Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Những thông tin về bệnh SXHD trong giám sát, báo cáo thường kỳ

- Những thông tin về bệnh SXHD trong giám sát, báo cáo thường kỳ

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Tên địa phương có ca bệnh

+ Thời gian mắc bệnh (theo mẫu báo cáo của dự án)

+ Tổng số dân và số trẻ < 15 tuổi.

- Mẫu báo cáo

- Theo mẫu báo cáo kèm theo Thông tư số 54/2015/TT-BYT ngày 28

tháng 12 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế.

- Các biểu mẫu báo cáo riêng của Chương trình phòng chống Sốt xuất

huyết quốc gia ban hành kèm theo Quyết định 3711/QĐ-BYT ngày 19 tháng 9

năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc hướng dẫn giám sát, phòng chống

bệnh sốt xuất huyết Dengue.



6



CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG

2.1. Tình hình dịch SXHD ở Việt Nam

Tại Việt Nam, năm 1998 dịch SXHD đã xảy ra tại 56/61 tỉnh thành phố

với số mắc 234.920 trường hợp và 377 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc là 306,3

trường hợp/100.000 dân, tỷ lệ chết/mắc là 0,19%.



Biểu đồ 2.1. Tình hình dịch SXHD tại Việt Nam từ 1980-2013

Thông thường, chu kỳ dịch xảy ra trung bình 4-5 năm, các năm 1987 và

1998 ghi nhận số mắc cao nhất trong giai đoạn từ 1980 đến nay, với số mắc

trên 200.000 ca và tử vong năm 1987 là 1.566 ca. Trong giai đoạn 5 năm gần

đây từ 2009- 2013, năm 2010 ghi nhận số mắc cao nhất là 126.710/109, năm

2013 số mắc giảm xuống 70.000 ca, tử vong giảm 40 ca.

2.2. Tình hình dịch SXHD tại Thanh Hóa

Thanh Hóa là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ.

Nhiệt độ trung bình từ 23,30 – 23,60C (mùa hè nhiệt độ có ngày cao nhất là

400C và thấp nhất vào mùa đơng có ngày xuống thấp 5-6 0C), tổng giờ nắng

khoảng 1.700 giờ/năm. Lượng mưa trung bình từ 1.730mm -1.980mm . Độ ẩm

trung bình từ 80% - 85%.

Đa số người dân có thói quen thích trữ nước nhất là nước mưa dùng trong

sinh hoạt. Đặc biệt những năm gần đây tốc độ cơng nghiệp hố, đơ thị hóa diễn



7



ra nhanh chóng trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng đủ, đã tạo môi trường

thuận lợi cho vecto truyền bệnh SXHD sinh sản và phát triển.



Biểu đồ 2.2. Tình hình dịch SXHD tại Thanh Hóa từ năm 1999- 2013

Qua biểu đồ biểu diễn tình hình dịch SXHD từ 1999-2013, ta thấy chu kỳ

bùng phát dịch SXHD tại Thanh Hóa tương ứng với chu kỳ dịch SXHD tại

Việt Nam. Từ năm 1999, Dự án phòng chống SXHD được triển khai tại Thanh

Hóa với mục tiêu làm giảm tỷ lệ mắc, tử vong do SXHD, khống chế khơng để

dịch lớn xảy ra, xã hội hóa cơng tác phòng chống SXHD. Dự án triển khai đã

góp phần giảm tỷ lệ mắc giai đoạn 1999-2013 so với cùng kỳ, đặc biệt trong

vòng 15 năm qua tại Thanh Hóa khơng có ca tử vong do SXHD.



Biểu đồ 2.3. Tỷ lệ mắc, chết từ năm 2006 – 2016

Trong giai đoạn 2006 – 2016, với dân số trung bình giai đoạn 3.432.710

người, tỷ lệ mắc SXHD là 1,61 ca/100.000 dân, khơng có ca bệnh tử vong.

