Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

24



tiên về kế toán thuế TNDN bắt đầu được bàn thảo trong những năm 1930, 1940 và

dần được phát triển trên các tạp chí chuyên nghiệp vào những năm 1950. Vấn đề

vướng mắc đặt ra trong giai đoạn này là các loại thuế thu nhập được ghi nhận là

một khoản chi phí hay được ghi nhận là một khoản phân phối lợi nhuận? Câu hỏi

này đã được đưa ra trong một hội nghị chuyên đề năm 1944 về vấn đề kế tốn

thuế TNDN. Sau đó cũng đã có nhiều quan điểm cho rằng việc ghi nhận thuế TNDN

như một khoản chi phí là phù hợp với lý thuyết độc quyền hơn là việc xem xét

chúng là một phần thu nhập được phân phối theo quan điểm của lý thuyết thực

thể. Bên cạnh đó, các giao dịch phức tạp của nền kinh tế đã đẩy khoảng cách về sự

khác biệt giữa lợi nhuận kế toán (LNKT) và thu nhập chịu thuế (TNCT) ngày càng xa

dẫn đến cần phải xem xét lại các vấn đề thuế thu nhập hoãn lại của Hội đồng

nguyên tắc kế toán Mỹ (APB) trong những năm 1960, Ủy ban về các thủ tục kế toán

(CAP), Hội đồng Chuẩn mực Kế tốn tài chính (FASB). Tuy nhiên, giai đoạn này vẫn

còn thiếu sự thống nhất về các giải pháp cho vấn đề phức tạp của kế toán thuế

TNDN. Cho đến đầu tháng 6 năm 1979 chuẩn mực kế tốn quốc tế số 12 (IAS 12)

được chính thức ban hành trên cơ sở bản dự thảo công bố vào tháng 4/1978. Cho

đến nay IAS 12 liên tục được bổ sung, sửa đổi để đạt được mục tiêu làm rõ cách

thức xử lý kế tốn thuế TNDN nhằm trình bày thông tin thuế TNDN trên BCTC một

cách rõ ràng và trung thực hơn.

Phụ lục 1. Diễn biến chính sửa đổi và bổ sung các quy định của IAS 12.

Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của kế tốn thuế TNDN có thể

thấy rằng, kế tốn thuế TNDN hình thành và phát triển xuất phát từ sự cần thiết xử

lý mối quan hệ giữa quy định và nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung với các

quy định của chính sách thuế về thuế TNDN nhằm thực hiện mục đích của chính

sách thuế và của kế tốn trong việc cung cấp các thông tin trên BCTC.

1.1.2. Bản chất của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Kế toán thuế TNDN được hiểu là việc thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về

thuế TNDN, là cầu nối giữa khuôn khổ quy định về kế tốn và chính sách thuế. Trên

thực tế vẫn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về bản chất của kế toán thuế TNDN.



25



Theo Phan Thị Anh Đào (2012), "Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là kế

tốn ghi nhận doanh thu, chi phí và đo lường kết quả kinh doanh theo các quy định

của thuế". Theo quan điểm này, kế toán thuế xuất phát từ thái độ nhằm liên kết

các qui định về kế toán và thuế, tức là có sự thống nhất cao trong việc tuân thủ các

qui định của thuế để xác lập cách thức kế toán tại doanh nghiệp; doanh thu, chi phí

được ghi nhận một cách khá cứng nhắc theo các quy định cụ thể của chính sách

thuế nhằm xác định chỉ tiêu TNCT phục vụ cho mục đích tính và nộp thuế thu nhập.

Tuy nhiên, việc ghi nhận doanh thu, chi phí đơn thuần như vậy sẽ khơng đảm bảo

tính khách quan và nguyên tắc phù hợp trong việc ghi nhận doanh thu, chi phí theo

các ngun tắc kế tốn được chấp nhận chung. Khái niệm kế toán thuế TNDN mà

tác giả Phan Thị Anh Đào đưa ra mới chỉ đề cập đến một góc độ của kế tốn thuế

TNDN, chưa thực sự phù hợp, chưa phản ánh hết bản chất của kế toán thuế TNDN.

