Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.3: Cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô lao động

Bảng 2.3: Cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô lao động

Tải bản đầy đủ - 0trang

79



Tổng



Doanh nghiệp



DNNV



Doanh nghiệp



Tổng số

Doanh nghiệp nhà



số

100,0

100,0



lớn

1,9

41,5



V

98,1

58,5



lớn

55,5

89,7



nước

Doanh nghiệp ngoài



100,0



1,2



98,8



35,6



64,4



nhà nước

Doanh nghiệp FDI



100,0



18,8



81,2



86,1



13,9



DNNVV

44,5

10,3



(Nguồn: Tổng cục Thống kê 2018)

Sở dĩ, DNNVV có sự phát triển nhanh cả về số lượng lẫn chất lượng, trước

hết là do sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước với chủ trương mở cửa, đổi mới và hội

nhập. Điều quan trọng hơn là Đảng và Chính phủ ngày càng xác định rõ vai trò quan

trọng của khu vực kinh tế tư nhân, vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế thị

trường nhiều thành phần, từ đó tạo mơi trường pháp lý và cơ chế thơng thống,

khuyến khích các DNNVV phát triển. Chính phủ đã áp dụng một loạt chính sách

kích thích sự phát triển của DNNVV như: chính sách ưu đãi về đầu tư áp dụng

chung và thống nhất cho các loại hình doanh nghiệp trong nước, hàng loạt các

chính sách riêng về tài chính cũng đã được ban hành, từng bước tạo hành lang

pháp lý thống nhất, đồng bộ hỗ trợ DNNVV. Các DNNVV, một mặt đã nhận được

nhiều ưu đãi từ chính sách hỗ trợ tín dụng đầu tư phát triển thơng qua quỹ hỗ trợ

phát triển.



Mặt khác, các DNNVV cũng rất năng động, nhạy bén, linh hoạt sáng



tạo, dễ thích ứng và thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, phù hợp với trình độ

phát triển lực lượng sản xuất xã hội nên đã khơng ngừng lớn mạnh, góp phần to

lớn cho sự phát triển và tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện chuẩn bị tiềm lực để hội

nhập kinh tế với khu vực và thế giới.

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ

nghĩa, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đang trong giai đoạn đầu,

thì việc duy trì và phát triển kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích và phát triển



80



mạnh mẽ các DNNVV là định hướng chiến lược đúng đắn và cực kỳ quan trọng. Nó

khơng những phù hợp với quy luật khách quan và xu thế hội nhập quốc tế mà còn

mang lại lợi ích lâu dài cho đất nước.

2.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Trong những thập niên trở lại đây, sự đóng góp của DNNVV vào sự phát

triển kinh tế, tạo công ăn việc làm và thúc đẩy sự tiến bộ xã hội được ghi nhận

trên tồn thế giới, và Việt Nam cũng khơng phải là một ngoại lệ. Tại Việt Nam,

DNNVV chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số các doanh nghiệp. Tính đến năm 201 7,

nước ta đã có khoảng 507.860 DNNVV được thành lập và đăng ký kinh doanh

(Tổng cục Thống kê, 2018). Ngồi việc tăng trưởng khơng ngừng về số lượng, vai

trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân cũng ngày càng được khẳng định. Cụ

thể:

- DNNVV đóng góp khoảng 45% vào GDP, 31% vào tổng số thu ngân sách và

chiếm khoảng 35% vốn đầu tư của cộng đồng doanh nghiệp nói chung và đóng góp

gần 50% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia hằng năm, theo đánh giá của

Phòng thương mại và cơng nghiệp Việt Nam năm 2016

- DNNVV tạo khối lượng việc làm lớn cho nền kinh tế. Số lượng lao động làm

việc cho các DNNVV chiếm 29,4% năm 2000 nhưng con số này đã nhanh chóng

tăng lên hơn 44% năm 2017, thu hút hơn 11 triệu việc làm (Tổng cục Thống kê,

2018)

- DNNVV thúc đẩy cạnh tranh trong nền kinh tế. Sự hoàn thiện khung pháp

lý về kinh tế thị trường giúp cho quá trình sàng lọc tự nhiên diễn ra mạnh mẽ hơn,

buộc doanh nghiệp phải lớn mạnh về cả chất và lượng, tạo sự năng động và nâng

cao khả năng cạnh tranh của DNNVV. Từ đó, tạo sức ép đổi mới doanh nghiệp nhà

nước, dẫn tới nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế.

