Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Nguồn: theo Wong C. và CS (2009) [66].

* Nguồn: theo Wong C. và CS (2009) [66].

Tải bản đầy đủ - 0trang

24

Như vậy, sự dẫn lưu tĩnh mạch của vạt được thực hiện từ mãng da mỡ

vào hệ thống tĩnh mạch thượng vị sâu bằng 1 hoặc 2 nhánh tĩnh mạch xuyên

đi kèm theo động mạch, chủ yếu là vùng quanh rốn. Sự hồi lưu tĩnh mạch

ngay sau đó được đảm bảo bằng tĩnh mạch thượng vị dưới sâu. Sự sung huyết

tĩnh mạch tồn bộ của vạt có thể được giải thích bằng sinh lý dòng chảy của

máu tĩnh mạch trong vạt. Quả thực, toàn bộ hồi lưu tĩnh mạch đi qua 1 hoặc 2

nhánh xuyên đã được phẫu tích. Khi khẩu kính của nó khơng đủ sẽ gây cản

trở trong việc hồi lưu tĩnh mạch dẫn đến sự quá tải tại vạt.

1.4.4. Các phương pháp khảo sát nhánh xuyên động mạch thượng vị

dưới sâu

1.4.4.1. Siêu âm Doppler

Siêu âm Doppler cầm tay là phương pháp đầu tiên được mô tả để khảo

sát các nhánh xuyên, được sử dụng để lập bản đồ nhánh xuyên từ những năm

1990. Phương pháp này vẫn còn được dùng phổ biến với các ưu điểm như:

khơng xâm lấn, chi phí thấp, kích thước nhỏ, tính tiện dụng, di động đễ dàng

và sử dụng đơn giản. Ngoài ra có thể có những đầu dò có sẵn để dùng trong

lúc mổ, dễ dàng tiệt trùng vì vậy siêu âm Doppler cầm tay có thể dùng trong

khi mổ để định vị và kiểm tra các mạch máu cuống mạch vạt. Tuy nhiên các

thông tin mà phương pháp này cung cấp còn hạn chế. Nó khó có thể phân biệt

giữa nhánh xuyên và mạch máu chính. Hơn nữa, mối liên hệ giữa mức độ tín

hiệu âm thanh và kích thước của mạch máu là không đáng tin cậy và không

xác định được kích thước của mạch máu. Bên cạnh đó, theo Blondeel P. N và

CS thì kỹ thuật này còn cho thấy tỉ lệ dương tính giả cao và có thể nhầm lần

tín hiệu âm thanh của mạch máu nhỏ với nhách xun có kích thước lớn [70].

Giunta R. E. và CS khi nghiên cứu trên 32 trường hợp tái tạo vú bằng vạt

nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu nhận thấy rằng khi so sánh giữa

các nhánh xuyên phát hiện trước mổ bằng siêu âm Doppler cầm tay và các

nhánh xuyên phát hiện trong mổ thì giá trị dự đốn dương tính của siêu âm



25

Doppler cầm tay chỉ là 52,4% [71]. Ngồi ra, tuỳ theo đầu dò mà siêu âm

Doppler cầm tay khảo sát các mạch máu trong một độ sâu nhất định, ví dụ

đầu dò phổ biến nhất là 8 MHz chỉ phát hiện các nhánh xuyên trong giới hạn

độ sâu 20 mm (độ dày của da và mô dưới da). Điều này làm cho kỹ thuật này

ít tin cậy để phát hiện vị trí mà nhánh xuyên chui qua cân, khi mà độ dày của

da và mơ dưới da vựơt ngưỡng phát hiện của đầu dò. Kỹ thuật này cũng

khơng tạo được những hình ảnh 3 chiều của mạch máu và cấu trúc giải phẫu

xung quanh, mà có thể lưu trữ và khảo sát về sau. Bất chấp những hạn chế đó,

theo một số tác giả siêu âm Doppler cầm tay vẫn còn hữu ích trong thực tế

hằng ngày và cho những chỉ định cụ thể, chẳng hạn như xác định vị trí và

hành trình của động mạch thượng vị dưới nông hoặc được sử dụng như

phương thức hỗ trợ cho các phương pháp khác.