Speake (2011) cũng cho rằng, các quy định của luật thuế chỉ dùng để tính toán thuế

TNDN phải nộp.

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 (VAS17): "Kế toán thuế thu nhập

doanh nghiệp là kế toán những nghiệp vụ do ảnh hưởng của thuế thu nhập doanh

nghiệp trong năm hiện hành và trong tương lai của: Việc thu hồi hoặc thanh toán

trong tương lai giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả đã được

ghi nhận trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp; Các giao dịch và các sự

kiện khác trong năm hiện tại đã được ghi nhận trong báo cáo kết quả kinh doanh"

(Bộ Tài chính, 2006).

Theo FASB: "Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là việc xác định số thuế

phải nộp hoặc hoàn lại cho năm hiện hành và thuế thu nhập hoãn lại phải trả, tài

sản thuế thu nhập hoãn lại trong tương lai của các sự kiện đã được ghi nhận trong

báo cáo tài chính của một doanh nghiệp" (FASB, 2007).

Theo IAS 12: "Kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là việc phản ánh các

hậu quả về thuế ở kỳ hiện tại và tương lai của sự phục hồi trong tương lai về giá trị

ghi sổ của các khoản mục tài sản, nợ phải trả và các giao dịch, sự kiện khác được

ghi nhận trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp" (IAS 12, 2012).



26



Theo quan điểm của hệ thống chuẩn mực kế tốn quốc tế và Việt Nam thì

kế tốn thuế TNDN là một phần hành của kế tốn tài chính. Thực chất thuế TNDN chỉ

là đối tượng mà kế toán tài chính cần phản ánh, ghi chép và lập báo cáo. Các quy

định của chính sách thuế về doanh thu tính thuế và chi phí được trừ chỉ nhằm mục

đích xác định số thuế phải nộp theo quy định của pháp luật thuế, nó chỉ mang tính

chất làm rõ đối tượng thuế TNDN của kế tốn. Kế tốn thuế TNDN khơng chỉ đơn

thuần là việc xác định và trình bày số thuế TNDN phải nộp theo luật thuế mà còn

bao gồm các kỹ thuật xử lý mối quan hệ giữa kế tốn và thuế nhằm xác định, ghi nhận

và trình bày những thơng tin về thuế TNDN hỗn lại phát sinh từ chênh lệch tạm

thời do có quy định khác biệt trong việc ghi nhận của chính sách thuế và kế toán về

các khoản mục tài sản, nợ phải trả hay các giao dịch, sự kiện khác có liên quan đã

được ghi nhận trên BCĐKT và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh

nghiệp.

Xuất phát từ những phân tích trên cho thấy, kế toán thuế TNDN phải dựa

trên các quy định và nguyên tắc kế toán để thực hiện mục tiêu của chính sách thuế và

mục tiêu của kế tốn tài chính. Trên cơ sở đó, tác giả cho rằng: Kế toán thuế TNDN

là việc vận dụng những nguyên tắc, phương pháp kế toán để xác định số thuế TNDN

phải nộp (hoặc được hoàn lại) theo quy định của pháp luật thuế trong năm hiện

hành và ghi nhận số thuế TNDN phải nộp, hoặc được khấu trừ trong tương lai do

những quy định khác biệt giữa khung pháp lý về kế tốn và chính sách thuế của các

khoản mục tài sản, nợ phải trả đã được ghi nhận trên BCTC của năm hiện hành.

1.1.3. Mục tiêu của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Xuất phát từ những quan điểm khác nhau về kế toán thuế dẫn đến những

quan điểm khác nhau về mục tiêu của kế toán thuế TNDN.

Theo quan điểm của Phan Thị Anh Đào (2012): "Kế toán thuế là loại hình kế

tốn có sự liên kết giữa kế tốn và thuế. Loại hình kế tốn này khi được áp dụng

trong doanh nghiệp hoàn toàn dựa vào các qui định của chính sách thuế trong việc

ghi chép và xử lý số liệu. Thông tin cung cấp đồng thời cho cả mục tiêu kế toán và

mục tiêu xác định thuế thu nhập doanh nghiệp nên khơng có sự khác biệt giữa lợi



27



nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế".

