.

2. Đặc điểm sinh học:

Sự phát triển của động vật không xương sống chịu sự tác động bởi nhiều nhân tố

mơi trường, trong đó có nhiệt độ theo công thức tổng nhiệt hữu hiệu:

S = (T - C). N

S: Tổng nhiệt hữu hiệu

T: nhiệt độ môi trường

C: ngưỡng nhiệt độ phát triển

N: chu kì sống (thời gian sống)

Dựa vào công thức trên, đối với sự phát triển của một lồi cụ thể thì có thể xem S

và C là hằng số, để có tổng nhiệt hữu hiệu dương (có sự phát triển) thì T > C. Sự phát

triển của ngài atlas tại Bến Tre cũng chịu sự tác động của nhiệt độ môi trường theo công

thức tổng nhiệt hữu hiệu, nhiệt độ mơi trường càng cao (T) thì chu kì sống càng ngắn (N)

và ngược lại, nhiệt độ môi trường càng gần ngưỡng nhiệt độ phát triển (C) thì chu kì phát

triển của cá thể càng dài.

Thí nghiệm nhân ni được bố trí tại phòng thí nghiệm sinh học thuộc trung tâm

GDNN – GDTX Chợ Lách, nhiệt độ phòng thí nghiệm phụ thuộc vào nhiệt độ mơi trường

trong khi nhiệt độ các lọ ni ấu trùng khơng có sự chênh lệch nhiều so với nhiệt độ

phòng thí nghiệm.

Nhiệt độ trung bình các tháng thí nghiệm tại huyện Chợ Lách được tính tốn dựa

trên các dữ liệu từ website: https://freemeteo.vn.

Bảng 1. Nhiệt độ môi trường huyện Chợ Lách trong thời gian nghiên cứu

Giá trị



Tháng 6/2018



Tháng 7/2018



Tháng 8/2018



Tháng 9/2018



Nhiệt độ thấp

nhất



24 oC



24 oC



23 oC



23oC



Nhiệt độ cao

nhất



35 oC



35 oC



34 oC



34 oC



Trung bình

nhiệt độ thấp



25,40 oC



25,45 oC



25,19 oC



24,93 oC



17



nhất

32,70 oC



Trung bình

nhiệt độ cao

nhất



32,45 oC



32,26 oC



32,10 oC



2.1. Giai đoạn trước trưởng thành:

Giai đoạn trước trưởng thành ở loài Attacus atlas L. gồm 3 pha: trứng, ấu trùng và

nhộng.



A



B



Hình 17: Nhộng vũ hóa thành bướm đực (A) và giao phối ở cá thể trưởng thành (B)



a. Pha trứng:



Sau khi ghép cặp khoảng 2 ngày, ngài đực và cái bắt đầu giao phối, ngài cái sau

khi giao phối xong khoảng một ngày thì bắt đầu đẻ trứng. Chúng đẻ trứng từ 2 – 4 ngày

liên tiếp. Số trứng đẻ nhiều nhất là vào ngày thứ 2 và thứ 3 tính từ lúc bắt đầu đẻ, một số

cá thể cái có thể đẻ trong thời gian dài hơn mặc dù số lượng trứng đẻ trong mỗi ngày là

rất ít. Trong điều kiện ni nhốt, ngài cái đẻ trứng thành từng cụm hoặc rời rạc lên mùn

nuôi cơn trùng, trứng bám dính vào mùn nhờ chất keo màu đen huyết, một số trứng bám

dính khơng tốt có thể rơi xuống tấm bạc bên dưới.

Thí nghiệm tìm hiểu về số trứng và tỉ lệ trứng nở của loài ngài atlas được bố trí hai

lần, mỗi lần thí nghiệm bố trí một cá thể đực và hai cá thể cái.

Bảng 2. Khả năng sinh sản của Attacus atlas L. tại Bến Tre

Lần TN



Tổng số

trứng



Số trứng nở



Tỉ lệ (%)

trứng nở

18



Số trứng trung

bình/ 1 cá thể cái



Tỉ lệ (%)

trứng nở



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đặc điểm hình thái:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×