- DNNVV góp phần cải thiện thu nhập cho người lao động. Thu nhập trung

bình một năm của người lao động cũng thay đổi nhanh chóng theo quy mơ doanh

nghiệp. Nếu năm 2007 thu nhập trung bình năm của người lao động vào khoảng



81



hơn 20 triệu cho doanh nghiệp nhỏ và gần 30 triệu cho doanh nghiệp vừa thì đến

năm 2015 con số này đã tăng lên gần 70 triệu cho doanh nghiệp nhỏ và gần 80

triệu cho doanh nghiệp vừa.

- DNNVV góp phần quan trọng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tính đến

năm 2017, trong số các doanh nghiệp đang hoạt động, có khoảng 98% là DNNVV

nếu chia theo quy mô lao động. DNNVV hoạt động chủ yếu trong ngành bán buôn,

bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; và

ngành xây dựng. DNNVV có ý nghĩa lớn trong việc phát triển công nghiệp và dịch vụ

ở nơng thơn, xố dần tình trạng thuần nơng và độc canh, chuyển dịch cơ cấu kinh

tế nông thôn, từ đó làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế.



2.1.3. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam ảnh hưởng đến

báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNVV trên thế giới nói chung và DNNVV ở Việt Nam nói riêng có nhiều đặc

điểm đặc trưng, khác biệt với những doanh nghiệp quy mơ lớn và hồn tồn khơng

phải là phiên bản thu nhỏ của doanh nghiệp lớn. Những đặc điểm này có ảnh

hưởng nhất định đến hệ thống BCTC của DNNVV như sau:

Một là, các DNNVV ở Việt Nam thường không phải là các doanh nghiệp đại

chúng. Chứng khốn hoặc các cơng cụ tài chính do các doanh nghiệp này phát hành

thường không được trao đổi rộng rãi trên thị trường. Đối tượng sử dụng thông tin

kế toán của các DNNVV tập trung vào chủ sở hữu, chủ nợ hiện tại và tiềm năng

cũng như cơ quan thuế. Do vậy, nghĩa vụ pháp lý công bố thơng tin tài chính của

các doanh nghiệp này có những giới hạn nhất định và đơn giản hơn so với các

doanh nghiệp đại chúng có quy mơ lớn. Điều này lý giải tại sao hệ thống BCTC của

DNNVV Việt Nam đơn giản hơn của doanh nghiệp lớn, ví dụ DNNVV Việt Nam

không bắt buộc phải lập BCLCTT, Thuyết minh BCTC cũng lược bỏ nhiều nội dung

như không thuyết minh liên quan đến các khoản phải thu, phải trả, đến các khoản

dự phòng trên BCTHTC, khơng thuyết minh về các khoản liên quan đến các khoản



82



giảm trừ phát sinh trong kỳ, các khoản tính vào giá vốn hàng bán, chi phí tài chính

phát sinh trong kỳ…Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, thị trường chứng khốn Việt

Nam đã có những bước phát triển nhất định. Nếu như năm 2017, số các doanh

nghiệp niêm yết trên cả 3 sàn chứng khoán Việt Nam là 1400 doanh nghiệp (Hồng

Trung, 2017), thì đến hết năm 2018, con số này đã tăng lên gần 1600, trong đó

DNNVV gần 250 doanh nghiệp tính theo quy mơ vốn, chiếm khoảng 15% tổng số

doanh nghiệp niêm yết (cophieu68). Chính vì vậy, nhà đầu tư cũng đang trở thành

một trong các đối tượng quan trọng sử dụng BCTC của DNNVV khi các doanh

nghiệp này muốn mở rộng kinh doanh, huy động vốn từ thị trường chứng khoán

(Nguyễn Long, 2018). Vì thế, nhiều DNNVV đã tự nguyện lựa chọn các quy định

pháp lý áp dụng cho doanh nghiệp lớn với mục đích minh bạch hóa thơng tin như

tự nguyện lập BCLCTT hay tự nguyện thuyết minh chi tiết các thông tin trên

TMBCTC.