Theo quan điểm này, kế toán thuế chỉ nhằm mục tiêu xác định số thuế phải

nộp và thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp do hoàn toàn dựa trên các quy

định của chính sách thuế. Tác giả luận án cho rằng, mục tiêu này chưa thật sự đầy

đủ. Nếu xem xét bản chất của kế toán thuế TNDN như phân tích trên thì mục tiêu

của kế tốn thuế TNDN khơng chỉ dừng lại ở việc xác định số thuế TNDN phải nộp

theo luật thuế mà cần phải cung cấp các thông tin về sự ảnh hưởng từ những quy

định khác biệt giữa khn khổ pháp lý về kế tốn và chính sách thuế đến các chỉ

tiêu liên quan trên BCTC.

Theo IAS 12 và VAS 17: Mục tiêu của kế toán thuế TNDN là kế toán những

nghiệp vụ do ảnh hưởng của thuế TNDN trong năm hiện hành và trong tương lai

của việc thu hồi và thanh toán trong tương lai giá trị ghi sổ của các khoản mục tài

sản hoặc nợ phải trả đã được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán của doanh

nghiệp và các giao dịch và sự kiện khác trong năm hiện tại đã được ghi nhận trong

BCTC.

Theo quan điểm của Kieso, Weygandt, Warfield (2015): "Mục tiêu thứ nhất

của kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp là để ghi nhận số tiền thuế phải nộp hoặc

được hoàn lại trong năm hiện hành, mục tiêu thứ hai là phải ghi nhận thuế thu

nhập hoãn lại phải trả và tài sản thuế thu nhập hoãn lại phát sinh do các hậu quả

về thuế trong tương lai của các sự kiện đã được ghi nhận trong báo cáo tài chính".

Mục tiêu của thuế TNDN mà Kieso, Weygandt, Warfield (2015) đưa ra phù hợp với IAS

12 và VAS 17 đồng thời cũng phù hợp với bản chất của kế toán như đã phân tích tại

mục 1.1.2. Như vậy, mục tiêu của kế tốn thuế TNDN khơng chỉ nhằm xác định số

thuế TNDN phải nộp theo chính sách thuế và báo cáo tình hình thực hiện nghĩa vụ

thuế TNDN đối với Nhà nước mà còn xử lý những tác động của thuế TNDN đến các

khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả đã được ghi nhận trong bảng cân đối kế toán

(BCĐKT) và các sự kiện khác của doanh nghiệp trong năm hiện hành và các năm

trong tương lai. Bằng việc thực hiện các mục tiêu trên, kế toán thuế TNDN đã thể

hiện một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thơng tin tồn diện và đầy đủ về thuế



28



TNDN trên BCTC, giúp cho doanh nghiệp, nhà đầu tư và chủ nợ hiểu một cách đầy đủ

nhất về quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp về thuế TNDN, tạo tiền đề, cơ sở cho

những quyết định phù hợp, đúng đắn khi sử dụng thơng tin kế tốn. Như vậy, có

thể khái quát mục tiêu cuối cùng của kế toán thuế TNDN trên các nội dung cụ thể

sau:

Một là, xác định và ghi nhận số tiền thuế phải nộp hoặc được hoàn lại

trong năm hiện hành.

Hai là, xác định và ghi nhận thuế thu nhập hoãn lại phải trả và tài sản thuế

thu nhập hoãn lại phát sinh do tác động về thuế trong tương lai của các sự kiện đã

được ghi nhận trong BCTC.

Ba là, cung cấp thông tin hữu ích về thuế TNDN hiện hành và hoãn lại trên

BCTC cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế.