8



Năm 2010 ghi nhận 265 ca mắc SXHD, với 4 ổ dịch SXHD tại 4 xã thuộc 2

huyện Thiệu Hóa và Tĩnh Gia, là năm có số ca mắc SXHD cao nhất

(7,78ca/100.000 dân). Năm 2009 có tỷ lệ mắc cao thứ 2 với tổng số 256 bệnh

nhân, có 3 ổ dịch SXHD tại huyện Hậu Lộc và Tĩnh Gia. Các năm 2006, 2007,

2013, 2014 ghi nhận các ổ dịch chủ yếu huyện Hoằng Hóa, Quảng Xương,

Tĩnh Gia, Thiệu Hóa, Hậu Lộc với số bệnh nhân dao động từ 150 – 170 ca

bệnh/năm. Các năm 2008, 2011, 2012, 2014 số lượng bệnh nhân ít, ghi nhận ổ

dịch nhỏ hoặc khơng có dịch.

Sự phân bố ca bệnh SXHD theo các tháng trong năm tập trung nhiều từ

tháng 6 đến tháng 11 hàng năm, cao điểm ở các tháng 8,9,10. Thời điểm này là

thời điểm mùa mưa, nắng nhiều, là điều kiện thuận lợi để muỗi và bọ gây

truyền bệnh SXHD sinh sản và phát triển. Tuy nhiên ở một số năm như năm

2010, 2011, 2016, thời tiết có những thay đổi, mùa đơng ít lạnh, có nắng nên

các ca bệnh SXHD xuất hiện rải rác ở tất cả các tháng trong năm từ tháng 1

đến tháng 12 đều ghi nhận các ca bệnh SXHD.

Trong giai đoạn năm 2006-2016, ghi nhận 23 ổ dịch SXHD do muỗi

Aedes aegypty là véc tơ truyền bệnh, trong đó có 20/23 ổ dịch được ghi nhận từ

năm 2006 – 2010. Từ năm 2011 – 2016, chỉ ghi nhận 3 ổ dịch SXHD tại xã

Hải Thanh, Hải Bình – huyện Tĩnh Gia. Thực tế, khu vực phân bố của loài

muỗi Aedes aegypty đang dần thu hẹp do sự phát triển xâm lấn của loài muỗi

Aedes albopictus. Điều này được giải thích bởi muỗi Aedes aegypty kém thích

nghi với sự thay đổi của thời tiết, mơi trường. Bên cạnh đó là sự thay đổi tập

quán sử dụng nước của người dân từ việc sử dụng các dụng cụ chứa nước mưa

làm nước sinh hoạt thì hiện nay đa phần người dân sử dụng nước sạch từ nhà

máy nước hoặc nước giếng để phục vụ cho cuộc sống hàng ngày, điều đó làm

hạn chế sự phát triển của muỗi Aedes aegypty.

Véc tơ phụ truyền bệnh SXHD, muỗi Aedes albopictus, thường đẻ trứng

ở các dụng cụ phế thải chứa nước, các lốp xe đã sử dụng hoặc các hốc tự nhiên

như hốc cây, hốc đá,… Aedes albopictus có thể tồn tại và thích ứng rất nhanh

ngay cả khi mơi trường bên ngồi có sự thay đổi mạnh mẽ.

Thực tế cũng cho thấy rằng các ổ dịch do muỗi Aedes albopictus là véc tơ

truyền bệnh thường nhỏ, lẻ, tốc độ lây truyền chậm, ít có diễn biến rầm rộ hơn

so với ổ dịch do muỗi Aedes agypty gây ra. Giai đoạn năm 2006-2016, có 4 ổ

dịch SXHD do muỗi Aedes albopictus là véc tơ truyền bệnh, trong đó tập trung

chủ yếu từ năm 2013-2016 (3 ổ dịch). Muỗi Aedes albopictus có sự mở rộng

9



phạm vi phân bố từ 21/53 điểm giám sát có muỗi Aedes albopictus (xấp xỉ

40%) ở năm 2006, đến năm 2011 con số này là 31/66 điểm giám sát (chiếm

47%) và đến năm 2016 là 57/79 điểm giám sát (chiếm 72%).

