Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Phương pháp bảo quản nguyên liệu và thành phẩm

3 Phương pháp bảo quản nguyên liệu và thành phẩm

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.3.1 Các quá trình xảy ra khi bảo quản hạt

Hạt sau khi thu hái vẫn diễn ra các hoạt động sống, các quá trình trao đổi chất của hạt

vẫn diễn ra để duy trì sự sống của tế bào phôi. Trong quá trình bảo quản trong hạt diễn

ra hàng loạt các biến đổi ảnh hưởng đến chất lượng hạt. Quá trình này diễn ra mạnh

hay yếu phụ thuộc vào môi trường bảo quản hạt.

Trong quá trình bảo quản hạt xảy ra các quá trình sinh lý – sinh hóa cơ bản như: Quá

trình hơ hấp, quá trình chín sau thu hoạch, quá trình tự bốc nóng...

1.3.1.1 Q trình hơ hấp

Hạt sau khi tách khỏi cây, khi bảo quản trong kho nó khơng quang hợp nhưng vẫn

thường xun trao đổi chất với mơi trường bên ngồi để lấy năng lượng duy trì sự

sống. Đây là quá trình trao đổi chất quan trọng nhất của hạt khi bảo quản.

Trong quá trình hô hấp các chất dinh dưỡng (chủ yếu là tinh bột) trong hạt bị oxy hóa

và bị phân hủy tạo năng lượng cung cấp cho các tế bào của hạt để duy trì sự sống.

Tùy vào điều kiện bảo quản mà hạt có thể hơ hấp hiếu khí hay yếm khí.

* Hơ hấp hiếu khí: Khi hàm lượng oxy chiếm khoảng 1/4 khoảng khơng trong

khối hạt thì hạt có thể hơ hấp hiếu khí. Khi đó hạt sử dụng oxy trong khơng khí để

oxy hóa Gluxit thành những chất trung gian phức tạp và cuối cùng là CO2 và H2O,

đồng thời sinh nhiệt và phân tán các sản phẩm này vào không gian xung quanh khối

hạt.

Phương trình tổng quát của quá trình hơ hấp hiếu khí

C6H12O6 + 6O2  6CO2 + 6H2O + 674 kcal

* Hơ hấp yếm khí: Khi khơng có oxy thì hạt sẽ hơ hấp yếm khí, khi đó các enzym

trong hạt sẽ tham gia oxy hóa Gluxit sinh ra năng lượng. Quá trình hơ hấp yếm khí

diễn ra phức tạp qua nhiều giai đoạn trung gian khác nhau.

Phương trình tổng quát của quá trình hô hấp yếm khí

C6H12O6  2C2H5OH + 2CO2 + 28,2 kcal

Sản phẩm cuối cùng là rượu và khí CO2, lượng nhiệt thoát ra ít hơn.

Dù hô hấp hiếu khí hay yếm khí đều làm hao hụt chất khô, khoảng trống giữa các hạt

dần tích lũy khí cacbonic. Ngồi ra hơ hấp còn sinh ra nước làm độ ẩm khối hạt tăng

lên. Đặc biệt quá trình hơ hấp còn tỏa nhiệt làm nhiệt độ khối hạt tăng lên đáng kể. Độ

ẩm và nhiệt độ của khối hạt tăng lên làm cho quá trình hô hấp của hạt càng mãnh liệt

thêm và dẫn đến hiện tượng tự bốc nóng.

28



1.3.1.2 Q trình chín sau thu hoạch

Khối hạt sau khi thu hoạch có mức độ chín khác nhau, do đó hạt sau khi thu hoạch

trong một thời gian và điều kiện nhất định, dưới tác dụng của các enzym, hạt hoàn

thiện chất lượng của mình.

Quá trình làm cho hạt sau thu hoạch tiếp tục biến đổi tới trạng thái chín hồn tồn

được gọi là quá trình chín sau thu hoạch. Đây là quá trình tổng hợp sinh lý - hóa sinh

xảy ra trong tế bào và mơ hạt. Quá trình này làm giảm lượng các chất hữu cơ hòa tan

trong nước, các chất hữu cơ phân tử thấp chuyển thành các chất hữu cơ phân tử cao

như: axitamin chuyển thành protein, đường thành tinh bột, tổng hợp glyxerin và axit

béo thành chất béo...

Quá trình chín sau thu hoạch làm cho chất lượng của hạt được hoàn thiện. Tuy nhiên,

trong quá trình chín sau thu hoạch hạt xảy ra quá trình tổng hợp phức tạp qua nhiều

giai đoạn khác nhau để biến các hợp chất hữu cơ đơn giản thành các chất phức tạp,

trong quá trình này thường giải phóng hơi nước và nhiệt làm cho hạt nóng và ẩm thúc

đẩy các quá trình hư hỏng. Do đó trong quá trình bảo quản cần phải có biện pháp tạo

điều kiện phát huy các biến đổi có lợi, hạn chế các biến đổi khơng tốt.

