Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phương thức xác định thuế TNDN hiện hành

Phương thức xác định thuế TNDN hiện hành

Tải bản đầy đủ - 0trang

39



giữa LNKT và TNCT do qui định của kế toán khác với qui định của chính sách thuế, số

liệu kế tốn về kết quả kinh doanh khơng được sử dụng trực tiếp cho việc tính

nghĩa vụ thuế TNDN. Có hai phương thức chủ yếu để xác định thuế TNDN hiện hành.

+ Phương thức thứ nhất là xây dựng một hệ thống kế tốn phục vụ riêng

cho mục đích tính thuế của doanh nghiệp. Việc thu thập, xử lý và cung cấp thơng

tin hồn tồn phù hợp với các quy định của Luật thuế TNDN. Hệ thống kế toán

thuế này là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp và

được thừa nhận giá trị pháp lý của số liệu phục vụ cho mục đích kê khai, quyết

tốn và kiểm tra tình hình thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp.

Lập báo cáo



Ghi sổ kế toán

Nghiệp vụ



tài chính



tổng hợp và chi tiết



kinh tế

phát sinh



Ghi sổ kế tốn cho



Lập báo cáo phục



mục đích tính thuế



vụ mục đích thuế



Sơ đồ 1.1. Sơ đồ tổ chức hệ thống sổ kế tốn thuế riêng

+ Phương thức thứ hai là khơng thiết lập hệ thống kế toán thuế riêng. Kế

toán căn cứ vào chỉ tiêu LNKT trên BCTC và tiến hành điều chỉnh để xác định TNCT

theo chính sách thuế TNDN. Các doanh nghiệp dựa trên cơ sở số liệu kế toán đã ghi

nhận về doanh thu, thu nhập, chi phí để tiến hành bổ sung, loại trừ các khoản

doanh thu, thu nhập và chi phí khơng được phép ghi nhận theo chính sách thuế

TNDN.

Nghiệp vụ



Ghi sổ kế



kinh tế



tốn tổng hợp



phát sinh



và chi tiết



Lập BCTC



Xác định số thuế



Điều chỉnh



TNDN phải nộp



số liệu trên

BCTC



40



Sơ đồ 1.2. Sơ đồ xác định thuế TNDN phải nộp trên cơ sở LNKT

Mỗi phương thức có những ưu điểm và hạn chế riêng. Việc lập một hệ

thống sổ kế tốn riêng phục vụ cho mục đích thuế giúp cho thời gian điều chỉnh và

lập tờ khai quyết toán thuế cuối năm nhanh hơn. Để xác định các khoản chênh lệch

phát sinh có thể đối chiếu trên BCTC năm đã lập và số liệu trên hệ thống sổ kế tốn

dùng cho mục đích tính thuế. Tuy nhiên, việc tạo lập hai hệ thống sổ sách kế toán

khiến cho khối lượng cơng việc của kế tốn tăng lên gấp đơi. Mặt khác, Sự khác

biệt giữa LNKT với TNCT là không hoàn toàn, nếu chỉ để xác định số thuế TNDN

phải nộp thì chi phí bỏ ra cho việc hạch tốn hai hệ thống sổ kế toán riêng biệt sẽ

lớn hơn lợi ích thu được. Ngồi ra, mục tiêu của kế tốn thuế TNDN khơng chỉ là

xác định thuế TNDN phải nộp mà còn phải xác định, ghi nhận và trình bày thơng tin

về thuế TNDN hỗn lại khi có chênh lệch tạm thời giữa LNKT và TNCT. Chính vì vậy,

việc xác định thuế TNDN hiện hành theo phương thức thứ hai phù hợp hơn, sẽ

đảm bảo được nguyên tắc tiết kiệm, hiệu quả cho doanh nghiệp.

Ghi nhận thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành

Thuế TNDN hiện hành là số thuế thu nhập chính thức mà doanh nghiệp

phải nộp cho ngân sách Nhà nước phát sinh từ TNCT trong kỳ. Doanh nghiệp phải

dùng nguồn lực của mình để thanh tốn nghĩa vụ này, làm giảm lợi ích kinh tế của

doanh nghiệp nên đủ tiêu chuẩn ghi nhận là một khoản nợ phải trả theo quy định

của chuẩn mực kế toán. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sự phát sinh nghĩa vụ nợ phải

trả đó sẽ ảnh hưởng đến yếu tố nào trên BCTC. Carey (1944) đã đặt ra câu hỏi liệu

các khoản thuế TNDN là một khoản chi phí hay là một khoản lợi nhuận được phân

phối? Mai Ngọc Anh (2014) cho rằng, việc ghi nhận thuế TNDN với tư cách là một

khoản nợ phải trả sẽ ảnh hưởng đến các chỉ tiêu trên BCTC tùy thuộc vào quan

điểm các lý thuyết và loại hình kế tốn.