Cũng như siêu âm Doppler cầm tay, siêu âm Doppler màu cũng là một

kỹ thuật không xâm lấn. Tuy nhiên, siêu âm màu cung cấp nhiều thông tin

đáng tin cậy hơn siêu âm Doppler cầm tay. Nó có thể phát hiện và xác định vị

trí của các nhánh xuyên trội. Kỹ thuật này có độ nhạy cao và có thể cung cấp

các thơng tin về khẩu kính, lưu lượng máu của các mạch máu chính và các

nhánh xun. Nó cung cấp thơng tin động về lưu lượng dòng chảy của mạch

máu, nhưng tốc độ dòng chảy có thể khơng ln ln phản ánh kích thước

tuyệt đối của các nhánh xuyên. Những tổn thương mạch máu do xơ vữa động

mạch, bệnh lý mạch máu, dị dạng bẩm sinh, những thay đổi giải phẫu có thể

được phát hiện. Ngồi ra, hiện nay với siêu âm tần số cao cho phép khảo sát

với độ sâu nơng ngay dưới da, với mạch máu kích thước từ 0,2mm. Tuy

nhiên, phương pháp này cũng có một số nhược điểm như: mất thời gian, gây

khó chịu cho bệnh nhân vì duy trì một tư thế trong thời gian lâu, cung cấp

không đầy đủ các chi tiết về giải phẫu, và kết quả còn phụ thuộc vào kỹ năng

và chủ quan của người thực hiện siêu âm, đòi hỏi có sự hiểu biết về cấu trúc

giải phẫu mạch máu 3 chiều, có khái niệm về phẫu thuật vạt, cũng như có



26

kinh nghiệm trong việc sử dụng các đầu dò để khảo sát mạch máu tốt nhất.

Một bất lợi khác của siêu âm Doppler màu cũng như siêu âm Doppler cầm tay

so với MDCT là khơng tạo dựng được các hình ảnh 2 chiều, 3 chiều hoàn

chỉnh về cấu trúc mạch máu để phẫu thuật viên có thể tham khảo trong lúc

thiết kế hoặc bóc tách vạt. Ngồi ra, siêu âm Doppler màu cũng khó có khả

năng để nghiên cứu kỹ các phân nhánh của động mạch thượng vị dưới sâu,

xác định kém các nhánh lớn gắn liền với nhánh xuyên, nhận diện kém hệ

thống động mạch thượng vị dưới nông. Scott J. R. và CS nghiên cứu trên 30

trường hợp tái tạo vú bằng vạt từ vùng bụng và khảo sát trước mổ bằng siêu

âm Doppler và MDCT, nhận thấy 100% các nhánh xuyên ghi nhận trong mổ

xác định được trên MDCT, chỉ có 66% xác định trước đó bằng siêu âm

Doppler màu, tất cả các trường hợp SIEA đều thấy trên MDCT trong khi

khơng có SIEA ghi nhận khi siêu âm Doppler màu [72].

Theo De Frene B. và CS, siêu âm Doppler màu có giá trị trong trường

hợp trong đó các nhánh xuyên có thể đã bị hư hại, ví dụ như sau hút mỡ vùng

bụng, vì nó có thể cung cấp thơng tin về lưu lượng dòng chảy của mạch máu

hoặc tương tự trong cả trường hợp mạch máu bị ảnh hưởng không mong

muốn bởi liều tia xạ [73]. Blondeel P. N. và CS nhận thấy siêu âm Doppler

màu cho giá trị dự báo dương tính 100% trong tái tạo vú bằng vạt nhánh

xuyên động mạch thượng vị dưới sâu [70].

1.4.4.2. Chụp mạch huỳnh quang

Chụp mạch huỳnh quang bằng Indocyanine và Fluoresceine có thể giúp

xác định vị trí cũng như sự tưới máu của các nhánh xuyên [74], [75].

Indocyanine green (ICG) được tiêm vào tĩnh mạch ngoại vi. Sau đó dùng

đèn chiếu laser (Pi = 0,16W,  = 780 nm) vào vùng quan sát, thuốc nhuộm sẽ

phản ứng và phát ra huỳnh quang tối đa ở 835 nm. Bởi vì ICG thải trừ rất

nhanh nên chụp mạch máu có thể lặp lại sau mỗi 10 phút [74], [76].