1.1.4. Vai trò của kế tốn thuế thu nhập doanh nghiệp

Vai trò của kế toán thuế TNDN thể hiện qua ý nghĩa của các thông tin về

thuế TNDN trên BCTC đối với các đối tượng sử dụng thông tin phục vụ cho việc ra

quyết định kinh tế của các đối tượng sử dụng thơng tin. Thuế TNDN là một đối

tượng kế tốn có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động

sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc hạch toán thuế TNDN liên quan nhiều

đến việc đánh giá, phán đốn tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thông tin về

thuế TNDN hiện hành không chỉ phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ, trách

nhiệm của doanh nghiệp với Nhà nước mà còn thể hiện hình ảnh và uy tín của

doanh nghiệp trong việc chấp hành và tuân thủ quy định pháp luật của Nhà nước

về thuế. Thông tin về thuế TNDN hỗn lại trên BCTC lại vơ cùng quan trọng trong

việc ra quyết định kinh tế và giám sát hoạt động doanh nghiệp của các đối tượng

sử dụng thông tin. Nghiên cứu của Kieso, Weygandt, Warfield (2015) cũng cho thấy,

việc ghi nhận thuế TNDN hoãn lại phải trả hay tài sản thuế TNDN hoãn lại sẽ làm

tăng, giảm thuế TNDN phải nộp trong tương lai vì việc hạch toán thuế TNDN liên

quan đáng kể đến phán đoán về dòng tiền của doanh nghiệp trong tương lai. Đặc

biệt là khi phân bổ các khoản lỗ hiện tại cho các năm trong tương lai, làm giảm chi



29



phí thuế TNDN trong tương lai, tăng thu nhập ròng. Nếu khơng ghi nhận tài sản

thuế TNDN hoãn lại từ các khoản lỗ được phân bổ sẽ không thể đánh giá được một

cách tồn diện lợi ích và dòng tiền của doanh nghiệp từ những khoản lỗ, làm sai

lệch thông tin trên BCTC. Như vậy, việc xử lý và cung cấp thông tin hữu ích về thuế

TNDN trên BCTC sẽ giúp cho lãnh đạo doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng

thông tin về thuế TNDN trên BCTC đánh giá tốt hơn về tình hình tài chính, dòng

tiền của doanh nghiệp từ đó có những quyết định đúng đắn, hợp lý trong quản lý

và đầu tư. Khi nhìn vào BCĐKT nhiều chuyên gia tài chính sẽ khơng tin tưởng hồn

tồn vào giá trị của vốn chủ sở hữu nếu trên BCĐKT không ghi nhận thuế TNDN

hoãn lại (Doehring, 2011). Doehring (2011) đã chỉ ra bốn lý do chính khiến cho thuế

TNDN hỗn lại trở nên quan trọng trong việc đánh giá tình hình tài chính của doanh

nghiệp đó là: "Thuế thu nhập doanh nghiệp hỗn lại góp phần xác định thu nhập

tích lũy của doanh nghiệp chính xác hơn; cung cấp một thước đo chính xác hơn về

giá trị vốn chủ sở hữu; Kiểm soát thu nhập bằng cách tăng nghĩa vụ thuế thu nhập

doanh nghiệp trong những năm "tốt" và giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong

những năm "xấu"; Khi thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại giảm trên bảng cân

đối kế tốn, việc hồn nhập thuế thu nhập doanh nghiệp hỗn lại sẽ mang lại giá

trị lợi ích cho doanh nghiệp về thuế. Đây sẽ là một bước đệm cho hoạt động của

doanh nghiệp".

Ngoài những tác động từ thuế TNDN đến tình hình tài chính của doanh

nghiệp như phân tích trên thì việc thuyết minh rõ ràng, đầy đủ và chi tiết về cơ sở

tính thuế TNDN hiện hành, hỗn lại trên BCTC cũng góp phần khơng nhỏ trong việc

đánh giá về tính minh bạch, rõ ràng của BCTC, vì thuế TNDN là các chỉ tiêu hết sức

nhạy cảm đến lợi ích, nghĩa vụ, trách nhiệm của doanh nghiệp với Nhà nước. Vì

vậy, các doanh nghiệp phải cung cấp một bức tranh rõ ràng về nghĩa vụ thuế hiện

tại, tiềm năng và lợi ích về thuế TNDN trong tương lai cho các nhà đầu tư.