Quá trình chín sau thu hoạch thường chỉ kéo dài trong vài tuần lễ rồi hạt bước vào thời

kỳ ổn định.

1.3.1.3 Sự mọc mầm của hạt trong quá trình bảo quản

Nẩy mầm là hiện tượng sinh lý bình thường của hạt khi gặp điều kiện thuận lợi thì

phôi hạt phát triển thành chồi mầm và rễ mầm. Nếu bảo quản không tốt, kho bị dột,

tường ngấm nước... hạt có thể nẩy mầm.

Khi nảy mầm, các enzym trong hạt hoạt động mạnh xúc tác quá trình chuyển hóa các

chất phức tạp thành các chất đơm giản làm thay đổi chất lượng hạt. Khi nảy mầm khối

lượng chất khô của hạt giảm, lượng nhiệt do hạt thải ra lớn làm tăng nhiệt độ và mọi

hoạt động của khối hạt, đồng thời làm thay đổi sau sắc thành phần hóa học của khối

hạt.

Hạt nẩy mầm được cần phải có đầy đủ 3 yếu tố: độ ẩm, nhiệt độ và oxy. Vì vậy khi

thu hoạch, chuyên chở, bảo quản cần hạn chế các yếu tố làm tăng khả năng nảy mầm

của hạt, tốt nhất là hạt phải thật khô, kho phải cách ẩm tốt, và bảo quản trong điều

kiện khơng có oxi càng tốt.



29



1.3.1.4 Qúa trình tự bốc nóng của khối hạt

Quá trình tăng nhiệt độ do bản thân khối hạt gây nên gọi là quá trình tự bốc nóng của

khối hạt. Đây là một trong những hiện tượng nguy hại nhất làm giảm chất lượng và số

lượng hạt khi bảo quản

Trong quá trình bảo quản các vật thể sống trong khối hạt (Chủ yếu là hạt, vi sinh vật,

sâu mọt…) gặp điều kiện thuận lợi sẽ hô hấp mạnh sinh ra một lượng nhiệt lớn. Do

khối hạt có tính truyền nhiệt và dẫn nhiệt kém nên nhiệt sinh ra bị tích tụ trong khối

hạt làm cho nhiệt độ khối hạt tăng cao.

Quá trình tự bốc nóng của khối hạt ảnh hưởng xấu tới chất lượng của hạt. Làm thay

đổi màu sắc , mùi vị của hạt ngoài ra nó còn làm thay đổi thành phần hóa học của hạt,

giảm khả năng nảy mầm, độ tan rời, làm giảm khối lượng chất khơ của hạt…Nếu bốc

nóng nghiêm trọng có thể làm hư hỏng toàn bộ khối hạt.

Hiện tượng tự bốc nóng của khối hạt có thể chia thành các dạng:

- Dạng ổ: xuất hiện ở bất kỳ mộtvùng nào đó trong khối hạt

- Dạng lớp: Xảy ra ở lớp trên, lớp dưới hoặc lớp thẳng đứng trong khối hạt.

- Bốc nóng tồn bộ: Xảy ra trong tồn bộ khối hạt.

1.3.1.5 Hiện tượng nén chặt của khối hạt ( Sự dính của khối hạt)

Hiện tượng nén chặt của khối hạt là sự mất đi từng phần hoặc mất đi toàn bộ độ rời

của khối hạt. Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân gây ra:

- Do áp lực của lớp hạt: Những hạt ở phía dưới chịu áp lực nén của các hạt phía

trên, gây ra sự kết dính. Hiện tượng này xảy ra khi bảo quản hạt trong xilo quá cao

hoặc bảo quản lâu ngày không cào đảo.

- Do hiện tượng tự bốc nóng làm các hạt vón cục lại: Trong trường hợp này hạt

dính với nhau mạnh và bị mất độ rời hoàn toàn.

- Do làm lạnh thừa: nếu bảo quản khối hạt ở nhiệt độ quá thấp khối hạt sẽ bị đóng

băng tồn bộ gây ra hiện tượng kết dính.

- Do các ngun nhân khác như do cơn trùng, do vi sinh vật...

Dựa vào các biến đổi trên của hạt để làm cơ sở lựa chọn phương pháp bảo quản tối ưu

nhất. Quá trình bảo quản nguyên liệu phải đảm bảo:

* Tránh mất mát về khối lượng hay giảm mất mát đến mức thấp nhất.

* Giữ được chất lượng của mặt hàng được bảo quản.

* Có biện pháp làm tăng chất lượng mặt hàng bảo quản.

30



* Đảm bảo giá thành của một dơn vị bảo quản là thấp nhất.