2.3. Tình hình dịch SXHD năm 2017

Năm 2017, tình hình dịch SXHD có diễn biến phức tạp. Nếu như những

năm trước đây, SXHD chỉ xuất hiện quanh năm ở các tỉnh khu vực Tây

Nguyên, Nam Bộ thì năm 2017, miền Bắc cũng đã ghi nhận ca bệnh ngay từ

những tháng đầu năm, đặc biệt với sự bùng phát dịch mạnh mẽ tại Hà Nội. Đầu

tháng 8/2017, Hà Nội đã ghi nhận 13.982 ca bệnh tại 532/584 xã, phường, thị

trấn thuộc 30/30 quận , huyện, trong đó có 05 trường hợp tử vong. Con số bệnh

nhân SXHD khơng ngừng tăng lên trong những tháng tiếp theo. Tính đến ngày

26/11/2017, miền Bắc có 60.312 trường hợp bệnh, trong đó Hà Nội chiếm trên

50% với 37.431 ca bệnh SXHD và 07 trường hợp tử vong do SXHD.

Nguyên nhân của sự gia tăng dịch bệnh SXHD trong năm 2017 do một số

nguyên nhân sau:

- Nền nhiệt độ trung bình năm 2017 của khu vực miền Bắc cao hơn các

năm trước, nhiệt độ ấm ngay từ đầu năm, mùa mưa đến sớm tạo thuận lợi cho

muỗi phát triển.

- Điều kiện vệ sinh môi trường không được quan tâm xử lý dẫn đến phát

sinh các ổ lăng quăng của muỗi truyền bệnh, đặc biệt ở một số khu vực đông

dân cư, công trường xây dựng,…

- Sự chủ động, phối hợp của người dân và ban, ngành đồn thể trong cơng

tác phòng chống sốt xuất huyết tại chưa cao.

- Việc triển khai biện pháp phun hóa chất và diệt lăng quăng gặp nhiều

khó khăn, không triệt để.

- Việc di biến động dân cư từ vùng có dịch đến vùng chưa có dịch khiến

dịch lan rộng, khó kiểm sốt.

- Một bộ phận người dân chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc

chủ động bảo vệ bản thân, gia đình và cộng đồng trong cơng tác phòng chống

dịch SXHD.

Tại Thanh Hóa, hệ thống giám sát cũng ghi nhận những ca bệnh SXHD

đầu tiên từ tháng 01/2017. Số ca mắc tăng dần tương ứng với sự phát triển dịch

SXHD của khu vực miền Bắc. Ổ dịch SXHD đầu tiên tại Thanh Hóa ghi nhận

giữa tháng 8/2017 tại xã Hải Bình, huyện Tĩnh Gia. Liên tiếp trong khoảng

10



tháng 8 – 9/2017, xuất hiện rải rác các ổ dịch SXHD mức độ vừa và nhỏ tại các

huyện Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Thạch Thành, Hà Trung, Hậu Lộc. Đa số ổ dịch

do mầm bệnh từ các bệnh nhân lưu hành từ các khu vực có dịch như Hà Nội,

TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Nam Định,… về Thanh Hóa cư trú và điều trị.

Tính đến hết tháng 10/2017, Thanh Hóa ghi nhận 3.103 ca bệnh SXHD tại

545/635 xã, phường, thị trấn thuộc 27/27 huyện, thị xã, thành phố, khơng có ca

bệnh tử vong.