Hai là, lĩnh vực hoạt động kinh doanh của các DNNVV thường tập trung vào

những ngành nghề kinh doanh chính. Các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong các

doanh nghiệp này thường là những nghiệp vụ cơ bản gắn liền với hoạt động sản

xuất kinh doanh chủ yếu. Các quan hệ kinh tế, tài chính phức tạp thường hiếm khi

xảy ra. Do vậy DNNVV Việt Nam chỉ áp dụng đầy đủ 7 chuẩn mực kế tốn thơng

dụng, áp dụng khơng đầy đủ 12 chuẩn mực kế tốn và khơng áp dụng 7 chuẩn mực

do không phát sinh hoặc do q phức tạp khơng phù hợp với DNNVV. Chính vì thế,

các chỉ tiêu trên BCTC của DNNVV cũng đơn giản hơn rất nhiều so với BCTC của

doanh nghiệp lớn.

Ba là, do các nguồn lực và yêu cầu đặt ra đối với cơng tác kế tốn có giới

hạn, nên việc đầu tư vào trang thiết bị, nguồn nhân lực cho công tác kế tốn ở các

DNNVV có nhiều hạn chế, dẫn đến chất lượng thông tin trên BCTC cung cấp cho

các đối tượng sử dụng không cao.



83



2.2. Nhu cầu của người sử dụng thơng tin trên báo cáo tài chính của doanh

nghiệp nhỏ và vừa và mức độ đáp ứng nhu cầu

2.2.1. Khảo sát về nhu cầu thông tin trên báo cáo tài chính của doanh

nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

2.2.1.1. Nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của ngân hàng

thương mại

a. Vai trò của báo cáo tài chính so với các nguồn thơng tin khác

Để tìm hiểu nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của DNNVV, tác giả thực

hiện phỏng vấn với nhóm cán bộ tín dụng các ngân hàng thương mại. Bảng phỏng

vấn cán bộ tín dụng ngân hàng được trình bày trong phụ lục 2.1.

Phụ lục 2.1. Bảng phỏng vấn bán cấu trúc dành cho nhân viên tín dụng ngân hàng

Với câu hỏi “Để đưa ra quyết định cho vay, anh/chị quan tâm đến những vấn

đề gì của doanh nghiệp? Vấn đề nào theo anh/chị là quan trọng nhất? Vì sao?” thì

6/7 cán bộ tín dụng được phỏng vấn đều cho rằng những nhân tố như “uy tín của

doanh nghiệp và chủ sở hữu của doanh nghiệp”, “tình hình tài chính”, “giá trị tài

sản đảm bảo” là những nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định cho vay của Ngân

hàng. “Tình hình tài chính” của doanh nghiệp thể hiện qua BCTC được 5/7 cán bộ

tín dụng đề cập đến bởi đây là “nguồn thơng tin chính thống”. Nguồn thơng tin

trên BCTC giúp cán bộ tín dụng đánh giá khả năng thu hồi nợ gốc và lãi cho ngân

hàng đúng hạn. Tuy nhiên, hình thức tiếp cận vốn chủ yếu của DNNVV là vay có tài

sản đảm bảo (98%) (Nguyễn Thị Kim Lý, 2013). Trong trường hợp này thì giá trị tài

sản đảm bảo lại là thông tin quan trọng nhất mà ngân hàng quan tâm. 5 trong số 7

người được hỏi cho rằng BCTC là một thủ tục bắt buộc phải có để ngân hàng đưa

ra quyết định cho vay nhưng không phải là nguồn thơng tin quan trọng nhất bởi

tính minh bạch của các thông tin trên báo cáo.