27

ICGA được sử dụng để lập bản đồ nhánh xuyên trong giai đoạn trước

phẫu thuật. Nhiều tác giả đã báo cáo việc sử dụng ICGA trong việc lập bản đồ

nhánh xuyên và tối ưu hoá việc thiết kế vạt. Sacks và CS đã dùng ICGA để

xác định trung tâm vạt trên nhánh xuyên trội sau khi lập bản đồ nhánh xuyên

trước đùi. Các tác giả nhận thấy rằng ICGA tốt hơn hơn siêu âm Doppler trong

việc xác định nhánh xuyên trội, giảm sự cần thiết phải thăm dò các nhánh

xuyên khác. Điều này làm giảm thời gian mổ, giảm tổn thương nơi cho vạt.

Onoda S. và CS cũng đã báo cáo việc sử dụng ICGA trong việc lập bản

đồ nhánh xuyên trước mổ, nhưng thấy nó chỉ có ích đối với vạt có độ dày ≤ 2

cm. Trong vạt dày hơn, họ quan sát thấy có sự tẩm nhuộm khuếch tán ICG

vào mơ sau khi tiêm thuốc, khơng nhìn thấy rõ ràng các nhánh xuyên [75]. Ở

các vùng mà lớp mỡ dưới da mỏng, các nhánh xuyên và hành trình của nó dễ

dàng được quan sát khi sử dụng ICGA để lập kế hoạch và đánh giá các nhánh

xuyên trước mổ như báo cáo của Pestana I. A. và CS [74]. Tuy nhiên, nhược

điểm của ICGA đòi hỏi phải tiêm tĩnh mạch, khơng chỉ được vị trí chính xác

và đường đi xun cơ cân của nhánh xun khi có tình trạng loạn dưỡng mỡ.

Bên cạnh việc giúp khảo sát các nhánh xuyên trước mổ, việc chụp mạch

bằng ICGA trong mổ còn giúp đánh giá sự tưới máu cho vạt. Nhiều tác giả đã

báo cáo với kết quả rất tốt trong việc ứng dụng ICGA trong đánh giá tưới máu

mô. Pestana I. A. và CS sử dụng chụp mạch huỳnh quang để theo dõi tưới

máu vạt ở 29 bệnh nhân sử dụng vạt tự do trong đó có 10 bệnh nhân tái tạo

vú. ICGA xác định vùng thiếu máu và hướng dẫn cắt bỏ ở 50 % bệnh nhân,

trong đó có 1 trường hợp vạt thiếu máu toàn bộ được xác định chính xác bởi

ICAG [76]. Holm C. và CS đã nghiên cứu ở 25 bệnh nhân tái tạo vú. Họ đã sử

dụng chụp mạch với ICG để đáng giá cùng cấp máu của SIEA và DIEA.

ICGA làm thay đổi kế hoạch phẫu thuật ở 44% bệnh nhân [77].

Fluorescein được Ehrlich sử dụng lần đầu tiên vào năm 1882 để nghiên

cứu các chất lỏng trong khoang phía trước của mắt. Koch sử dụng nó vào năm



28

1922 để nghiên cứu tốc độ của dòng máu. Lange K. và Boyd I. J. đầu tiên sử

dụng fluorescein tĩnh mạch vào năm 1942 để đánh giá chức năng mạch máu

ngoại vi. Dingwall và Lord cải tiến các kỹ thuật để xác định thời gian sớm

nhất có thể để chuyển một vạt cuống mạch liền dạng ống. Silverman và CS

mô tả hiệu quả của thử nghiệm fluorescein để dự đoán khả năng sống của vạt

da [78]. Chụp mạch huỳnh quang với fluorescein là một kỹ thuật đơn giản và

hiệu quả để đánh giá tưới máu vạt. Chụp mạch huỳnh quang sử dụng thuốc

nhuộm fluorescein tiêm vào tĩnh mạch và phát ra năng lượng hồng ngoại ở

bước sóng 510 - 600 nm khi kích thích bởi ánh sáng tia cực tím (từ đèn

Wood). Trong các mơ sống, thuốc nhuộm xuất hiện ánh sáng màu vàng trong

khi các khu vực mà khơng có lưu lượng máu xuất hiện màu xanh đậm như

chúng phản ánh tất cả các ánh sáng tia cực tím. Fluorescein cũng nhanh chóng

khuếch tán từ nội mạch để vào khơng gian ngoại mạch và có thể được sử

dụng để đánh giá mức độ tưới máu của mô mềm. Fluorescein được bài tiết

qua thận và thời gian cần thiết để đạt được độ phát huỳnh quang tối đa mất

khoảng 15 phút.