Trên góc độ lý thuyết kế toán



41



Nghiên cứu của Nurnber (1971) cho rằng, việc ghi nhận và xem xét các loại

thuế TNDN như một khoản chi phí là phù hợp với lý thuyết độc quyền, còn ghi

nhận nó là một khoản phân phối thu nhập sẽ phù hợp với lý thuyết thực thể. Lý

thuyết độc quyền đứng trên quan điểm của chủ sở hữu, các khoản thuế sẽ được

coi là một khoản chi phí, làm giảm lợi ích kinh tế của chủ sở hữu. Lý thuyết thực

thể đứng trên quan điểm cho rằng, tất cả các nhà đầu tư vốn chủ sở hữu và chủ nợ

đều là các nhà cung cấp vốn nên các khoản thuế TNDN phải nộp được coi là một

phần thu nhập được phân phối. Theo Mai Ngọc Anh (2014), lý thuyết thực thể theo

cách tiếp cận truyền thống coi thuế TNDN là một phần lợi nhuận được phân phối

giống như lãi vay và cổ tức. Quan điểm thực thể hiện đại coi các khoản chi trả cho

việc sử dụng vốn đều là chi phí vì chủ nợ và chủ sở hữu đều là các đối tượng bên

ngoài doanh nghiệp. Theo đó, lãi vay, cổ tức, thuế TNDN là những khoản mục chi

phí của đơn vị. Cách tiếp cận theo quan điểm thực thể hiện đại mà Mai Ngọc Anh

(2014) đề cập phù hợp với quan điểm lý thuyết độc quyền của Nurnber (1971) và

xu hướng phát triển chung của nền kinh tế thị trường cũng như các quy định của

IAS 12 trong việc ghi nhận chi phí thuế TNDN.

Trên góc độ của loại hình kế tốn

Theo nghiên cứu Mai Ngọc Anh (2014), loại hình kế tốn vĩ mơ được hiểu

là hệ thống kế toán được thiết lập nhằm đảm bảo sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối

với nền kinh tế. Theo quan điểm của loại hình kế tốn này, thuế TNDN là một khoản

phân phối lợi nhuận vì trên bình diện tồn xã hội, thuế TNDN là một phần giá trị thặng

dư doanh nghiệp tạo ra được động viên vào ngân sách nhà nước. Quan điểm này

chỉ xem xét thuế TNDN ở góc độ doanh nghiệp, được vận dụng phổ biến trong các

nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các nước có nền kinh tế thị trường

theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc, Việt Nam và các nước có nền kinh

tế thị trường mang thuộc tính xã hội thuộc Châu Âu lục địa như Pháp, Đức, Thụy

Điển.

Loại hình kế tốn vi mơ là loại hình kế tốn theo đó thơng tin kế toán trước

hết phục vụ cho các chủ thể quản lý trong nội bộ đơn vị và các chủ thể kinh tế vi



42



mơ khác có lợi ích kinh tế liên quan. Theo quan điểm của loại hình kế tốn này,

thuế TNDN được coi là một khoản chi phí được ghi nhận trên báo cáo kết quả kinh

doanh.

Như vậy, các quan điểm khác nhau về việc ghi nhận thuế TNDN dẫn đến

các chỉ tiêu cung cấp trên BCTC sẽ khác nhau. Nghiên cứu lịch sử hình thành và

phát triển kế tốn thuế TNDN, chuẩn mực và thơng lệ kế tốn quốc tế cho thấy,

việc ghi nhận thuế TNDN hiện hành là chi phí thời kỳ là phù hợp với cách tiếp cận

về chi phí của hệ thống kế tốn nói chung (VAS 01 và chuẩn mực quốc tế chung cho

việc lập và trình bày BCTC) thể hiện trên các mặt nội dung sau:

Một là, thuế TNDN hiện hành làm giảm lợi ích kinh tế của doanh nghiệp.