“Chúng tôi không thực sự sử dụng BCTC. Tơi có thể xem xét thơng tin về

doanh thu nhưng cần kiểm tra với sao kê ngân hàng của doanh nghiệp”



84



“BCTC ít có tác dụng, chỉ nhằm mục đích đáp ứng tính tuân thủ với chính

sách của ngân hàng. Chúng tôi sẽ không chấp nhận khoản vay nếu doanh nghiệp có

lỗ dồn tích vì vậy đầu tiên chúng tơi sẽ kiểm tra xem khách hàng có lỗ dồn tích liên

tiếp 3 năm khơng... Nếu BCTC được lập khơng nhằm mục đích nộp thuế thì sẽ có

ích hơn cho chúng tôi”

Lập lại BCTC cho khách hàng là một cách để thu thập thông tin cho quyết

định cho vay. Thơng tin tài chính được lấy từ các sổ kế tốn nội bộ, phỏng vấn chủ

sở hữu hoặc có khi đến khảo sát tại doanh nghiệp. BCTC thường được sử dụng làm

cơ sở cho những yêu cầu và kiểm tra tiếp sau đó:

“Phỏng vấn cá nhân với quản lý và nhân viên kế toán là một cách để kiểm

tra lại độ tin cậy của các con số trên BCTC”

Chính vì vậy, khi u cầu xếp hạng các thơng tin mà Ngân hàng quan tâm thì

thơng tin trên BCTC đứng thứ 3 cùng với thông tin về phương án sử dụng vốn, sau

thông tin về tài sản đảm bảo và thơng tin về uy tín của doanh nghiệp cũng như uy

tín của chủ sở hữu.

b. Xu hướng sử dụng BCTC trong việc đưa ra quyết định cho vay của

ngân hàng

Như vậy từ thực tế trên có thể thấy rằng BCTC chưa có tác dụng nhiều cho

các NHTM khi đưa ra quyết định cho vay bởi các ngân hàng ở Việt Nam vẫn thường

xem xét cho vay dựa vào giá trị tài sản đảm bảo, đồng thời theo đánh giá của họ thì

tính đáng tin cậy của BCTC DNNVV là khơng cao. Mặc dù vậy, khi được hỏi về “xu

hướng sử dụng BCTC trong tương lai khi ngân hàng đưa ra quyết định cho vay” thì

các nhân viên tín dụng đều khẳng định đó là điều tất yếu bởi:

Thứ nhất, việc xử lý tài sản đảm bảo là biện pháp cuối cùng của các ngân

hàng buộc phải thực hiện để xử lý các món nợ xấu. Thực tế, các ngân hàng thương

mại đang gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, ảnh

hưởng trực tiếp đến quá trình xử lý tài sản bảo đảm nợ vay và thu hồi nợ của ngân

hàng. Cụ thể, để đem tài sản ra bán đấu giá phải trải qua nhiều giai đoạn, thời gian



85



kéo dài so với quy định như các thủ tục liên quan đến xác minh tài sản, cưỡng chế

tài sản, cách định ranh, đo vẽ lại tài sản, thẩm định giá tài sản.

Thứ hai: theo xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán hiện nay, các

doanh nghiệp muốn niêm yết để huy động vốn từ nhà đầu tư sẽ phải hoàn thiện

BCTC theo hướng minh bạch hóa và đáng tin cậy hơn. Xu hướng sử dụng và phân

tích các thơng tin từ BCTC của doanh nghiệp sẽ giúp Ngân hàng giảm thiểu rủi ro

phát sinh các khoản nợ xấu trong tương lai do đánh giá đúng được tình hình và kết

quả kinh doanh của doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn.

Như vậy có thể khẳng định xu hướng sử dụng BCTC để đưa ra quyết định

cho vay là yêu cầu tất yếu.



2.2.1.2. Nhu cầu sử dụng thơng tin trên báo cáo tài chính của nhà đầu tư

Nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC của DNNVV của nhà đầu tư được tác

giả tìm hiểu thông qua phỏng vấn bằng bảng hỏi. Nội dung bảng hỏi được trình bày

ở phụ lục 2.2 của luận án.