11



CHƯƠNG III. GIẢI PHÁP

Hiện nay, bệnh SXHD chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và chưa có vắc xin

phòng bệnh. Cơng tác phòng chống dịch chủ yếu vẫn là tuyên truyền vận động

cộng đồng cùng chung tay tham gia. Tôi xin đề xuất một số biện pháp tăng

cường hiệu quả phòng chống dịch SXHD như sau:

3.1. Tiêu diệt véc tơ truyền bệnh

3.1.1. Biện pháp cơ học

- Đậy kín các vật chứa nước trong nhà và xung quanh nhà khơng cho

muỗi đẻ trứng có tác dụng diệt Aedes.

- Đối với các dụng cụ chứa nước có thể tích lớn, khơng có nắp đậy phải

thả cả để diệt bọ gậy.

- Thường xuyên thay nước, cọ rửa dụng cụ chứa nước như lu, bể… hàng

tuần để diệt lăng quăng và loại bỏ trứng Aedes bám vào thành lu, bể nước.

- Dùng vợt hớt hết lăng quăng trong dụng cụ chứa nước, bỏ muối hay dầu

cặn vào chén nước chân chạn, bình hoa cũng là biện pháp diệt lăng quăng đơn

giản hiệu quả.

- Đối với dụng cụ chứa nước phế thải (lốp xe hỏng, vật dụng gia đình bỏ

khơng …) cần thu dọn và phá hủy.

- Đối với các hốc chứa nước tự nhiên (hốc cây, kẽ lá, gốc tre nứa …) cần

loại bỏ, lấp kín, chọc thủng hoặc làm biến đổi.

- Lật úp các dụng cụ chứa nước không sử dụng, phá hủy các dụng cụ chứa

nước như chum vỡ, vại vỡ,... thu gom đến nơi xử lý rác thải.

- Mặc quần áo tay dài, ngủ màn cả ngày lẫn đêm, dùng hương trừ muỗi

hay bình xịt muỗi để tránh muỗi đốt.

- Thường xuyên dọn dẹp nhà cửa, không vắt quần áo bừa bãi trong nhà

nhằm hạn chế chỗ đậu nghỉ của muỗi và dụng cụ phế thải chứa nứa xung

quanh nhà. Bộ gậy Aedes có thể phát triển ở các dụng cụ chứa nước trong nhà

và xung quanh nhà, vì vậy xử lý dụng cụ chứa nước để làm giảm nguồn sinh

sản là biện pháp rất hiệu quả trong phòng chống véc tơ.

3.1.2. Sử dụng hố chất:

Nhiều năm qua, việc phòng chống các bệnh do véc tơ truyền như SXHD,

sốt rét... chủ yếu là dựa vào phun hóa chất để diệt ngay đàn muỗi trưởng thành

đã nhiễm bệnh hoặc chủ động làm giảm quần thể muỗi ở vùng có bệnh dịch

lưu hành bằng kỹ thuật phun tồn lưu, tẩm màn, phun khơng gian.



12



Hiện nay hóa chất đang được sử dụng trong cơng tác phòng chống dịch

SXHD tại cộng đồng như Permethrin, Deltamethrin, ...Tuy nhiên việc sử dụng

hóa chất diệt côn trùng rộng rãi trong nông nghiệp và y tế đặc biệt là lĩnh vực

nông nghiệp đã và đang gây nên hiện tượng kháng hóa chất của cơn trùng.

3.2. Tăng cường công tác quản lý, giám sát

- Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch từ tỉnh đến huyện, xã, phường.

- Tập huấn cho Lãnh đạo chính quyền, các ban ngành đoàn thể, mạng lưới

y tế, cộng tác viên, giáo viên, học sinh nhà trường về bệnh SXHD, các hoạt

động cụ thể loại trừ nơi sinh sản của véc tơ.

- Xây dựng mạng lưới cộng tác viên y tế phòng chống SXHD.

- Tổ chức các hoạt động diệt bọ gậy thường xun đến từng hộ gia đình

thơng qua hoạt động của cộng tác viên y tế, học sinh và các tổ chức quần

chúng (thả cá, mesocyclops, đậy nắp, loại bỏ vật dụng phế thải …).

- Phun chủ động hóa chất diệt muỗi tại những nơi có nguy cơ cao.

