Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

5

bảo tồn cả cơ ngực lớn và cơ ngực bé [23]. Đây là phẫu thuật ung thư vú

thường được dùng hiện nay.

1.1.3. Phẫu thuật bảo tồn vú

Có 2 kỹ thuật bảo tồn vú ra đời: Veronesi U. và CS đề nghị cắt một góc

¼ vú có mang bướu cùng với da bao phủ phía trên, cân cơ ngực lớn phía dưới

và nạo hạch nách [24], [25]. Fisher B. và CS đề nghị cắt bỏ u và nạo hạch

nách [26]. Cắt góc ¼ vú bao gồm cả u vú với diện cắt mơ vú bình thường

cách u ít nhất từ 2 cm. Cắt bỏ u vú là bao gồm lấy cả u và có diện cắt mơ vú

bình thường cách bướu  1 cm [27].

Nhờ tiến bộ của xạ trị, phẫu thuật bảo tồn vú ngày càng được áp dụng

rộng rãi, nhiều thử nghiệm lâm sàng được nghiên cứu và đưa ra kết luận: đối

với ung thư vú giai đoạn sớm, phẫu thuật bảo tồn đưa lại tỷ lệ sống thêm

tương đương so với phẫu thuật cắt tuyến vú triệt căn cải tiến, trong khi mang

lại kết quả thẩm mỹ tốt hơn. Tuy nhiên, chỉ định điều trị phẫu thuật bảo tồn

trong ung thư vú chỉ dành cho những trường hợp khối u còn nhỏ, có kích

thước thơng thường < 2 cm [25], [28].

1.1.4. Cắt vú tiết kiệm da

Toth B. A. và Lappert P. là những người đầu tiên mô tả phẫu thuật cắt

vú tiết kiệm da vào năm 1991. Kỹ thuật này được áp dụng cho ung thư vú giai

đoạn sớm, đi cùng với nó là phẫu thuật tái tạo vú tức thì. Cắt vú tiết kiệm da

bao gồm cắt bỏ toàn bộ quầng núm vú, da trên diện u, toàn bộ tuyến vú và nạo

hạch nách [29]. Nghiên cứu của Kroll S. S. và CS trong 87 trường hợp cắt

tuyến vú tiết kiệm da và tái tạo vú tức thì, theo dõi trung bình 23,1 tháng thì

thấy rằng tỷ lệ tái phát là 1,2 % [30]. Hiện nay cắt vú tiết kiệm da trở nên phổ

biến khi tái tạo vú tức thì: nó cải thiện kết quả thẩm mỹ do bảo tồn được phần

da bọc tuyến vú, giữ được nếp lằn vú và khuôn dạng của vú khi tái tạo vú.

1.1.5. Cắt vú bảo tồn quầng núm vú

Trước đây, với quan niệm cho rằng, quầng núm vú là nơi hay bị di căn



6

hoặc xâm lấn, do vậy bắt buộc phải cắt toàn bộ quầng núm vú. Tuy nhiên khi

tái tạo vú sau mổ, bảo tồn quầng núm vú được đặt ra nhằm mang lại kết quả

thẩm mỹ tối ưu mà không ảnh hưởng đến kết quả điều trị bệnh ung thư.

Nghiên cứu của Vlajcic Z. và CS cho thấy tỷ lệ núm vú bị xâm lấn là 23%,

tuy nhiên nếu khối u < 2,5 cm và khoảng cách từ rìa u đến núm vú > 4 cm thì

tỷ lệ di căn vi thể tại núm vú chỉ còn 0,9%, qua đó tác giả cho rằng, chỉ nên

bảo tồn quầng núm vú cho khối u kích thước dưới 2,5 cm và rìa u cách núm

vú > 4 cm [31].

1.2. PHẪU THUẬT TÁI TẠO VÚ SAU PHẪU THUẬT CẮT BỎ UNG

THƯ VÚ

1.2.1. Chỉ định và chống chỉ định

1.2.1.1. Chỉ định

Phần lớn bệnh nhân sau khi cắt bỏ ung thư vú đều có thể tái tạo vú.

Trong đó các bệnh nhân ở giai đoạn sớm (0, I, II) có thể tái tạo vú tức thì, các

trường hợp còn lại có thể tái tạo vú trì hỗn [32].