Phụ lục 2.2. Bảng phỏng vấn bán cấu trúc dành cho nhà đầu tư

Với câu hỏi “Để đưa ra quyết định đầu tư, anh/chị quan tâm đến những vấn

đề gì của doanh nghiệp? Vấn đề nào theo anh/chị là quan trọng nhất? Vì sao?” thì

các nhà đầu tư khẳng định, tùy thuộc vào việc lựa chọn phương pháp đầu tư mà

họ quan tâm đến các vấn đề khác nhau của doanh nghiệp.

Nếu đầu tư dựa trên phương pháp phân tích theo yếu tố cơ bản, thì sức

khỏe của cơng ty niêm yết thể hiện qua BCTC, kế hoạch kinh doanh của doanh

nghiệp, báo cáo phân tích của các cơng ty chứng khoán là những nhân tố quan

trọng. Một số yếu tố khác như thơng tin nội bộ, chính sách vĩ mơ, dòng tiền và tính

thanh khoản của cổ phiếu niêm yết cũng được các nhà đầu tư quan tâm. Theo

phương pháp đầu tư này, thì BCTC được nhiều nhà đầu tư nhắc đến nhất bởi nó

cung cấp những thơng tin căn bản về tình hình tài chính và kinh doanh của công ty

niêm yết và được cung cấp hàng quý, do đó khá kịp thời và có ảnh hưởng đến

quyết định của họ. Đây cũng là “nguồn thơng tin chính thống” và “đáng tin cậy về



86



mặt pháp lý”. Trong đó, có 2/5 người trả lời phỏng vấn nhận thấy BCTC của các

doanh nghiệp niêm yết là nguồn thông tin rất quan trọng trong việc đưa ra các

quyết định liên quan đến mua, bán và nắm giữ các cổ phiếu trên TTCK Việt Nam.

Mặc dù vậy, cũng khơng ít người (3/5) cho rằng BCTC của các doanh nghiệp thường

được công bố chậm nên phù hợp hơn với các quyết định dài hạn. Mặt khác, tính

minh bạch của thơng tin trên các báo cáo cũng cần phải xem xét lại.

Sau BCTC, thông tin từ phân tích tài chính của các cơng ty chứng khốn,

thơng tin của doanh nghiệp thơng qua trang web hoặc các diễn đàn, chính sách vĩ

mơ là các nhân tố có ảnh hưởng tiếp theo đến quyết định của nhà đầu tư. Một số

nhà đầu tư cũng khẳng định bị ảnh hưởng một phần bởi tâm lý đám đông khi đưa

ra quyết định đầu tư.



2.2.1.3. Nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của cơ quan thuế

Để tìm hiểu nhu cầu sử dụng thơng tin trên BCTC của DNNVV của cơ quan

thuế, luận án cũng thực hiện phỏng vấn qua bảng hỏi. Nội dung bảng hỏi được

trình bày ở phụ lục 2.3 của luận án.

Phụ lục 2.3. Bảng phỏng vấn bán cấu trúc dành cho cán bộ thuế

Cơ quan thuế nhận thức được động cơ về thuế của DNNVV nhưng họ cho

rằng BCTC là một phần của thông tin sẽ được sử dụng để kiểm tra tờ khai thuế thu

nhập doanh nghiệp. Họ thường xuyên sử dụng BCTHTC và BCKQHĐKD. Đây là

thơng tin hữu ích đóng vai trò như nguồn thơng tin ban đầu của cơ quan thuế:

“BCTC là một phần của thông tin được sử dụng… Khi kiểm tra thuế, tơi

thường phải phân tích tờ khai thuế, kiểm tra tại doanh nghiệp, đặt câu hỏi với đơn

vị nộp thuế, tuy nhiên việc kiểm tra tại doanh nghiệp theo tơi là quan trọng nhất”

“Nói chung, tơi thấy tương đối hài lòng với BCTC của đối tượng nộp thuế

nhưng vẫn cần phải điều tra thêm”

