Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Lý thuyết về phương pháp nghiền

1 Lý thuyết về phương pháp nghiền

Tải bản đầy đủ - 0trang

những đường cong khép kính, càng gần điểm treo của trục thì quỹ đạo

chuyển động càng gần có dạng hình tròn. Do có hành trình chuyển động

lớn nên khả năng ép và mài mòn tăng, khả năng nghiền nhỏ tăng nhưng

lại làm tăng nhanh sự mài mòn tấm lót và tăng công suất động cơ.

Công dụng: chủ yếu dùng để đập thơ và đập trung bình các vật liệu có độ bền

nén trên 2000 kg.cm-3.

Ưu điểm: năng suất cao, kết cấu đơn giản, giá thành hạ và không yêu cầu

công nhân có tay nghề cao, kích thước máy gọn, có thể đập nghiền được các vật liệu

có độ cứng cao.

Nhược điểm: máy chỉ làm việc nửa chu kỳ, rung và lắc do vật liệu di chuyển

khơng cân bằng, vì thế móng máy cần phải xây chắc chắn, tiêu hao năng lượng lớn.

1.1.2.2 Máy nghiền nón

Trong máy nghiền nón, sự đập vỡ vật liệu xảy ra giữa nón cố định (buồng đập

và nón di động (nón đập) nằm trong buồn đập.

Có hai loại máy nghiền nón là máy nghiền nón trục treo (còn gọi là máy

nghiền gates và máy nghiền nón trục cơngson (còn gọi là máy nghiền simons).

Trong cả hai loại máy này, khoảng cách giữa bề mặt của hai nón điều giảm xuống

theo hướng ra của vật liệu.

Cơng dụng: được sử dụng để đập thơ, đập trung bình và đập nhỏ các vật liệu

rắn.

Ưu điểm: năng lượng tiêu hao riêng cho một tấn sản phẩm nhỏ hơn máy

nghiền má, vì trong máy này vật liệu khơng nhưng bị ép mà còn bị uốn. Năng suất

cao, chuyển động êm vì khơng có tải trọng động và q trình làm việc liên tục trong

cả vòng quay nên khơng cần đến vơ lăng trượt tải. Kích thước sản phẩm đồng nhất.

Nhược điểm: kết cấu máy phức tạp, nặng nề, giá thành cao và sữa chữa máy

phức tạp. Chiều cao của máy lớn. Với cùng một năng suất, máy đập hàm có thể đập

được vật liệu to hơn.

1.1.2.3 Máy nghiền trục



8



Quá trình nghiền vật liệu dựa trên cơ sở vật liệu được nghiền nhỏ dưới áp lực

của hai trục khi vật liệu rơi vào khe giữa hai trục cán quay ngược chiều nhau. Kích

thước của vật liệu ra khỏi máy phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai trục và có thể

điều chỉnh được. Máy đập trục có thể có loại đập trục đơn, loại đập trục đôi và loại

đập trục ba.

Công dụng: dùng để đập lần hai (đập trung bình và đập nhỏ) các loại vật lệu

như: đá vôi, đá sét, đá phấn, than….. đã nung. Máy này cũng được sử dụng rộng rải

để nghiền các vật liệu mềm hoặc dẻo nhớt như đất sét, cao lanh.

Ưu điểm: cấu tạo đơn giản, làm việc tin cậy, ổn định, tiêu hao năng lượng ít

so với máy nghiền nón.

Nhược điểm: nghiền đập vật liệu kém hiệu quả. Khi đập trục nhẵn sản phẩm

có khi ra ở dạng tấm phẳng không mong muốn, năng suất thấp, mức độ nghiền và

chất lượng không cao.

1.1.2.4 Máy đập búa

Trong máy đập búa, vật liệu nạp vào được đập nhỏ do tác dụng va đập của các

búa đập rắn trên rôto quay với tốc độ cao, do sự va đập của vật liệu với thành máy

đập hoặc do tác dụng va đập của vật liệu với nhau. Máy đập búa là máy đập rất phổ

biến trong công nghiệp xi măng được sử dụng để đập đá vôi và đá phấn.

Máy đập búa có hai dạng là máy đập búa thơng thường (một rôto hay hai rôto)

và máy đập búa phản kích:

• Máy đập búa một hay hai rơto: đây là thiết bị được sử dụng rộng rải trong

công nghiệp xi măng để đập đá vôi, đất sét hay than. Vật liệu nạp vào được

đập sơ bộ bằng các búa đập, các hạt nhỏ lọt qua ghi còn các hạt lớn nằm trên

ghi lại được đập tiếp lần hai. Kích thước sản phẩm phụ thuộc vào khoảng cách

giữa các ghi và có thể điều chỉnh được.