1.2.1.2. Chống chỉ định

Một số trường hợp sau cắt bỏ u vú khơng có chỉ định tái tạo vú bao

gồm:

- Các bệnh nhân có tình trạng sức khoẻ kém, không chịu đựng được cuộc

phẫu thuật. Các bệnh nhân này có thể xem xét phẫu thuật khi tình trạng

sức khoẻ được cải thiện.

- Các bệnh nhân có tiên lượng sống kém, ở giai đoạn quá muộn, có di

căn xa.

1.2.2. Lựa chọn thời điểm tái tạo vú

1.2.2.1. Tái tạo vú tức thì

Tái tạo vú tức thì là phẫu thuật tái tạo vú cùng thời điểm với phẫu

thuật cắt bỏ ung thư vú. Đây là sự lựa chọn cho các trường hợp carcinome tại

chỗ, ung thư vú giai đoạn I, II và cắt bỏ vú dự phòng [33].



7

Ưu điểm:

- Bệnh nhân ít bị căng thẳng về mặt tâm lý, giữ được nguyên vẹn hình thể.

- Về mặt thẩm mỹ, tái tạo vú tức thì mang lại kết quả tốt nhờ các lợi

điểm của phẫu thuật cắt bỏ ung thư vú tiết kiệm da: Da còn độ chun giãn tốt

mà chưa bị co thắt và hình thành sẹo, bó mạch vú trong và ngực lưng dễ phẫu

tích hơn vì chưa bị ảnh hưởng bởi mô sẹo, nếp dưới vú dễ dàng xác định

được. Da còn được bảo tồn nhiều nên cần đảo da ít hơn. Đường nét và độ nhơ

của vú sẽ dễ tạo lại hơn [34].

- Giảm số lần mổ và tốn ít chi phí hơn [35].

Nhược điểm:

- Có thể làm chậm trễ các biện pháp điều trị hỗ trợ do biến chứng chậm

lành vết thương sau mổ có thể xảy ra trong một số ít ca. Tuy nhiên hầu hết các

nghiên cứu cho rằng tái tạo vú tức thì khơng làm chậm trễ điều trị sau mổ.

- Ngồi ra, nếu diện cắt còn bướu cần xạ trị sau mổ có thể cũng ảnh

hưởng đến kết quả thẩm mỹ của tái tạo vú tức thì.

Ngồi tái tạo vú tức thì ngay cùng thời điểm với phẫu thuật cắt bỏ ung

thư vú, còn có dạng khác gọi là tái tạo vú tức thì trì hỗn (delayed immediate

breast reconstruction) thực hiện sau khi phẫu thuật cắt bỏ ung thư vú 2-3 tuần,

khi có kết quả chắc chắn về mơ học đối với các trường hợp có nghi ngờ cần

xạ trị hay khơng [33], [ 36].

1.2.2.2. Tái tạo vú trì hỗn

Tái tạo vú trì hỗn là phẫu thuật tái tạo vú sau khi đã phẫu thuật cắt bỏ

ung thư vú ở bất cứ thời điểm nào khi vết mổ đã lành và các điều trị hỗ trợ đã

hoàn tất. Các thay đổi ở da do xạ trị phải ổn định và các xáo trộn do huyết học

do hoá trị phải trở lại bình thường trước khi bắt đầu tái tạo vú, thơng thường

khoảng 6 - 12 tháng sau khi hoá trị, xạ trị [33] .

Tái tạo vú trì hỗn có các lợi điểm:

- Vấn đề xạ trị đã được giải quyết nên sự lựa chọn phương pháp tái tạo

chính xác hơn.



8

- Có nghiên cứu cho thấy tái tạo vú trì hỗn ít biến chứng hơn tái tạo vú

tức thì.

Các điểm bất lợi của tái tạo vú trì hỗn gồm:

- Thời gian điều trị kéo dài.

- Kết quả thẩm mỹ có thể kém hơn vì vỏ bọc da của vú khơng được bảo

tồn.

- Tốn chi phí nhiều hơn.