Do xu hướng kinh tế tư nhân ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế,

khoản thuế TNDN phải nộp là một khoản tiền mà doanh nghiệp phải bỏ ra nhằm

động viên vào ngân sách Nhà nước, làm giảm lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, dẫn

đến làm giảm vốn chủ sở hữu.

Hai là, thuế TNDN hiện hành được xác định một cách đáng tin cậy, dựa

trên TNCT đã được ghi chép, xác định trên sổ kế tốn, có bằng chứng rõ ràng, và

mức thuế suất theo quy định.

Ba là, thuế TNDN phải nộp trong kỳ hiện hành được xác định trên cơ sở

TNCT, đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí.

Xuất phát từ những phân tích trên, tác giả luận án cho rằng việc ghi nhận

thuế TNDN là một khoản nợ phải trả làm tăng chi phí thời kỳ là hồn tồn phù hợp

với cách tiếp cận về chi phí và nợ phải trả của hệ thống kế tốn nói chung.

Sơ đồ kế toán thuế TNDN hiện hành được tác giả trích dẫn tại phụ lục 6.

1.4.3. Kế tốn thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại

Thuế thu nhập hoãn lại là sản phẩm riêng của kế toán, là số thuế thu nhập

được hoãn lại trong năm hiện hành và sẽ phải nộp hoặc được khấu trừ trong

tương lai phát sinh từ chênh lệch tạm thời trong việc ghi nhận giá trị ghi sổ của các

khoản mục tài sản, nợ phải trả với cơ sở tính thuế của nó. Việc xác định khoản

chênh lệch tạm thời này tương đối phức tạp. Về lý thuyết có hai cách tiếp cận để



43



xác định các khoản chênh lệch tạm thời được phát sinh.

Một là, tiếp cận từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh bằng cách phân

tích các khoản chi phí, thu nhập được kế toán ghi nhận so sánh với các khoản chi

phí, thu nhập theo quy định của chính sách thuế TNDN để xác định chênh lệch tạm

thời. Nếu chênh lệch phát sinh khi LNKT nhỏ hơn TNCT đó là chênh lệch tạm thời

được khấu trừ. Ngược lại nếu khoản chênh lệch tạm thời làm cho LNKT lớn hơn

TNCT là chênh lệch tạm thời chịu thuế. Khoản chênh lệch tạm thời được xác định

theo phương pháp này còn được gọi là chênh lệch thời gian.

Hai là, tiếp cận từ BCĐKT bằng cách so sánh giữa cơ sở ghi sổ của các

khoản mục tài sản, nợ phải trả với cơ sở tính thuế của nó. Khoản chênh lệch tạm

thời được xác định theo phương pháp này còn được gọi là chênh lệch tạm thời.

Về bản chất, hai cách tiếp cận này có mối liên hệ với nhau. Phương pháp 1

là hệ quả của phương pháp 2. Vì thực chất, kết quả kinh doanh phát sinh từ sự

biến động của các khoản mục tài sản hay nợ phải trả. Mỗi sự chênh lệch về ghi

nhận giá trị các tài sản hay các khoản nợ phải trả đều ảnh hưởng đến TNCT và hệ

quả là ảnh hưởng đến chi phí thuế TNDN. Mặt khác, khoản chênh lệch này chỉ là

tạm thời và sẽ chấm dứt khi toàn bộ giá trị tài sản được thu hồi hay thanh lý (thơng

qua phân bổ vào chi phí) và khi tồn bộ nợ phải trả được thanh tốn. Mặt khác,

nếu tiếp cận từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh thì việc xác định các khoản

chênh lệch tạm thời do hoàn nhập (đảo chiều) từ các khoản chênh lệch tạm thời có

nguồn gốc (chênh lệch do sự khác biệt ban đầu giữa cơ sở ghi sổ kế toán của các

khoản mục tài sản, nợ phải trả với cơ sở tính thuế của nó) tương đối khó khăn.

Chẳng hạn như khi chênh lệch tạm thời được khấu trừ phát sinh khi LNKT thấp hơn

TNCT, nhưng khi phát sinh chênh lệch đảo chiều sẽ làm cho LNKT cao hơn TNCT

nhưng không phải là chênh lệch tạm thời chịu thuế mà chỉ là hoàn nhập giá trị

chênh lệch tạm thời được khấu trừ. Vì vậy, việc xác định các khoản chênh lệch tạm

thời theo cách tiếp cận từ BCĐKT được các chuẩn mực kế toán lựa chọn áp dụng.