Trong bộ tiêu chí đánh giá rủi ro phục vụ thanh tra thuế, Tổng cục thuế đưa

ra 5 nhóm tiêu chí:

- Nhóm tiêu chí đánh giá về tuân thủ kê khai thuế, tính thuế



87



- Nhóm tiêu chí phân loại doanh nghiệp theo loại hình kinh tế

- Nhóm tiêu chí đánh giá sự biến động về kê khai giữa các năm

- Nhóm tiêu chí đánh giá về tình hình tài chính

- Lịch sử thanh tra của người nộp thuế

Như vậy có thể thấy rằng nhóm tiêu chí đánh giá về tình hình tài chính của

doanh nghiệp căn cứ trên BCTHTC và BCKQHĐKD là một trong 5 yếu tố góp phần

đánh giá rủi ro phục vụ thanh tra thuế doanh nghiệp.



2.2.2. Khảo sát về mức độ quan tâm của người sử dụng đến các thông tin

trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

2.2.2.1. Mức độ quan tâm đến từng báo cáo tài chính

a. Kết quả từ phỏng vấn bán cấu trúc

i. Đối tượng sử dụng là ngân hàng thương mại

Khi được hỏi “anh/chị sẽ tập trung vào BCTC nào khi đưa ra quyết định cho

vay?” thì đa số cán bộ tín dụng đều chỉ ra 2 loại báo cáo là BCTHTC và BCKQHĐKD là

tương đối quan trọng. Trong đó, BCKQHĐKD được các cán bộ tín dụng nhắc tới

nhiều nhất, bởi báo cáo này phản ánh thực trạng hoạt động kinh doanh và khả

năng sinh lời của doanh nghiệp. Chính khả năng sinh lời sẽ ảnh hưởng lớn đến khả

năng thu hồi nợ gốc cũng như lãi vay của ngân hàng.

BCLCTT thường không được các ngân hàng chú trọng nhiều. Một số ngân

hàng không yêu cầu doanh nghiệp nộp BCLCTT, một số ngân hàng có phần mềm tự

động lập BCLCTT theo phương pháp gián tiếp dựa trên BCTHTC và BCKQHĐKD của

doanh nghiệp.

Đối với Thuyết minh BCTC, cán bộ tín dụng chưa sử dụng nhiều mà thường

kiểm tra ngay vào sổ chi tiết một số tài khoản quan trọng đối với họ mà doanh

nghiệp nộp lên. Tuy nhiên, họ cũng chia sẻ “Thuyết minh BCTC đáng lẽ ra rất quan

trọng bởi các báo cáo kia chỉ cung cấp cho chúng tôi thông tin về con số, bản chất



88



của con số thì cần xem xét kỹ hơn trong thuyết minh”. “Nếu thuyết minh được lập

đáng tin cậy và đầy đủ hơn thì sẽ rất có ích cho chúng tơi”

ii. Đối tượng sử dụng là nhà đầu tư

Trong bộ BCTC của doanh nghiệp, nhà đầu tư đánh giá BCKQHĐKD và

BCTHTC là quan trọng nhất bởi nó phản ánh những thơng tin thuộc lợi ích

“sát sườn” của nhà đầu tư như chỉ số Giá trên lợi nhuận một cổ phiếu PE hay

chỉ số lợi nhuận tính trên một cố phiếu EPS. Thuyết minh BCTC cũng được

đánh giá tương đối cao, thậm chí một số nhà đầu tư khẳng định “tôi thường

đọc Thuyết minh BCTC trước những báo cáo khác”. Thuyết minh BCTC giúp

nhà đầu tư hiểu được chất lượng lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh cốt lõi

hay hoạt động khác.