1.1.5. Khung pháp lý về kế toán thuế thu nhập doanh nghiệp

Khung pháp lý về kế toán quy định các nguyên tắc và phương pháp kế toán

phục vụ cho việc lập BCTC. Kế toán thuế TNDN là một phần hành của kế tốn tài



30



chính nên khung pháp lý về kế toán thuế TNDN cũng thuộc hệ thống khung pháp lý

về kế toán. Tùy thuộc vào đặc điểm cấu trúc pháp lý, tính chất sở hữu, trình độ

phát triển của nền kinh tế mà khung pháp lý về kế tốn trong mỗi thời kỳ tại mỗi

quốc gia có sự khác nhau. Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của kế toán

cho thấy, giai đoạn đầu của nền sản xuất hàng hóa, việc hạch tốn, kế tốn đã hình

thành một cách tự phát phục vụ cho nhu cầu quản trị ở các doanh nghiệp, khung

pháp lý về kế tốn chưa được hình thành. Khi nền kinh tế phát triển ở mức độ cao

hơn, hoạt động kinh tế của doanh nghiệp không chỉ là mối quan tâm của riêng ơng

chủ mà liên quan đến lợi ích, mục tiêu của nhiều chủ thể khác như nhà đầu tư, Nhà

nước, chủ nợ…đòi hỏi khung pháp lý về kế tốn nói chung và kế tốn thuế TNDN

nói riêng phải ngày một hồn thiện nhằm đảm bảo lợi ích và mục tiêu của các thủ

thể kinh tế. Về cơ bản, khung pháp lý về kế toán thuế TNDN của các quốc gia bao

gồm các thành tố sau:

+ Luật kế toán: Luật kế tốn là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất do quốc

hội hoặc cơ quan có chức năng lập pháp ban hành. Luật kế toán thường bao gồm

những quy định chung về kế toán.

+ Văn bản hướng dẫn thực hiện Luật: Ở nhiều quốc gia, các cơ quan hành

pháp thường ban hành các văn bản hướng dẫn, cụ thể hoá các quy định của Luật,

các văn bản này phải tuân thủ luật đã ban hành. Các quy định dưới luật này khá

phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới.

+ Hệ thống chuẩn mực kế toán: Chuẩn mực kế toán là hệ thống các nguyên

tắc và phương pháp kế toán được thiết lập với chức năng chủ yếu là hướng dẫn

nghiệp vụ kế toán nhiều hơn là các quy định quản lý kế toán.

+ Hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện chuẩn mực. Ở nhiều quốc

gia, để thuận tiện cho việc thực hiện chuẩn mực kế toán, cơ quan hành pháp cũng

thường ban hành những văn bản hướng dẫn thực hiện chuẩn mực như: thông tư,

chế độ kế tốn.

+ Ngồi các quy định cơ bản trên, còn có các quy định của thị trường

chứng khốn đòi hỏi kế toán phải tuân thủ. Đặc biệt là đối với những nước theo hệ



31



thống luật chung, có thị trường chứng khốn phát triển. Để đảm bảo tính minh

bạch cho thị trường, cơ quan quản lý thị trường chứng khoán cũng ban hành một

số quy định liên quan đến kế toán như các quy định về báo cáo và công khai tài

chính đối với những cơng ty niêm yết chứng khốn.

Phần lớn các quốc gia hiện nay là xây dựng hệ thống luật theo hướng Luật

chung. Vì vậy, luật kế tốn mang tính định hướng chung, còn phương pháp kế tốn

chủ yếu được hướng dẫn trong chuẩn mực kế toán. Do nhu cầu hội nhập kinh tế

quốc tế ngày càng sâu rộng, việc hướng tới một hệ thống chuẩn mực kế toán thống

nhất trên phạm vi quốc tế đã và đang trở thành một xu hướng tất yếu.

1.2. MỐI QUAN HỆ GIỮA KHN KHỔ QUY ĐỊNH VỀ KẾ TỐN VÀ CHÍNH SÁCH

THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP



Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển kế tốn thuế TNDN cho thấy,

khn khổ pháp lý quy định về kế toán thuế TNDN phụ thuộc chủ yếu vào quan

điểm về mối quan hệ này trong việc xây dựng chính sách.

1.2.1. Các quan điểm về mối quan hệ giữa khuôn khổ quy định về kế tốn

và chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp

Các khn khổ quy định về kế toán hướng tới việc tổ chức thiết lập một hệ

thống thơng tin thích hợp, đáng tin cậy về tình hình tài chính và q trình hoạt

động sản xuất kinh doanh trong đơn vị nhằm mục đích quản lý, kiểm tra, kiểm soát

và ra quyết định của nhà quản lý, cổ đông, chủ nợ, các cơ quan chức năng.