Nghiên cứu của Schultz (1998) cho thấy, quá trình hình thành và phát triển

của thuế TNDN hoãn lại tồn tại ba cách xác định thuế TNDN hỗn lại đó là: phương



44



pháp nợ phải trả, phương pháp hoãn lại và phương pháp thuế thuần. Trong đó:

Phương pháp hỗn lại (deferral method): Theo phương pháp này, thuế

TNDN hỗn lại được tính căn cứ trên thuế suất có hiệu lực khi khoản chênh lệch

tạm thời phát sinh. Số dư thuế TNDN hỗn lại khơng được điều chỉnh khi có sự

thay đổi thuế suất theo luật thuế mới. Đây là cách tiếp cận theo hướng báo cáo kết

quả hoạt động kinh doanh và nhấn mạnh về sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí.

Phương pháp tài sản - nợ phải trả (assetliability method) hay còn gọi

phương pháp nợ phải trả: Theo phương pháp này, số thuế TNDN hỗn lại được

tính căn cứ trên thuế suất dự kiến có hiệu lực trong các kỳ mà khoản chênh lệch

tạm thời được hồn nhập. Thuế TNDN hỗn lại được xem là nợ phải trả đối với các

khoản thuế sẽ phải nộp hay tài sản đối với các khoản thuế sẽ được khấu trừ trong

tương lai. Phương pháp này là cách tiếp cận dựa trên BCĐKT và nhấn mạnh vào

tính hữu ích của BCTC trong việc đánh giá tình hình tài chính và dự đốn các dòng

tiền trong tương lai.

Phương pháp thuế thuần (netoftax): Phương pháp này, khơng có khoản

thuế TNDN hỗn lại được trình bày trên BCĐKT. Chi phí thuế TNDN được báo cáo

trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng chính bằng số thuế TNDN hiện

hành phải nộp. Ảnh hưởng về thuế của khoản chênh lệch tạm thời không được báo

cáo riêng mà được báo cáo là khoản điều chỉnh số dư của các tài sản và khoản nợ

phải trả cụ thể liên quan đến các khoản doanh thu và chi phí.

Mỗi phương pháp trên đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Việc lựa

chọn sử dụng phương pháp nào tùy thuộc vào điều kiện cụ thể trong từng giai

đoạn. Dreke (1962) và Bierman (1963) đã lựa chọn phương pháp Netoftax trong

trường hợp khấu hao khi có sự khác biệt trong việc ghi nhận cơ sở tính thuế của tài

sản và giá trị ghi sổ của tài sản. Hicks (1963) thì ủng hộ quan điểm sử dụng phương

pháp hỗn lại. Ơng lập luận rằng, việc cung cấp thơng tin về thuế TNDN hỗn lại

dựa trên mức thuế suất có hiệu lực khi khoản chênh lệch tạm thời phát sinh là phù

hợp vì việc ghi nhận thuế TNDN hoãn lại làm giảm thuế hiện hành ở các năm trong

tương lai chứ không phải mang lại một khoản nợ thuế trong tương lai, do vậy việc



45



không điều chỉnh thuế TNDN hỗn lại khi có sự thay đổi thuế suất theo luật thuế

mới là phù hợp. Nhưng Nurnberg (1971) lại cho rằng, phương pháp hoãn lại là một

sai lầm vì các phương pháp kế tốn cơ bản không thừa nhận sự tồn tại các khoản

nợ thuế. Black (1966) cho rằng, phương pháp netoftax không thể chấp nhận được

và ủng hộ một sự kết hợp trong đó phương pháp nợ phải trả được áp dụng cho các

khoản thuế TNDN hoãn lại phải trả, phương pháp hoãn lại được áp dụng cho tài

sản thuế TNDN hoãn lại. Sự kết hợp phương pháp nợ phải trả và phương pháp

hoãn lại theo quan điểm Black (1966) phù hợp với nguyên tắc thận trọng của kế

toán.