1.2.3. Các phương pháp phẫu thuật tái tạo vú

1.2.3.1. Tái tạo vú bằng túi độn

Để sử dụng túi độn thì đòi hỏi phải đáp ứng một số điều kiện như tình

trạng da tại chỗ còn tốt khơng bị hư hại và có độ chun giãn cần thiết để có thể

đặt túi độn bên dưới, cơ ngực lớn vẫn còn nguyên vẹn. Đặt túi độn chỉ định

cho các trường hợp có mơ mềm tại chỗ tốt mà bệnh nhân khơng muốn dùng

mơ tự thân hoặc tình trạng sức khoẻ bệnh nhân không phù hợp cho việc tái tạo

bằng mơ tự thân. Phương pháp này thích hợp với các trường hợp vú còn lại

nhỏ đến trung bình và không chảy xệ hoặc trường hợp phẫu thuật cắt bỏ ung

thư vú cả 2 bên. Không nên dùng phương pháp này để tái tạo vú tức thì khi có

dự định xạ trị sau mổ [32], [34].

Trong trường hợp cơ ngực lớn còn ngun vẹn, da và mơ mềm tại chỗ

còn tốt nhưng khơng có độ chun giãn cần thiết để có thể đặt túi độn ngay từ

đầu hoặc muốn tạo ra tình trạng dư da để vú tái tạo xệ hơn thì có thể tái tạo vú

bằng túi độn qua 2 giai đoạn: Giai đoạn đầu tiên tiến hành đặt túi giãn da, giai

đoạn thứ hai thay túi giãn da bằng túi độn. Trong giai đoạn đầu tiên, túi giãn

da được đặt ở khoang sau này dự định để dặt túi độn, phía sau cơ ngực lớn.

Trong giai đoạn thứ hai, sau khoảng thời gian 3 - 6 tháng, túi giãn da sẽ được

thay thế bằng túi độn.

Ngoài ra, để khắc phục nhược điểm da cần phải có độ chun giãn vừa đủ

của phương pháp đặt túi độn đơn thuần và mất khoảng thời gian dài của



9

phương pháp đặt túi độn sau khi đặt túi giãn da, một loại túi mới đã được sử

dụng trong tái tạo vú bao gồm cả 2 chức năng túi độn và giãn da là túi Becker.

Túi độn dạng này bao gồm 2 phần: 1 phần chứa silicone dạng gel và phần còn

lại có thể làm đầy dần bằng nước muối sinh lý cho đến khi đạt được thể tích

như yêu cầu.

1.2.3.2. Tái tạo vú bằng vạt da cơ lưng rộng

Vạt da cơ lưng rộng tiêu chuẩn là vạt đầu tiên được sử dụng trong tái

tạo vú, vạt bao gồm cơ lưng rộng và một đảo da ở bên trên, vạt này có thể sử

dụng để tái tạo vú một phần hay toàn bộ vú. Vú được tái tạo bằng cách xoay

vạt da - cơ lưng rộng cùng bên.

Chỉ định đối với vạt này dành cho các bệnh nhân có vú tương đối nhỏ

đến trung bình hoặc kết hợp với dùng túi độn hoặc dùng vạt da cơ lưng rộng

mở rộng trong các bệnh nhân vú to mà không dùng được mô ở vùng bụng để

tái tạo vú hoặc bệnh nhân có nguy cơ cao khi dùng vạt vùng bụng (tiểu

đường, nghiện thuốc lá, béo phì, lớn tuổi) hoặc trường hợp tái tạo với túi độn

hoặc với các vạt khác thất bại. Chống chỉ định kỹ thuật này đối với bệnh nhân

có tiền căn mổ có cắt mạch máu cung cấp cho cơ lưng rộng, chia cắt cơ lưng

rộng (như mở lồng ngực sau bên), trường hợp cơ bị teo do phẫu thuật hoặc xạ

trị, bệnh nhân nằm nghiêng không được [3], [32], [34].

1.2.3.3. Tái tạo vú bằng vạt da cơ thẳng bụng cuống mạch liền

Được mô tả lần đầu bởi Hartrampf C. R. năm 1982, vạt da - cơ thẳng

bụng (Transverse rectus abdominis musculocutaneous: TRAM) bao gồm phần

da hình trám dưới rốn và phần cơ thẳng bụng [37]. Cơ thẳng bụng được cấp

máu bởi 2 cuống mạch trội là động mạch thượng vị trên và động mạch thượng

vị dưới sâu. Cấp máu cho phần da của vạt là các nhánh xuyên đến từ cơ thẳng

bụng. Vạt da - cơ thẳng bụng có cuống sử dụng cuống là cuống mạch thượng

vị trên. Sau khi bóc tách vạt chuyển đến vùng ngực qua đường hầm dưới dada

thành bụng.