• Máy đập búa phản kích: quá trình đập nhỏ vật liệu trải qua ba quá trình. Quá

trình đập đầu tiên chủ yếu xảy ra khi các phân tử đập gắn trên rôto đập vào vật

liệu. các tấm chắn lắp trong máy đập búa có tác dụng giữ vật liệu ở trong

buồng đập, tại đó nó lại chịu tác động của các búa đập, cứ thế cho đến khi các

hạt lọt qua khe hở giữa rôto và mép dưới của tấm chắn. Quá trình đập thứ hai

khi vật liệu đập va vào tấm chắn. Quá trình thứ ba khi các hạt vật liệu va vào

9



nhau. Với loại máy đập này, va đập là lực chủ yếu phá vỡ vật liệu và sự phá vỡ

xảy ra theo các vết nứt hình thành trong cục vật liệu.

1.1.3 QUÁ TRÌNH VÀ THIẾT BỊ NGHIỀN MỊN

1.1.3.1 Máy nghiền đĩa

Cơng dụng: máy nghiền đĩa được sử dụng trong ngành chế biến lương thực,

thực phẩm, sản xuất tinh bột, sản xuất giấy.

Ưu điểm: kích thước sản phẩm nhỏ, độ mịn cao.

Nhược điểm: công suất nghiền thấp, năng lượng tiêu hao riêng lớn so với các

loại máy nghiền khác nên khả năng và phạm vi sử dụng ngày càng hạn chế. Chỉ để

nghiền những loại vật liệu khô.

1.1.3.2 Máy nghiền bi

Công dụng: máy có thể dùng nghiền khơ, nghiền mịn hoặc rất mịn. Trong lĩnh

vực công nghiệp sản xuất vật liệu xậy dựng, máy nghiền bi là máy chủ đạo để

nghiền bột vật liệu.

Ưu điểm: có thể sấy nghiền đồng thời trong cùng một máy, cấu tạo tương đối

đơn giản, làm việc ổn định và tin cậy. Sử dụng dễ dàng và mức độ đập nghiền cao,

ổn định. Vật liệu nghiền được trộn khá đồng nhất.

Nhược điểm: tốc độ chuyển động của bi đạn nhỏ, làm hạn chế số vòng quay

của máy nghiền. Tất cả bi đạn trong máy nghiền không đồng thời tham gia làm việc.

Kích thước lớn, máy nặng và làm việc ồn, tiêu hao năng lượng điện riêng lớn,

momen mở máy lớn.

Nguyên lý làm việc: máy nghiền bi là một ống thép hình trụ, bên trong có vật

liệu nghiền làm bằng thép hình dạng và kích thước khác nhau. Khi thùng máy

nghiền quay, các viên bi dưới tác dụng của lực ly tâm sẽ nâng lên đến một độ cao

nhất định, khi đó trọng lượng của các viên bi sẽ lớn hơn so với lực ly tâm, các viên

bi sẽ rơi suống đập vở vật liệu nghiền. sự quay của thùng nghiền còn làm các viên

bi chuyển động trược tương đối với nhau, gây ra sự trà xát vật liệu nghiền khi nó bị

lọt vào giữa các viên bi. Vật liệu chuyển động dọc theo chiều dài của thùng nghiền

do áp lực từ phía đầu vào của thùng nghiền tạo ra bởi dòng nạp liên tục vào máy.

Vật liệu nạp vào càng nhiều thì sản phẩm nghiền ở đầu ra càng lớn, tuy nhiên thời

10



gian vật liệu ở trong máy nghiền sẽ giảm, do đó sản phẩm nghiền sẽ có kích cở hạt

thơ hơn.

1.1.3.3Máy nghiền bánh xe

Cơng dụng: dùng để nghiền nhỏ và nghiền bột thô các loại vật liệu khác nhau

như đất sét đá vôi, cát….

Ưu điểm: làm việc tin cậy, thay thế các chi tiếc bị hỏng nhanh. Có thể nghiền

vật liệu kích thước khá lớn, mức độ đập nghiền lớn, dể điều chỉnh độ mịn trong

khoảng tương đối rộng. Có thể nghiền được vật liệu dẻo, ẩm, đồng thời cải thiện

tính chất của chúng khi nghiền trộn.

Nhược điểm: cấu tạo máy cồng kềnh, nặng nề, sữa chữa máy phức tạp. năng lượng

tiêu hao lớn, năng suất máy thấp hơn so với trọng lượng máy và giá thành.