Quan điểm của IAS 12 phiên bản cập nhật năm 2012 và FASB đều cho rằng:

phương pháp tài sản, nợ phải trả là phương pháp phù hợp nhất để hạch toán các

khoản thuế thu nhập. Mục tiêu thứ nhất của phương pháp này là để ghi nhận số

tiền thuế phải nộp hoặc hoàn lại cho năm hiện hành. Mục tiêu thứ hai là để ghi

nhận thuế thu nhập hoãn lại phải trả và tài sản thuế thu nhập hoãn lại trong tương

lai của các sự kiện đã được ghi nhận trong BCTC.

Tác giả luận án cho rằng, việc lựa chọn áp dụng duy nhất phương pháp nợ

phải trả tiếp cận từ BCĐKT theo IAS 12 và FASB là hồn tồn phù hợp do số liệu

thuế TNDN hỗn lại được tính căn cứ trên thuế suất dự kiến có hiệu lực trong các

kỳ mà khoản chênh lệch tạm thời được hồn nhập, như vậy số thuế TNDN hỗn lại

kỳ này sẽ phù hợp với số thuế thu nhập khi nó được hồn nhập. Mặt khác, phương

pháp tiếp cận này còn tập trung vào chênh lệch tạm thời khơng chỉ là chênh lệch về

thời gian theo cách tiếp cận từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Đặc biệt là

nhấn mạnh đến tính hữu ích của thơng tin về thuế TNDN trên BCTC.

Xác định tài sản thuế TNDN hoãn lại

Tài sản thuế thu nhập hoãn lại: Là thuế TNDN sẽ được hồn lại trong tương

lai tính trên các khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ; giá trị được khấu trừ

chuyển sang các năm sau của các khoản lỗ tính thuế và ưu đãi thuế chưa sử dụng.

Có thể khái quát việc xác định thuế TNDN hoãn lại như sau:



46



Tài sản

thuế

TNDN

hoãn lại



=



Chênh lệch

Giá trị được khấu trừ chuyển

tạm thời

sang năm sau của các khoản lỗ

+

được khấu

tính thuế và ưu đãi thuế chưa

trừ

sử dụng



Thuế suất

x thuế TNDN

hiện hành



Chênh lệch tạm thời được khấu trừ: Là các khoản chênh lệch tạm thời làm

phát sinh các khoản được khấu trừ khi xác định TNCT TNDN trong tương lai khi mà

giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả liên quan được thu hồi hay

được thanh toán. Chênh lệch tạm thời được khấu trừ là khoản chênh lệch làm cho

LNKT nhỏ hơn TNCT ở kỳ hiện tại, phát sinh khi:

+ Giá trị ghi sổ của tài sản nhỏ hơn cơ sở tính thuế của tài sản đó;

+ Giá trị ghi sổ của nợ phải trả lớn hơn cơ sở tính thuế của nó.

Số thuế TNDN phát sinh từ khoản chênh lệch này sẽ được khấu trừ, làm

giảm số thuế phải nộp trong tương lai khi khoản chênh lệch tạm thời được hồn

nhập, do đó hình thành nên tài sản thuế thu nhập được hoãn lại ở kỳ hiện tại.

Các khoản lỗ chưa sử dụng: Theo nghiên cứu của Kieso, Weygandt,

Warfield (2015), "khi doanh nghiệp có một khoản lỗ thuần từ hoạt động sản xuất

kinh doanh (NOLs) khi chi phí được khấu trừ thuế vượt quá doanh thu, thu nhập

chịu thuế. Luật thuế một số nước đã cho phép doanh nghiệp sử dụng các khoản lỗ

của một năm để bù đắp lợi nhuận của các năm khác". Khi luật thuế cho phép như

vậy thì cơng ty có thể lựa chọn việc phân bổ khoản lỗ của năm hiện tại cho các năm

trước đó (Loss carry back) hoặc phân bổ cho các năm trong tương lai (Loss carry

forward). Thông thường việc phân bổ lỗ năm hiện tại ngược trở lại cho các năm

trước đó khơng q 2 năm, phân bổ cho các năm trong tương lai tối đa là 20 năm.