Sau khi phẫu tích cuống mạch vạt, tiến hành tắt hết đèn và chụp hình ảnh

của vạt khi chưa tiêm thuốc. Tiêm 0,05 ml fluorescein trong da để thử phản

ứng thuốc. Sau đó nếu phản ứng âm tính, tiến hành tiêm fluorescein tĩnh mạch

liều 10 - 20 mg/kg cân nặng. Sau 15-20 phút tắt hết đèn trong phòng, sử dụng

đèn Wood chiếu vào vạt da để đánh giá màu sắc của vạt ngấm thuốc (những

đốm màu vàng nhạt), phần không ngấm thuốc (màu xanh đen) là phần thiếu

máu nuôi cần cắt bỏ. Ưu điểm của chụp huỳnh quang với Fluorescein là quan

sát được khu vực tưới máu của nhánh xuyên, dễ dàng thực hiện, phổ biến

rộng rãi, chi phí thấp, đáng tin cậy và có thể ghi lại bằng hình ảnh. Nhược

điểm của chụp huỳnh quang với fluorescein bao gồm chỉ dùng 1 lần duy nhất,

không cho biết thông tin về tĩnh mạch, thời gian bán huỷ dài, phải dùng đèn

tia cực tím, độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu thấp, có thể gặp phản ứng dị ứng.



29

1.4.4.3. Chụp cắt lớp vi tính đa đầu dò

Chụp cắt lớp vi tính đa đầu dò (MDCT) đã tạo ra cuộc cách mạng trong

việc khảo sát các nhánh xuyên vùng bụng trước mổ. Các nghiên cứu đầu tiên

về những ứng dụng của nó đã được cơng bố trong việc đánh giá trước mổ ở

bệnh nhân tái tạo vú và kể từ đây MDCT trở thành những kỹ thuật được ưa

thích trong việc khảo sát các nhánh xuyên trước mổ trong tái tạo vú. Trong

khảo sát trước mổ vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu, theo nhiều

tác giả, với MDCT từ 16 lát cắt là đủ để có thể khảo sát các nhánh xuyên [60],

[79], [80].

Cần lưu ý rằng khi chụp MDCT, bệnh nhân sẽ ở cùng tư thế như sẽ

thiết lập khi mổ, đó là tư thế nằm ngửa. Các dữ liệu thể tích (volumetric data)

thu được sẽ được sử dụng để tái tạo hình ảnh với chiều dày lát cắt 0,5 - 1mm,

khoảng cách tái tạo là 0,3 - 0,5 mm. Dùng các phần mềm để khảo sát các hình

ảnh với nhiều thiết diện cắt trục dọc giữa, cắt trục thẳng ngang, cắt ngang và

tái tạo 3 chiều. Các hình ảnh thu được sẽ lưu trên thẻ nhớ, ổ cứng hoặc đĩa

CD để có thể xem lại trên máy tính thơng thường. Thời gian thực hiện MDCT

mất khoảng 10 phút.