Ảnh hưởng của BCLCTT đến quyết định của nhà đầu tư phụ thuộc vào

nhận thức của nhà đầu tư. Với nhà đầu tư cá nhân, BCLCTT ít được sử dụng, nhà

đầu tư khơng hình dung được báo cáo này lập trên cơ sở nào, liên kết với BCTHTC

và BCKQHĐKD như thế nào. Ngược lại, với những nhà đầu tư tổ chức, BCLCTT

được đánh giá khá cao bởi họ hiểu được sự khác biệt giữa lợi nhuận và dòng tiền,

doanh nghiệp có đủ tiền để hoạt động không, tiền đến từ đâu và sử dụng tiền

như thế nào. Theo các nhà đầu tư, nên “xem xét kỹ BCLCTT khi cơng ty có vấn đề

về tính thanh khoản hoặc nghi ngờ cơng ty gian lận sổ sách vì ln chuyển dòng

tiền được phản ánh chính xác nhất qua BCLCTT”. Nhà đầu tư đưa ra ví dụ về

trường hợp của Cơng ty cổ phần Tập đồn xây dựng Hòa Bình HBC, lợi nhuận tốt,

nhưng khoản phải thu chủ yếu từ một vài đối tác chính tăng lên rất nhanh dẫn

đến vay nợ ngân hàng tăng lên tương ứng. Mặc dù lợi nhuận tăng nhiều nhưng

chỉ cần một hoặc hai đối tác khơng trả được tiền cho doanh nghiệp thì rủi ro về

thanh khoản của doanh nghiệp là rất lớn. Nhà đầu tư đánh giá được điều này nên

giá cổ phiếu HBC thấp hơn so với những doanh nghiệp cùng ngành, cùng quy mô

và kết quả kinh doanh.

iii. Đối tượng sử dụng là cơ quan thuế



89



Khi được hỏi trong hệ thống BCTC, thanh tra thuế quan tâm đến báo cáo

nào và vì sao, thì các cán bộ thuế đều nhất trí về tầm quan trọng của BCKQHĐKD và

BCTHTC. Việc so sánh và phân tích chỉ số ban đầu cũng đều dựa vào các số liệu trên

hai báo cáo này. Ví dụ, việc tính Tỷ suất doanh thu trên hàng tồn kho, Tỷ lệ phần

trăm sinh lời, Tỷ lệ phần trăm lợi nhuận.

Tuy nhiên, các cán bộ thuế cũng khẳng định rằng công việc của họ sẽ thuận

lợi hơn nhiều nếu các thông tin chi tiết trên Thuyết minh BCTC đáp ứng được nhu

cầu sử dụng của thuế. “Một tỷ suất chúng tơi tính được chỉ cho thấy tình trạng

bình thường hoặc bất thường của doanh nghiệp chứ không chỉ ra được ngun

nhân. Chúng tơi cần phải có được thuyết minh/diễn giải về các chỉ tiêu bất thường

đó. Những diễn giải chi tiết này tốt nhất nên phản ánh trong Thuyết minh BCTC”một cán bộ thuế cho biết.

b. Kết quả từ khảo sát bằng bảng hỏi

Ngoài việc phỏng vấn bán cấu trúc người sử dụng, luận án cũng thực hiện

khảo sát trên diện rộng để đưa ra kết luận về nhu cầu của người sử dụng thông tin

trên BCTC của DNNVV. Bảng khảo sát được trình bày trong phụ lục 2.7 của luận án.

Phụ lục 2.7. Phiếu khảo sát dành cho người sử dụng thông tin trên BCTC

Từ kết quả khảo sát cho thấy, người sử dụng đánh giá cao vai trò của

BCTHTC và BCKQHĐKD với mức điểm trung bình mean = 3.55 với BCTHTC và mean

= 3.78 với BCKQHĐKD (gần với thang điểm 4 trong thang đo Likert 1-5).

Bảng 2.4: Mức độ quan tâm của người sử dụng đối với từng BCTC

của DNNVV

C3.1

N



Valid

Missing



Mean

Std. Deviation



C3.2



C3.3



C3.4



341



341



341



341



0

3.55

1.489



0

3.78

1.330



0

3.32

1.417



0

3.49

1.372



(Nguồn: tác giả xử lý dữ liệu từ phần mềm SPSS 22)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.3: Cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô lao động

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×