10

Vạt TRAM được chỉ định đối với các trường hợp bệnh nhân có mong

muốn tái tạo vú bằng mơ tự thân và có tình trạng thừa da mỡ thành bụng, có

vú đối bên to xệ hoặc có khuyết hổng rộng sau cắt u vú, thất bại với đặt túi

độn. Trong trường hợp cần dùng lượng mơ lớn thì có thể dùng vạt TRAM 2

cuống. Chống chỉ định dùng vạt TRAM khi bệnh nhân có tiền căn phẫu thuật

vùng bụng đã cắt cuống mạch nuôi cơ thẳng bụng như mổ hở cắt túi mật hoặc

đã dùng động mạch ngực trong để nối tắt động mạch vành hoặc làm phẫu

thuật thẩm mỹ bụng có cắt các nhánh mạch máu xuyên đến da. Quá béo phì

(tỉ lệ trọng lượng/bình phương chiều cao  54) cũng là một chống chỉ định,

người ta đã thấy rõ các biến chứng có liên hệ trực tiếp đến chỉ số khối lượng

cơ thể cao và kết quả thẩm mỹ cũng hạn chế vì vóc dáng béo phì của cơ thể.

Đối với các bệnh nhân này bụng có nhiều mỡ, mạch máu nuôi da và mô mỡ

dưới da kém dẫn tới hoại tử một phần vạt hoặc hoại tử mỡ. Các bệnh nhân

bụng phệ (có thể tích khoang bụng lớn) cũng là một chống chỉ định đối với

vạt TRAM. Các chống chỉ định tương đối khác như: bệnh mạch máu, bệnh

phổi tắc nghẽn mạn tính, hoặc nghiện thuốc lá. Đối với bệnh nhân nghiện

thuốc lá thì có thể dùng vạt TRAM trì hỗn (delay) hoặc nối vi phẫu tăng

cường.

1.2.3.4. Tái tạo vú bằng vạt da cơ thẳng bụng tự do

Vạt TRAM tự do trong tái tạo vú được Holmstrưm H. mơ tả lần đầu vào

năm 1979, vạt chỉ lấy phần dưới của cơ thẳng bụng và sử dụng cuống mạch là

bó mạch thượng vị dưới sâu vì vậy vạt được cấp máu tốt hơn so với khi dùng

dưới dạng cuống mạch liền [4]. Sau khi được giới thiệu, vạt da cơ thẳng bụng

tự do được sử dụng ngày càng phổ biến và được xem như là tiêu chuẩn vàng

trong tái tạo vú trong 1 giai đoạn nhất định. Vạt TRAM tự do càng ngày càng

được cải tiến để giảm hơn nữa tổn thương tại nơi cho vạt bằng cách lấy ít cơ

hơn, gọi là vạt TRAM tiết kiệm cơ (Muscle sparing TRAM flap). Thay vì lấy



11

½ dưới của cơ thẳng bụng, chỉ lấy 1 ít cơ kèm theo các nhánh xuyên cấp máu

cho vạt, số lượng nhánh xuyên kèm theo tuỳ thuộc vào kích thước vạt cần lấy.

1.2.3.5. Tái tạo vú bằng vạt da mỡ động mạch thượng vị dưới nông

Trong tái tạo vú, vạt động mạch thượng vị dưới nông (superficial inferior

epigastric artery flap: SIEA) được báo cáo sử dụng từ năm 1991, tuy nhiên

trong thực tế vạt SIEA ít được lựa chọn so với vạt TRAM và DIEP vì cuống

mạch kích thước nhỏ và giải phẫu không ổn định [38]. Nghiên cứu giải phẫu

cho thấy, động mạch thượng vị dưới nơng chỉ có ở 2/3 bệnh nhân [38]. Ở kích

thước phù hợp, việc lựa chọn vạt SIEA sẽ giúp bảo tồn tối đa thành bụng,

tránh được tình trạng yếu, dãn và thốt vị thành bụng. Nhiều tác giả khuyến

cáo có thể lựa chọn vạt SIEA khi đường kính ngồi của động mạch thượng vị

dưới nơng ≥ 1,5 mm để đảm bảo cho tưới máu vạt [39]. Menn Z và CS nghiên

cứu 278 trường hợp và nhận thấy chỉ có 31% trường hợp có động mạch

thượng vị dưới nơng đường kính ≥ 1,5 m [40].