Để bảo quản hạt một cách có hiệu quả (giảm mất mát về khối lượng, bảo đảm về chất

lượng và giảm chi phí lao động đến mức thấp nhất) cần phải nắm rõ tính chất, tình

trạng của khối hạt khi đem vào bảo quản.

Các tính chất chung của hạt và điều kiện của mơi trường xung quanh có liên hệ chặt

chẽ với nhau. Dựa trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ đó người ta đưa ra những chế

độ bảo quản thích hợp như:

 Bảo quản hạt ở trạng thái khô

Cơ sở của phương pháp: : Dựa vào khả năng hoạt động sinh lý thấp của tất cả các

phần tử sống có trong khối hạt khi lượng ẩm trong khối hạt thấp.

Khi độ ẩm của nguyên liệu nhỏ hơn độ ẩm tới hạn thì các quá trình sinh lý xảy ra

trong khối hạt chậm và hầu như không đáng kể. Trên cơ sở đó, người ta thường bảo

quản ở độ ẩm WHạt < WTới hạn (12÷14%). Hai phương pháp chính đó là sấy và phơi.

 Bảo quản hạt trạng thái lạnh

Cơ sở của phương pháp: Dựa vào sự nhạy cảm của các phần tử sống trong khối hạt

ở nhiệt độ thấp. Ở nhiệt độ thấp thì cường độ hô hấp của hạt giảm đáng kể

 Bảo quản hạt ở trạng thái thiếu khơng khí ( trạng thái kín)

Cơ sở của phương pháp: Dựa vào nhu cầu về oxy của các phần tử sống có trong khối

hạt. Ở điều kiện thiếu oxi hoạt động của vi sinh vật hiếu khí và cơn trùng giảm mạnh,

có thể bị đình chỉ hoặc bị tiêu diệt một cách đáng kể mà tính chất ban đầu của khối hạt

vẫn được ổn định. Quá trình bảo quản kín cần có những cơng nghệ phụ đi kèm như

làm sạch và phân loại, xông hơi tiệt trùng, thông gió hoặc đảo trộn, xử lý hóa chất

nhằm giúp cho cơng tác bảo quản có hiệu quả cao hơn.

Trong thực tế bảo quản cần dựa vào điều kiện khí hậu địa phương, dạng kho, chất

lượng hạt…để đưa ra biện pháp bảo quản thích hợp nhất.

Với đặc điểm nguyên liệu phục vụ cho nhà máy bột mì hoàn toàn phải nhập khẩu, do

đó hạt phải đảm bảo chất lượng. Với điều kiện khí hậu khu vực miền Trung nước ta

phương pháp bảo quản hạt ở trạng thái khơ là thích hợp nhất. Phương pháp này đơn

giản phù hợp với nguyên liệu nhập về, tiết kiệm chi phí. Trong quá trình bảo quản có

các biện pháp kiểm tra thích hợp nhằm làm giảm tổn hao trong quá trình bảo quản.

1.3.2 Các quá trình xảy ra khi bảo quản bột

Thời gian bảo quản của bột không dài do cấu trúc tế bào

hạt bị phá vỡ. Mặc dù vậy, trong quá trình bảo quản bột

vẫn xảy ra nhiều quá trình được chia làm hai nhóm:

- Nhóm bao gồm các quá trình có lợi.

- Nhóm bao gồm các quá trình khơng có lợi.

1.3.2.1 Các q trình khơng có lợi

Bao gồm tất cả các quá trình làm giảm chất lượng của bột

31



1) Quá trình trao đổi khí của khối bột

Cũng giống như khối hạt, bột thành phẩm trong quá trình bảo quản vẫn diễn ra các

hoạt động sống của mình, khối bột vẫn trao đổi khí không ngừng, vào thời kỳ đầu của

quá trình bảo quản xảy ra sự trao đổi mạnh giữa bột và không khí. Quá trình trao đổi

khí này bao gồm cả hơ hấp của các phân tử bột, hô hấp của vi sinh vật và một loạt các

quá trình oxy hóa khác như oxy hóa chất béo, chất màu...

Mức độ thoáng khí càng cao thì sự xâm nhập của oxy vào bột càng nhiều, quá trình

trao đổi khí xảy ra càng mạnh.

Khi bảo quản, nhiệt độ lớn hơn 200C và độ ẩm bột 14,5 - 15,5 % thì khối bột hô hấp

mạnh và có thể dẫn tới quá trình tự bốc nóng và nén chặt. Để khắc phục ảnh hưởng

xấu tới chất lượng bột, sau khi chế biến cần phải có giai đoạn làm nguội và sấy khơ

nếu như bột có độ ẩm cao.