Việc sử dụng MDCT cho việc lập bản đồ mạch máu thành bụng khơng

chỉ có thể xác định vị trí của các nhánh xun trội mà còn nhận được những

thông tin về hệ thống mạch máu và vùng cho vạt nhờ vào những hình ảnh giải

phẫu mà phương pháp này cung cấp. MDCT đã cho thấy có độ tin cậy cao để

khảo sát trước mổ các nhánh xuyên vùng bụng. Thơng qua những hình ảnh

của MDCT, chúng ta sẽ biết được số lượng các nhánh xuyên, vị trí các nhánh

xuyên, hành trình trong cơ và phân bố trong mơ dưới da, đường kính của các

nhánh. Độ nhạy và độ đặc hiệu của MDCT là 100% tại thời điểm xác định vị

trí của nhánh xuyên trội và đây cũng là kỹ thuật có thể tái hiện lại (dựng lại

hình ảnh). Đặc điểm sau đặc biệt tiện dụng, vì nó nghĩa là có thể lưu lại thơng

tin hình ảnh trên CD, ổ cứng hoặc thẻ nhớ và xem lại vào thời điểm phẫu



30

thuật. Bên cạnh đó, sự tăng độ phân giải khơng gian của MDCT cho phép

quan sát hình ảnh ở nhiều mặt phẳng với độ chính xác cao và tái tạo hình ảnh

3D, tạo ra hình ảnh 3 chiều của các nhánh xuyên. Một lợi thế khác là MDCT

cũng cung cấp những hình ảnh giải phẫu của khu vực chụp. Điều này đặc biệt

hữu ích ở những bệnh nhân đã phẫu thuật trước đó bởi vì nó giúp xác định bất kỳ

thay đổi nào có thể xảy ra trong vùng được cấp máu và mô xung quanh. Cũng

cần phải nói rằng, MDCT có thể được thực hiện một cách nhanh chóng, các hình

ảnh thu được chỉ trong 1 thời gian ngắn. Chất lượng của hình ảnh vượt trội so

với MRI, đặc biệt trong khả năng tái tạo hình ảnh 3 chiều. Với những ưu điểm

đó, MDCT đã giúp giảm thời gian mổ và giảm biến chứng [80], [81].

Bên cạnh nhiều ưu điểm như đã nói, MDCT cũng có một số nhược

điểm. Hạn chế đầu tiên đó là bệnh nhân phải chiụ tia xạ. Hạn chế thứ 2 là cần

thiết lập đường truyền tĩnh mạch để bơm thuốc cản quang gây ra nguy cơ

phản ứng dị ứng và gây ra sự khó chịu cho bệnh nhân [82].

Trong việc khảo sát nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu trước

mổ tái tạo vú, các báo cáo ban đầu của Masia J. và CS, Alonso - Burgos A. và

CS cho thấy tỉ lệ chính xác 100% giữa phát hiện trong mổ và phát hiện trước

mổ [81], [83]. Bao gồm vị trí của nhánh xuyên, hành trình của cuống mạch và

mối liên quan của nó với cấu trúc giải phẫu xung quanh. Điều này tiếp tục đã

được khẳng định trong các cơng trình nghiên cứu về sau [80], [84], [85]. So

với MRI, MDCT phát hiện các nhánh xuyên với kích thước nhỏ chính xác

hơn [82]. Sử dụng MDCT trong tái tạo vú bằng nhánh xuyên động mạch

thượng vị dưới sâu giúp giảm thời gian mổ 90 - 100 phút nếu có kèm khảo sát

trước đó bằng siêu âm Doppler cầm tay, và 76 phút nếu trước đó có làm siêu

âm Doppler màu [86]. Casey W. J. và CS so sánh việc sử dụng siêu âm

Doppler cầm tay và MDCT trong tái tạo vú bằng vạt da nhánh xuyên động

mạch thượng vị dưới sâu, 186 vạt dùng siêu âm Doppler cầm tay và 100 vạt

dùng MDCT có thời gian mổ trung bình lần lượt là 459 và 370 phút [79].



31

1.4.5. Nghiên cứu giải phẫu vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới

sâu và ứng dụng trong tái tạo vú

1.4.5.1. Nghiên cứu giải phẫu

Trên thế giới, nghiên cứu về giải phẫu cấp máu cho vạt ngang bụng đầu

tiên được tiến hành bởi Scheflan M. và CS năm 1983 [63], [64], sau đó đã

được làm rõ hơn với cơng trình nghiên cứu của Hartramf C. R. [37]. Tiếp theo

sau, một số tác giả khác đã có những nghiên cứu giải phẫu chi tiết hơn về hệ

thống động mạch thượng vị dưới sâu như Boyd J. B. và CS năm 1984, Moon

H. K. và CS năm 1988, Tuominen H. P. năm 1992 [8], [9], [59]. Năm 1993,

Itoh Y. và Arai K. chỉ ra rằng động mạch thượng vị sâu tách thành 2 nhánh

trong và ngoài, và phần lớn nhánh xuyên xuất phát từ nhánh ngoài [10]. Năm

1994 Allen R. J. và CS mô tả sự cấp máu của vạt DIEP dựa trên một vài

nhánh xuyên của nó [7]. Năm 2004 Munhoz A. M. cũng chỉ ra trong nghiên

cứu của mình nên chọn nhánh xuyên tách ra nhánh ngoài của động mạch

thượng vị dưới sẽ rút ngắn được thời gian phẫu tích trong cơ [11]. Năm 2006,

Holm C. và CS cho rằng nên có sự thay đổi về cách phân vùng tưới máu của

nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu theo Harmanpf, theo các tác giả