1.2.3.6. Tái tạo vú bằng vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu

Vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu là vạt da - mỡ ở thành

bụng trước nuôi dưỡng bởi nhánh xuyên cơ trực tiếp của động mạch thượng

vị dưới sâu, được Koshima I. và CS thông báo lần đầu tiên vào năm 1989 [6].

Năm 1994, Allen R. J. và CS lần đầu tiên thông báo việc tái tạo vú bằng vạt

nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu (Deep inferior epigastric

perforator: DIEP) [7]. Sau đó Blondeel P. N. cải thiện sự hiểu biết về vạt và

phổ biến vạt trong tái tạo vú [41]. Hiện nay phương pháp này được xem như

là sự lựa chọn hàng đầu trong việc tái tạo vú ở các trung tâm lớn trên thế giới

[33], [42].

Chỉ định, chống chỉ định:

Chỉ định vạt da nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu trong tái

tạo vú tức thì hoặc trì hỗn, khi vú còn lại có thể tích khá lớn, hoặc tái tạo vú

2 bên, thành bụng có da – mỡ thừa và nơi cho vạt có thể khâu đóng trực tiếp



12

như trong trường hợp tạo hình thành bụng. Chống chỉ định vạt DIEP khi

không dư da và mỡ thành bụng trước dưới, tiền sử đã thực hiện vạt TRAM,

vạt DIEP hoặc tạo hình thành bụng, nghiện thuốc lá khơng ngừng được, có

những vết sẹo vùng quanh rốn và khảo sát cho thấy khơng còn nhánh xun

của động mạch thượng vị dưới sâu để có thể sử dụng vạt DIEP.

Ưu điểm:

- Vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu về cơ bản có tất cả

những ưu điểm của vạt da cơ thẳng bụng và với nhựơc điểm thì ít hơn.

Nó cung cấp một lượng mơ lớn được tưới máu tốt.

- Lợi điểm đầu tiên của vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu

so với vạt da cơ thẳng bụng là giảm tỉ lệ tổn thương nơi cho vạt vì bảo

tồn được bao cân và cơ thẳng bụng, và có thể cả thần kinh chi phối cơ

thẳng bụng. Vì vậy độ vững chắc của thành bụng được đảm bảo.

- Vấn đề bất cân xứng thành bụng và rốn gặp trong vạt da cơ thẳng bụng

được loại bỏ.

- Cho kết quả rất tự nhiên, lâu dài, tính thẩm mỹ cao. Vú bên tái tạo có màu

sắc, độ mềm và tiến triển theo thời gian khá tương đồng với vú bên đối

diện.

- Cuống mạch vạt có thể dài hơn so với vạt da cơ thẳng bụng, từ đó tính

linh hoạt khi tạo hình vú cao hơn.

- Ít đau hơn và thời gian nằm viện giảm so với vạt da cơ thẳng bụng, dẫn

đến chi phí có thể thấp hơn. Hơn nữa bệnh nhân có thể nhanh chóng trở

lại với công việc và sinh hoạt thường ngày.

- Đồng thời thực hiện được 2 mục tiêu tái tạo vú và tạo hình thành bụng,

với vết sẹo ở bụng có thể che dấu.

Nhược điểm

- Thời gian mổ kéo dài.

- Là một kỹ thuật tương đối khó

- Đòi hỏi cao về thao tác kỹ thuật cũng như phương tiện trang thiết bị

1.3. PHÙ BẠCH MẠCH VÀ TÁI TẠO VÚ



13

1.3.1. Phù bạch mạch chi trên sau phẫu thuật cắt bỏ ung thư vú

Phù bạch mạch phân thành 2 dạng là nguyên phát và thứ phát. Phù bạch

mạch nguyên phát là bệnh lý bẩm sinh (di truyền, phát triển bất thường) hoặc

nguồn gốc không rõ nguyên nhân. Phù bạch mạch thứ phát xảy ra sau tổn

thương các cấu trúc bạch huyết, thường sau phẫu thuật, nhiễm trùng, và tia xạ.