Số lỗ được phân bổ cho các năm phải nhỏ hơn hoặc bằng khoản TNCT của năm

được phân bổ. Việc thay đổi mức thuế suất luôn ảnh hưởng đáng kể đến thuế thu

nhập hoãn lại trên BCTC. Việc phân bổ lỗ được minh họa như sau:

2015



2016



Loss carryback

2 năm



2017

năm lỗ



2018



2019

Loss carryforward

20 năm







2037



47



Sơ đồ 1.3. Phân bổ lỗ năm hiện tại

Nếu khoản lỗ phân bổ cho các năm trước nhỏ hơn khoản lỗ năm hiện hành

hoặc công ty không phân bổ khoản lỗ ngược trở lại các năm trước có thể lựa chọn

việc chuyển lỗ cho các năm trong tương lai. Khi chuyển lỗ năm hiện tại cho các

năm trong tương lai sẽ làm giảm TNCT trong tương lai, làm giảm thuế TNDN phải

nộp tương ứng. Khi đó, doanh nghiệp ghi nhận tài sản thuế TNDN hoãn lại đồng

thời ghi nhận một khoản thu nhập (lợi ích) về thuế TNDN hỗn lại phát sinh trong

năm hiện tại. Khi công ty phân bổ số lỗ năm hiện tại ngược trở lại cho các năm

trước, làm giảm TNCT của các năm trước, doanh nghiệp được thu lại khoản thuế

đã nộp năm trước tương ứng với số lỗ của năm hiện tại được phân bổ. Khoản lợi

ích này được ghi nhận như một khoản phải thu về số thuế các năm trước đã nộp

nay được hoàn lại. Tuy nhiên, luật thuế TNDN của nhiều quốc gia trong đó có Việt

Nam khơng cho phép doanh nghiệp phân bổ khoản lỗ năm hiện tại cho các năm

trước để thu hồi một phần số thuế TNDN đã nộp các năm trước tương ứng với số

lỗ được phân bổ. Có thể thấy, đây là sự thiếu cơng bằng cho các doanh nghiệp khi

doanh nghiệp có lãi đã nộp thuế cho Nhà nước nhưng khi bị lỗ lại không được Nhà

nước chia sẻ khó khăn (hồn lại một phần thuế TNDN đã nộp tương ứng với khoản

lỗ được phân bổ) mà chỉ được phân bổ lỗ cho các năm trong tương lai để được

khấu trừ làm giảm số thuế phải nộp trong tương lai nếu trong tương lai doanh

nghiệp có lãi. Tuy nhiên, trên góc độ nguyên tắc phù hợp thì số thuế TNDN mà

doanh nghiệp đã nộp tương tứng với phần TNCT của từng năm đã nộp thuế. Mặt

khác, khi doanh nghiệp nộp thuế thì khoản thuế này đã được Nhà nước sử dụng

cho các hoạt động phúc lợi, an ninh chính trị, quốc phòng, phát triển kinh tế... mà

doanh nghiệp cũng đã được hưởng lợi từ môi trường kinh tế, xã hội phục vụ hoạt

động kinh doanh nên không dễ để Nhà nước cho các doanh nghiệp thu hồi. Chính

vì vậy, việc phân bổ lỗ cho các năm trước phụ thuộc vào chính sách thuế của từng

quốc gia trong từng điều kiện cụ thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong lúc khó

khăn.



48



Kieso, Weygandt, Warfield (2015) đã đặt ra vấn đề rằng, liệu có nên yêu

cầu khác nhau cho sự ghi nhận tài sản thuế thu nhập hoãn lại cho chênh lệch tạm

thời được khấu trừ và khoản lỗ được phân bổ cho các năm trong tương lai. Quan

điểm của FASB là về bản chất cả hai cách ghi nhận này đều giống nhau, đó là số

thuế được khấu trừ trong các năm tương lai nên không cần thiết phải có yêu cầu

khác biệt khi ghi nhận tài sản thuế TNDN hoãn lại.

Tác giả luận án cho rằng, chênh lệch tạm thời được khấu trừ và các khoản

lỗ và ưu đãi thuế chưa sử dụng đều làm làm giảm số thuế TNDN phải nộp trong

tương lai, tuy nhiên mức độ chắc chắn trong việc thu hồi lợi ích kinh tế thu được

từ tài sản thuế TNDN hoãn lại giữa hai nguồn này là khác nhau do chênh lệch tạm

thời chắc chắn sẽ được hoàn nhập trong tương lai còn lợi ích về thuế TNDN từ

các khoản lỗ và ưu đãi thuế chưa sử dụng có thể thu hồi được hay khơng còn

phải phụ thuộc vào TNCT của doanh nghiệp trong tương lai, và thời gian còn

được phân bổ của các khoản lỗ. Chính vì vậy doanh nghiệp cần lưu ý đánh giá

mức LNCT trong tương lai, xây dựng chiến lược kế hoạch thuế để có thể thu hồi

được lợi ích về thuế trong tương lai của các khoản lỗ và ưu đãi thuế chưa sử dụng

để có thể cung cấp thơng tin hữu ích nhất về thuế TNDN trên BCTC cho các đối

tượng sử dụng thông tin.