này thì vùng III được tưới máu tốt hơn vùng II từ nhánh xuyên xuất phát từ

nhánh bên của động mạch thượng vị dưới sâu [65]. Như vậy những nghiên

cứu về giải phẫu vẫn chưa có sự thống nhất về phân vùng tưới máu của vạt,

sự phân chia các nhánh của động mạch thượng vị dưới sâu và phân bố các

nhánh xuyên của nó.

Ở Việt Nam, qua tìm hiểu chúng tơi nhận thấy có một số tác giả có mơ

tả về hệ động mạch thượng vị nhưng chưa mô tả cụ thể về đặc điểm của các

nhánh xuyên, ảnh hưởng của sự lựa chọn nhánh xuyên đến phân vùng tưới

máu của vạt [87]… Do vậy trong đề tài này chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu về

các đặc điểm giải phẫu, sự tưới máu của các nhánh xuyên động mạch thượng

vị dưới sâu từ đó làm cơ sở cho việc áp dụng vạt trên lâm sàng.



32

1.4.5.2. Nghiên cứu ứng dụng vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị

dưới sâu trong tái tạo vú

Năm 1989, Koshima I. và CS thông báo lần đầu tiên áp dụng thành

công trên lâm sàng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới trong che phủ

khuyết hổng vùng hầu họng [6]. Đến năm 1992, Allen R. J. và CS lần đầu tiên

mô tả ứng dụng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu trong tái tạo

vú [7]. Năm 1994, Bloodel P. N. và CS mô tả việc sử dụng vạt DIEP với 2

cuống mạch trong tái tạo vú với kết quả tốt [88]. Sau đó nhiều cơng trình

nghiên cứu về ứng dụng vạt DIEP trong tái tạo vú được nhiều tác giả khác lần

lượt công bố. Năm 2004, Guerra A. B. và CS thông báo sử dụng 280 vạt DIEP

để tái tạo vú đồng thời cả 2 bên với tỉ lệ thành công 98,2% [89]. Cũng trong

năm này Gill P. S. và CS thông báo sử dụng 758 vạt DIEP trong tái tạo vú

trong vòng 10 năm với tỉ lệ thành công lên tới 97% [90].

Ở Việt Nam vạt DIEP được sử dụng trong tái tạo vú từ năm 1997 và đã

có 1 số cơng bố về kết quả của dạng vạt này [17]. Tuy nhiên số lượng vạt sử

dụng trong các cơng bố này còn khá khiêm tốn nhưng cũng cho thấy kết quả

khá khích lệ, với tỉ lệ thành công 80%.

1.4.5.3. Nghiên cứu ứng dụng vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị

dưới sâu kết hợp ghép hạch bẹn trong tái tạo vú và điều trị phù bạch mạch

đồng thời

Trên thế giới việc hợp taí tạo vú đồng thời điều trị phù bạch mạch chi

trên sau phẫu thuật ung thư vú bằng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị

dưới sâu kèm ghép hạch bẹn được mô tả lần đầu bởi Saaristo A. M. và CS

năm 2012 với kết quả đầy hứa hẹn trên 9 bệnh nhân [53]. Năm 2013, Dancey

A. và CS báo cáo 18 trường hợp sử sụng DIEP kết hợp ghép hạch bẹn với tỉ lệ

cải thiện triệu chứng phù bạch mạch là 100% các trường hợp [50]. Một

nghiên cứu tiếp theo năm 2015 của Nguyen A. T và CS đã chỉ ra những lợi

ích tương tự ở bệnh nhân sử dụng kết hợp vạt DIEP với ghép hạch bẹn để tái



33

tạo vú và điều trị phù bạch mạch đồng thời. Ngoài ra, tác giả cũng trình bày

các phương án chọn lựa cuống mạch nhận cũng như vị trí bên lấy hạch bẹn

phù hợp [16]. Năm 2016, De Brucker B. B. và CS báo cáo 25 trường hợp kết

hợp DIEP với ghép hạch bẹn với tỉ lệ cải thiện triệu chứng là 21/25 ca [51].