Ở các nước phát triển, việc điều trị ung thư vú kèm nạo hạch và /hoặc xạ trị

cho hệ thống bạch huyết là nguyên nhân chủ yếu của phù bạch mạch. Đã có

những báo cáo cho thấy phù bạch mạch xảy ra trong vòng vài ngày và đến 30

năm sau khi điều trị ung thư vú. Ngoài ra, 80% bệnh nhân khởi phát triệu

chứng trong vòng 3 năm sau phẫu thuật cũng như những bệnh nhân còn lại có

tỷ lệ 1% phù bạch mạch mỗi năm [43]. Trong ung thư vú, tỷ lệ phù bạch mạch

khoảng từ 10% đến 40% cách đây hơn 30 năm, trong vòng 10 năm trở lại đây

nhờ vào những tiến bộ trong phẫu thuật điều trị ung thư vú mà tỉ lệ này giảm

xuống còn 5% đến 10 % [44]. Tỉ lệ phù bạch mạch tăng ở các bệnh nhân có

nạo hạch kèm xạ trị [45].

Đây là hậu quả đáng sợ của điều trị ung thư vú, nó gây khó chịu cho

bệnh nhân vì sự biến dạng tại chỗ của phù bạch mạch khơng thể dùng quần áo

bình thường để che dấu được, làm cho bệnh nhân thường xuyên có cảm giác

về bệnh tình của họ, mất tự tin về cơ thể, giảm thể lực, mệt mỏi và suy giảm

tâm lý… từ đó làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân. Bên cạnh đó, phù

bạch mạch có thể dẫn đến những hậu quả nguy hiểm như tình trạng nhiễm

trùng (viêm bạch mạch) lặp đi lặp lại, lymphangiosarcoma…

1.3.2. Phù bạch mạch sau tái tạo vú

Mặc dù tái tạo vú đã trở nên phổ biến, tuy nhiên có ít dữ liệu đề cập đến

mối liên quan giữa tái tạo vú và phù bạch mạch được báo cáo. Trong khi đó

lại có những lo ngại vô căn cứ rằng việc tái tạo vú trì hỗn có sự phẫu tích tại

vùng nách đã mổ trước đó và / hoặc đã được tia xạ có thể lằm tăng nguy cơ

phù bạch mạch. Chang D. W. và CS theo dõi 444 trường hợp tái tạo vú trì



14

hỗn ở bệnh nhân khơng có tình trạng phù bạch mạch trước đó thì ghi nhận tỉ

lệ phù bạch mạch sau tái tạo vú thấp, chỉ có 3,6% trường hợp xuất hiện phù

bạch mạch sau tái tạo vú. Ngoài ra tác giả cũng nhận thấy khơng có sự khác

biệt có ý nghĩa tỉ lệ phù bạch mạch giữa các nhóm tái tạo vú bằng vạt tự do và

vạt da cơ lưng rộng, sử dụng cuống mạch tiếp nhận là bó mạch vú trong và bó

bạch ngực lưng, đã có nạo hạch nách và khơng nạo hạch nách, đã có xạ trị và

không xạ trị [12].

1.3.3. Ảnh hưởng cua tái tạo vú đến tình trạng phù bạch mạch trước đó

Khi theo dõi tái tạo vú trì hỗn ở 38 bệnh nhân đã có tình trạng phù

bạch mạch do phẫu thuật điều trị ung thư vú, Chang D. W. và CS ghi nhận có

23,7% (9/38) các trường hợp tình trạng phù bạch mạch cải thiện sau tái tạo vú

và khơng có trường hợp nào phù bạch mạch nặng hơn sau khi tái tạo vú [12].