- Tổng hợp kết quả và báo cáo cho tuyến trên theo quy định.

3.3. Tuyên truyền nâng cao hiểu biết của cộng đồng

* Tuyến tỉnh/huyện

Phối hợp với cơ quan thông tin tại địa phương bao gồm: đài truyền hình,

đài phát thanh, báo chí và phương tiện thơng tin khác viết bài, đưa tin, làm

phóng sự về tình hình dịch SXHD và biện pháp phòng bệnh cho cộng đồng.

* Tuyến xã/phường

Tổ chức các buổi phổ biến kiến thức phòng chống sốt xuất huyết trong

các trường học, các buổi họp dân, khẩu hiệu, tờ tranh, các cuốn sách nhỏ, thăm

hỏi của cộng tác viên y tế, truyền thanh, các buổi chiếu video … bằng những

thông tin đơn giản, dễ hiểu, minh họa rõ ràng. Tùy theo đối tượng nghe mà phổ

biến các thông tin như:

- Tình hình SXHD trong nước, tại tỉnh, huyện hoặc xã về số mắc và chết

trong một vài năm gần đây.

- Triệu chứng của bệnh, sự cần thiết của điều trị kịp thời để giảm tử vong.

- Nhận biết vòng đời, nơi sinh sản, trú đậu, hoạt động hút máu của muỗi

truyền bệnh.

- Những biện pháp cụ thể, đơn giản mà mỗi người dân có thể tự áp dụng

để loại bỏ ổ bọ gậy của muỗi truyền bệnh.

- Định ngày và thời gian thực hiện chiến dịch làm sạch mơi trường.



13



KẾT LUẬN

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh cấp tính nguy hiểm. Ở Việt Nam, bệnh lưu

hành ở hầu hết các tỉnh/thành phố trên cả nước. Mỗi năm có từ 50.000 đến

100.000 ca mắc SXH, trong đó có vài nghìn đến hàng chục nghìn ca nặng phải

nhập viện và có thể dẫn đến tử vong. Bệnh xảy ra quanh năm nhưng thường

bùng phát thành dịch lớn vào mùa mưa, nhất là từ tháng 7 đến tháng 10. Hiện

chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh SXH và cũng chưa có vắc-xin phòng ngừa

bệnh SXH nào được cấp phép sử dụng tại Việt Nam. Cho đến nay các biện

pháp truyền thống để hạn chế sự lan truyền bệnh SXH vẫn là diệt loăng quăng,

diệt muỗi và phòng tránh muỗi đốt. Tuy nhiên, hiệu quả phòng chống dịch của

các biện pháp này còn nhiều hạn chế và chưa giải quyết được vấn đề bệnh dịch

SXH một cách lâu dài. Từ thực tế trên, tôi đã đề xuất một số giải pháp nâng

cao cơng tác phòng chống dịch SXHD như sau:

1. Tăng cường tiêu diệt véc tơ truyền bệnh.

2. Huy động sự tham gia của các cấp chính quyền, ban ngành, đồn thể và

các lượng xã hội cùng phối hợp cùng y tế tham gia phòng, chống SXHD.

3. Tăng cường truyền thơng giáo dục sức khỏe, tập huấn nhân viên y tế,

cộng tác viên và thông qua phương tiện truyền thông đại chúng để người dân

biết về đời sống tập tính của muỗi truyền SXHD, hành vi ngủ màn đúng.

Hướng dẫn, khuyến khích sử dụng những biện pháp ưu tiên ở phạm vi gia đình

là đậy nắp dụng cụ chứa nước, thu gom phế thải, thả cá vào vật chứa nước sinh

hoạt. Những biện pháp khác cũng phải được khuyến khích sử dụng lồng ghép

để đảm bảo sự thành công của một chương trình kiểm sốt muỗi tồn diện.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Những thông tin về bệnh SXHD trong giám sát, báo cáo thường kỳ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×