Năm 2017 Akita S. và CS báo cáo 27 bệnh nhân phù bạch mạch sau phẫu

thuật ung thư vú được điều trị bằng ghép hạch bẹn, trong đó có 13 bệnh nhân

có kết hợp tái tạo vú bằng vạt DIEP. Tác giả nhận thấy rằng ở nhóm sử dụng

vạt DIEP kết hợp ghép hạch bẹn, chức năng bạch mạch được cải thiện so với

các bệnh nhân chỉ ghép hạch bẹn. Ngồi ra, ở nhóm bệnh nhân kết hợp vạt

DIEP và ghép hạch bẹn, các bệnh nhân giảm được việc điều trị nội khoa hỗ

trợ [91]. Từ nghiên cứu này cho gợi ý đến lợi ích có thể đạt được khi đem mơ

khoẻ mạnh có máu ni tốt thay thế cho mô kém nuôi dưỡng và thường là do

ảnh hưởng của việc xạ trị, việc thay thế này góp phần cải thiện kết quả ghép

hạch. Chang E. I. và CS trong 1 báo cáo năm 2018 cũng cho thấy độ tin cậy

và hiệu quả khi sử dụng đồng thời vạt DIEP và ghép hạch bẹn. Đồng thời tác

giả cũng đưa ra vai trò của việc khảo sát hạch bẹn bằng phương tiện chẩn

dốn hình ảnh trước mổmổ, đặc biệt là MDCT [13].

Ở Việt Nam cho đến nay, chưa có báo cáo nào về việc kết hợp sử dụng

vạt DIEP và ghép hạch bẹn trong tái tạo vú và điều trị phù bạch mạch đồng

thời.

Tóm lại, qua các nghiên cứu giải phẫu và ứng dụng trên lâm sàng vạt

nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu của các tác giả trên thế giới và ở

Việt Nam cho thấy: Trên thế giới đã có nhiều cơng trình nghiên cứu về sự tưới

máu của vạt, sự ảnh hưởng của sự lựa chọn nhánh xuyên đến phân vùng tưới

máu của vạt…Tuy nhiên chưa có cơng trình nào mơ tả về vị trí của nhánh

xun chính cấp máu cho vạt, số lượng các nhánh xuyên xuất phát ở mỗi

nhánh của động mạch thượng vị dưới sâu. Ngoài ra, sự phân loại các vùng

theo mức độ tưới máu cũng chưa thống nhất. Ở Việt Nam, chưa có cơng trình



34

nghiên cứu nào mơ tả chi tiết về các đặc điểm của các nhánh xuyên của động

mạch thượng vị dưới sâu. Ngồi ra số lượng các thơng báo về ứng dụng trên

lâm sàng của vạt DIEP trong nước còn rất ít, đặc biệt chưa có báo cáo về việc

sử dụng vạt DIEP kết hợp ghép hạch bẹn trong tái tạo vú và điều trị phù bạch

mạch sau phẫu thuật ung thư vú. Từ thực tế đó cho thấy việc nghiên cứu giải

phẫu của các nhánh xuyên của động mạch thượng vị dưới sâu và ứng dụng

của vạt DIEP trên lâm sàng trong điều trị di chứng sau phẫu thuật cắt bỏ ung

thư vú vẫn cần thiết nhằm góp phần hoàn thiện kỹ thuật tái tạo vú bằng vạt

DIEP, cũng như mở ra hướng mới cho việc điều trị phù bạch mạch kết hợp

trong hoàn cảnh thực tế của nước ta.



CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1. Nghiên cứu giải phẫu

2.1.1.1. Nghiên cứu giải phẫu trên xác

Nghiên cứu đặc điểm giải phẫu của các nhánh xuyên động mạch

thượng vị dưới sâu được tiến hành trên xác tươi của người Việt trưởng thành

được bảo quản lạnh - 300 C tại Bộ môn Giải phẫu của Đại học Y Dược Thành

phố Hồ Chí Minh.

Mẫu: n = 20 xác (40 vạt).

Thời gian: 11.2011 - 01.2016

Tiêu chuẩn lựa chọn

Mẫu nghiên cứu thoả mãn các tiêu chuẩn sau:

+ Xác người Việt  18 tuổi.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Nguồn: theo Wong C. và CS (2009) [66].

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×