Ghi nhận tài sản thuế TNDN hoãn lại

Để ghi nhận tài sản thuế TNDN hỗn lại, cần xem xét những lợi ích về thuế

TNDN thu được từ các khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ, các khoản lỗ tính

thuế và ưu đãi thuế chưa sử dụng đó có đảm bảo các tiêu chuẩn ghi nhận tài sản

theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế hay không.

Thực chất tài sản thuế thu nhập hoãn lại làm giảm số thuế TNDN phải

nộp trong những năm tới, đây là lợi ích mang lại cho doanh nghiệp trong

tương lai được phát sinh tại năm hiện tại. Về bản chất, tài sản thuế TNDN hỗn

lại hồn toàn phù hợp với ba điều kiện ghi nhận về tài sản của chuẩn mực kế toán.

Thể hiện trên các mặt nội dung sau:

Thứ nhất: Tài sản thuế TNDN là kết quả của một giao dịch đã qua và giá trị



49



của tài sản này được xác định một cách đáng tin cậy. Do các khoản lỗ và ưu đãi

thuế đã thực sự phát sinh, hiện hữu có căn cứ cụ thể trên sổ sách kế toán nên giá

trị của tài sản thuế TNDN được xác định một cách đáng tin cậy và doanh nghiệp

hồn tồn có thể kiểm sốt được. Việc xác định các khoản chênh lệch được khấu

trừ khá phức tạp, tuy nhiên cũng đều dựa trên số liệu cụ thể trên chứng từ, sổ sách

kế toán và những quy định pháp luật cụ thể về thuế TNDN trong việc xác định TNCT

nên khoản chênh lệch này được xác định một cách đáng tin cậy.

Thứ hai: Tài sản thuế TNDN hỗn lại có khả năng mang lại lợi ích kinh tế

trong tương lai. Vì khi phát sinh các khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ thì

TNCT vượt quá LNKT trước thuế. Tuy nhiên, trong những năm tiếp theo khi các

khoản chênh lệch này được hồn nhập thì TNCT sẽ thấp hơn LNKT trước thuế dẫn

đến số thuế TNDN thực tế phải nộp sẽ thấp hơn số thuế TNDN phải nộp trên sổ kế

toán. Mặt khác, các khoản lỗ được chuyển sang năm sau, các ưu đãi về thuế chưa

sử dụng thì trong tương lai số thuế TNDN phải nộp sẽ giảm. Đây là lợi ích kinh tế

của doanh nghiệp có thể xảy ra trong tương lai tồn tại vào cuối năm hiện tại.

Thứ ba: Tài sản thuế TNDN hỗn lại là một nguồn lực doanh nghiệp kiểm

sốt được. Doanh nghiệp hồn tồn có thể kiểm sốt quyền truy cập các lợi ích từ

các khoản chênh lệch tạm thời được khấu trừ hiện tại bằng cách giảm thuế TNDN

phải nộp trong tương lai và hồn tồn có thể kiểm sốt quyền truy cập của người

khác để có được khoản lợi ích này.

Như vậy, việc ghi nhận tài sản thuế TNDN hỗn lại là một khoản mục tài

sản hồn tồn phù hợp với điều kiện ghi nhận về tài sản theo quy định của chuẩn

mực kế toán. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ thu được lợi ích kinh tế khi chắc chắn

trong tương lai doanh nghiệp có đủ lợi nhuận chịu thuế để được hưởng sự giảm

trừ về thuế đó. Ngược lại, nếu trong tương lai doanh nghiệp khơng có đủ lợi nhuận

chịu thuế để được hưởng sự giảm trừ về thuế thì doanh nghiệp sẽ khơng thu được

lợi ích kinh tế từ tài sản này. Khi đó, doanh nghiệp khơng được ghi nhận là tài sản

thuế TNDN theo nguyên tắc thận trọng của kế toán.

Thực tế cho thấy, việc chắc chắn ghi nhận một khoản lợi nhuận có thể đạt



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phương thức xác định thuế TNDN hiện hành

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×