Chính sách thuế TNDN được hiểu là tổng thể các quy định pháp luật đề cập

đến công tác quản lý thuế, các quy định về đối tượng nộp thuế, cơ sở tính thuế

TNDN bao gồm, doanh thu, TNCT, các khoản chi phí được trừ khi tính thuế TNDN,

thuế suất, các quy định về miễn giảm, ưu đãi thuế. Xét về cấu trúc pháp lý, chính

sách thuế TNDN bao gồm: Luật thuế TNDN, luật quản lý thuế, các văn bản hướng

dẫn thực hiện nhằm thực hiện mục tiêu quản lý vĩ mô, điều tiết nền kinh tế và đảm

bảo nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước.

Mối quan hệ giữa kế toán và thuế TNDN chịu ảnh hưởng bởi các mục tiêu

và các nguyên tắc, quy định của kế tốn và chính sách thuế nhằm thực hiện cả hai



32



mục tiêu của kế toán và thuế. Tuy nhiên, mức độ của mối quan hệ này ở các quốc

gia có sự khác nhau do sự tác động của nhiều nhân tố kinh tế, xã hội như cấu trúc

pháp lý, tính chất sở hữu và hệ thống chính trị, trình độ phát triển kinh tế, đặc biệt

là sự phát triển của thị trường chứng khốn. Nhóm các nước theo trường phái luật

chung (Common Law) như Anh, Mỹ, hệ thống chuẩn mực kế toán được xây dựng

theo quan điểm độc lập tương đối với chính sách thuế TNDN. Ngược lại, với các

nước theo hệ thống luật la mã (Roman Law) như Pháp, Đức, Ý hệ thống chuẩn mực

kế toán chịu ảnh hưởng nhiều của chính sách thuế. Ở những nước có chế độ cơng

hữu hệ thống chuẩn mực kế tốn được xây dựng phục vụ chủ yếu cho quản lý nhà

nước, do vậy hệ thống chuẩn mực kế tốn và chính sách thuế TNDN có mối quan

hệ chặt chẽ với nhau, cả hai chính sách đều phục vụ cho quản lý nhà nước. Ngược

lại, ở những nước mà sở hữu tư nhân mang tinh phổ biến, lúc này hệ thống chuẩn

mực kế toán phục vụ cho nhu cầu quản lý của các ông chủ tư nhân còn chính sách

thuế phục vụ cho quản lý nhà nước. Do vậy, hệ thống chuẩn mực kế tốn được

thiết kế tương đối độc lập với chính sách thuế TNDN. Ở những nước có nền kinh tế

phát triển, đặc biệt là sự phát triển của thị trường chứng khốn u cầu về tính

minh bạch, khách quan của thơng tin kế tốn trên BCTC ở mức độ cao, đòi hỏi hệ

thống chuẩn mực kế toán phải độc lập với chính sách thuế TNDN. Ngược lại, ở

những nước có doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ trọng lớn thì hệ thống chuẩn

mực kế tốn khá phục thuộc vào chính sách thuế do việc tuân thủ thuế được đề

cao. Trên cơ sở phân tích các nhân tố tác động đến mối quan hệ giữa hệ thống

chuẩn mực kế tốn và chính sách thuế, có thể thấy các nghiên cứu về mối quan hệ

giữa kế toán và thuế tồn tại hai quan điểm chính như sau:

Một là, quan điểm thống nhất các quy định trong khn khổ quy định về kế

tốn và chính sách thuế.

Theo quan điểm này, các quy định của chính sách thuế và chuẩn mực, chế

độ kế tốn có sự thống nhất với nhau. Thơng tin kế tốn sử dụng trực tiếp cho mục

đích tính thuế mà khơng cần điều chỉnh. Quan điểm này làm giảm thiểu tính phức

tạp trong việc sử dụng thơng tin kế tốn để kê khai và quyết toán thuế, hạn chế rủi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TRONG DOANH NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×