1.2 Giới thiệu về nguồn nguyên liệu

1.2.1 Trữ lượng đá vôi ở Việt Nam

Ở Việt Nam, có khoảng 125 tụ khống đá vơi đã được tìm kiếm và thăm dò,

trữ lượng ước đạt 13 tỷ tấn, tài nguyên dự báo khoảng 120 tỷ tấn. Hầu hết các mỏ đá

vôi ở nước ta phân bố tập trung ở các tỉnh phía Bắc và cực Nam. Đá vôi ở Bắc Sơn và

Đồng Giao phân bố rộng và có tiềm năng lớn hơn cả [3].

Tại Kiên Giang có 440 triệu tấn đá vơi, có khả năng khai thác 342 triệu tấn.

Trong đó, trữ lượng phục vụ cho công nghiệp là 235 triệu tấn, đủ nguyên liệu để sản

xuất 4,6 triệu tấn clinker/năm trong suốt 40 năm.

Nghệ An là một trong số ít tỉnh ở Việt Nam có trữ lượng đá vơi rất lớn khoảng 2.361

triệu mét khối, phân bố hầu hết khắp các huyện trong tỉnh. Bốn vùng ở Nghệ An có trữ

lượng đá vơi tập trung lớn, có chất lượng cao là: vùng Tân Kỳ khoảng 2,7 tỷ tấn, vùng

Hoàng Mai trữ lượng 558 triệu tấn; vùng Anh Sơn - Đô Lương khoảng 300 triệu tấn,

hiện nay mới khảo sát thêm được 4 mỏ tổng lượng 157 triệu tấn. Ngồi ra, còn phân bố

rải rác ở các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Yên Thành, Diễn Châu,… Trên 4 tỷ tấn đá

vôi chất lượng cao để sản xuất xi măng, hằng năm Nghệ An cho phép sản xuất ở mức

15-20 triệu tấn xi măng chất lượng cao. Tuy nhiên, chỉ mới sản xuất được 2 triệu

tấn/năm. Hiện nay, Nghệ An có nhiều nhà máy sản xuất xi măng nhưng hầu hết đều có

những khó khăn, chỉ duy nhất Nhà máy xi măng Hoàng Mai hoạt động có hiệu quả,

đạt cơng suất thiết kế 1,5 triệu tấn/năm.

Hải Dương, đá vôi được phân bố chủ yếu trong phạm vi giữa sông Bạch Đằng và sông

Kinh Thày. Những núi có quy mơ lớn như núi Han, núi Áng Dâu, núi Nham Dương đã

được thăm dò tỉ mỉ. Đá vôi đôlômit tập trung ở dãy núi Han, núi dãy Hoàng Thạch - Hải

Dương với trữ lượng lên tới 150 triệu tấn. Hải Phòng, đá vơi tập trung chủ yếu ở Trại sơn

11



và Tràng kênh thuộc huyện Thuỷ Nguyên. Ngồi ra còn có những mỏ đá vơi phân bố rải

rác ở Dương Xuân - Pháp Cổ, Phi Liệt, Thiếm Khê, Mai Động và Nam Quan.



1.2.2 Các tính chất của đá vơi

Bảng 1-1 mơ tả các tính chất vật lý cơ bản của đá vôi như: độ cứng, khối lượng thể



tích độ hút nước,...

Bảng 1-1 Các tính chất vật lý của đá vơi

Thơng số



Giá trị



Đá vơi có độ cứng



3



Khối lượng thể tích



2600 ÷ 2800 kg.m



Cường độ chịu nén



1700 ÷ 2600kg.cm



Độ hút nước



0,2 ÷ 0,5%



Độ chịu nén



60-->180 MPa



-3

-2



Bảng 1-2 liệt kê các thành phần trong đá vôi như: MgCO 3, SiO2, Al2O3,... Trong

đó, thành phần chiếm phần trăm chủ yếu là CaCO3 trên 97% [3].

Bảng 1-2 Các thành phần hóa học chủ yếu trong đá vơi

Thành phần hóa học chủ yếu



Đặc tính vật lý



CaCO3



98% Min



Độ trắng



97% Min



Fe2O3



0,01% Max



Độ sáng



92% Min



MgO



0,3% Max



Độ ẩm



0,3% Max



Al2O3



0,03% max



Mật độ



2,7g.cm



SiO2



0,1% Max



Độ cứng



3 mohs



Na2O



0,05% Max



Mất khi nung



43,1%



12



-3



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Lý thuyết về phương pháp nghiền

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×