Siotos C. và CS tổng hợp các báo cáo trong y văn trước tháng 11 năm 2016

cho thấy có 22% trường hợp bệnh nhân cải thiện tình trạng phù bạch mạch

sau tái tạo vú trì hỗn bằng mơ tự nhân đơn thuần [46]. Lee K. T. và CS theo

dõi ở trên 537 bệnh nhân phẫu thuật ung thư vú có tái tạo vú tức thì, các tác

giả ghi nhận tỉ lệ xuất hiện phù bạch mạch trong vòng 2 năm sau mổ ở nhóm

tái tạo vú bằng mơ tự thân thấp hơn ở nhóm tái tạo vú bằng túi độn (4,2% và

9,3%). Qua phân tích kết quả Lee K. T. và CS cho rằng việc tái tạo vú bàng

mô tự thân sẽ làm giảm nguy cơ xuất hiện phù bạch mạch ở bệnh nhân tái tạo

vú tức thì bằng mô tự thân [47]. Trên nghiên cứu lâm sàng, việc tái lập lưu

thông bạch mạch sau chuyển vạt tự do đã được chứng minh bằng kỹ thuật

phóng xạ hạt nhân [48]. Trên nghiên cứu thực nghiệm, lưu thông bạch mạch

ghi nhận được phục hồi khi chuyển vạt da cơ thẳng bụng [49]. Vì vậy, nó

khơng phải là đáng ngạc nhiên rằng tái tạo vú trì hỗn bằng mơ tự thân có thể

giúp giảm mức độ nghiêm trọng của phù bạch mạch. Chang D. W. và CS cho

rằng việc đem mẫu mô khoẻ mạnh, tưới máu tốt vào vùng tổn thương có thể



15

đã thúc đẩy sự tái sinh của các mạch bạch huyết giúp bệnh nhân cải thiện

được các triệu chứng của phù bạch mạch [12].

1.3.4. Kết hợp tái tạo vú và ghép hạch

Ở trên bệnh nhân có nhu cầu tái tạo vú và đồng thời có cả tình trạng

phù bạch mạch, thì một trong nhưng khả năng phẫu thuật có thể đặt ra đó là

thay đổi kỹ thuật lấy vạt nhánh xuyên động mạch thương vị dưới sâu để có

thể chuyển vạt hạch bẹn có cuống ni kèm theo. Trong kỹ thuật này, các

hạch vùng bẹn có cuống ni sẽ được bao gồm trong vạt da bụng và được

chuyển đến ghép vào vùng nách. Trong thời gian gần đây, đã có khá nhiều

các báo cáo về việc kết hợp vạt nhánh xuyên động mạch thượng vị dưới sâu

và vạt hạch bẹn có cuống ni như Dancey A. (2013), De Brucker B. (2016),

Hummelink S. (2016), Saaristo A. M. (2012)… với kết quả khả quan [50],

[51], [52], [53]. Trong báo cáo tổng hợp các cơng trình liên quan đến tái tạo

vú trì hỗn ở bệnh nhân có phù bạch mạch chi trên trong y văn được đăng

trước tháng 11 năm 2016 từ các nguồn dữ liệu PubMed, Scopus, EMBASE và

Google Scholar, Siotos C. và CS rút ra được 8 bài báo liên quan. Trong đó có

1 trường hợp là báo cáo ca lâm sàng và 7 trường hợp còn lại là mô tả hàng

loạt ca với số bệnh nhân từ 3 - 38 bệnh nhân. Có 58% các trường hợp bệnh

nhân có cải thiện tình trạng phù bạch mạch sau tái tạo vú trì hỗn bằng mơ tự

thân có kèm hoặc không kèm ghép hạch, cụ thể tỉ lệ cải thiện tình trạng phù

bạch mạch là 84% các trường hợp bệnh nhân sau tái tạo vú trì hỗn bằng mơ

tự thân kết hợp ghép hạch [46].

1.4. VẠT NHÁNH XUYÊN ĐỘNG MẠCH THƯỢNG VỊ DƯỚI SÂU

1.4.1. Định nghĩa nhánh xuyên, vạt nhánh xuyên và phân loại nhánh xuyên

1.4.1.1. Định nghĩa nhánh xuyên, vạt nhánh xuyên

Cho đến nay định nghĩa chính xác về vạt nhánh xuyên vẫn còn nhiều

bàn cãi, các thuật ngữ và phân loại về vạt nhánh xuyên vẫn chưa hoàn toàn

thống nhất. Năm 2001, tại hội nghị quốc tế về vạt nhánh xuyên ở Gent,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×