2) Thay đổi độ axit và chỉ số axit béo của bột

Chỉ số axit béo đặc trưng cho sự thủy phân chất béo. Nếu bột bảo quản càng lâu thì

chuẩn độ axit và chỉ số axit béo càng cao. Dựa trên cơ sở đó có thể xác định được độ

tươi của bột.

Khi bảo quản bột ở nhiệt độ > 10 – 150C thì độ axit và chỉ số axit tăng. Nguyên nhân

là do các chất có trong bột bị biến đổi dưới tác dụng của enzym nội tại và vi sinh vật

phân hủy các chất trong thành phần của bột như phân hủy protein thành aminoaxit và

các sản phẩm trung gian, phân hủy phitin thành axit photphoric, men lipaza phân hủy

chất béo thành axit béo tự do và glixerin.

Độ axit và chỉ số axit tăng nhanh hay chậm tùy thuộc vào độ ẩm bột, nhiệt độ khơng

khí và chất lượng bột ban đầu.

3) Quá trình đắng của bột

Khi bảo quản bột trong thời gian dài ≥ 3 – 4 tháng sản phẩm thường có mùi hơi, và vị

đắng. Ngun nhân do quá trình thủy phân và oxy hóa chất béo gây lên.

Dưới tác dụng của men lipaza chất béo phân hủy thành axit béo và glixerin. Axit béo

không bền đặc biệt là axit béo không no dễ dàng oxy hóa thành những chất có gốc

xeton và aldehyt. Chính những chất này làm cho bột có mùi hơi, vị đắng.

Quá trình phân hủy các chất béo xảy ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào:

- Chất lượng hạt ban đầu: Hạt có chất lượng tốt khi nghiền bột quá trình đắng xảy

ra chậm, hạt nảy mầm hay bị bốc nóng thì quá trình đắng xảy ra nhanh hơn.



32



- Mức độ thoáng khí của khối sản phẩm: Nếu nhiều oxy thì quá trình oxy hóa chất

béo khơng no xảy ra nhanh, bột càng nhanh có vị hơi, mùi đắng.

- Độ ẩm của bột: Độ ẩm của bột cao có tác dụng ngăn ngừa quá trình oxy hóa chất

béo và gây đắng sản phẩm do ngăn ngừa sự xâm nhập của oxy vào chất béo. Tuy

nhiên độ ẩm cao làm cho các quá trình sinh lý khác xảy ra mãnh liệt hơn và tạo điều

kiện tốt cho vi sinh vật phát triển làm hỏng sản phẩm nhanh hơn.

- Nhiệt độ bảo quản: Ở nhiệt độ 30 – 350C các phản ứng thủy phân và oxy hóa chất

béo xảy ra mạnh.

- Ánh nắng mặt trời: thúc đẩy nhanh quá trình oxy hóa bột.

4) Hiện tượng nén chặt của sản phẩm

Trong quá trình bảo quản bột thường có hiện tượng vón cục và nén chặt lại, mất hẳn

tính tan rời. Tùy theo tính chất, mức độ và vị trí của hiện tượng nén chặt mà có thể

phân ra ba dạng:

- Ép chặt: Dạng bột bị ép chặt vẫn còn độ rời nhưng nếu khơng chú ý đảo bao

hoặc không trộn lên thì sản phẩm dễ dàng bị nén chặt lại.

- Đóng cục: Hiện tượng này xảy ra khi độ rời của khối bột đã giảm xuống nhiều,

lúc này bột thường vón cục lại thành những cục to nhỏ khác nhau.

Hiện tượng đóng cục thường xảy ra trong khối bột bảo quản lâu ngày, chất quá cao

hoặc khơng đảo bao thường xun

- Đóng mảng: Khối bột đóng thành từng mảng rất lớn và rất chắc phải dùng cuốc

mới xới lên được. Đó là kết quả phát triển của hiện tượng vón cục, bột thường có mùi

mốc.

5) Quá trình tự bốc nóng của khối bột

Quá trình tự bốc nóng trong khối bột xảy ra nhanh hơn trong khối hạt vì bề mặt hoạt

động của khối bột lớn hơn hạt nên các quá trình sinh lý xảy ra mạnh, vi sinh vật dễ

dàng xâm nhập và phát triển. Mặt khác do mức độ thông thoáng trong khối bột ít nên

nhiệt thoát ra chậm, tích tụ lại làm cho khối bột nóng nhanh.

1.3.2.2 Các q trình có lợi

Bao gồm các quá trình làm tăng chất lượng của bột. Đây là quá trình phức tạp và quan

trọng, làm tăng chất lượng bột mì như:

- Sự làm trắng bột: màu sắc của bột phụ thuộc vào lượng và thành phần các sắc

tố chứa trong hạt và chuyển vào bột khi nghiền. Thành phần sắc tố trong hạt chủ yếu

33



là caroten và xantofil. Caroten rất dễ bị oxy hóa để trở thành sản phẩm khơng màu.

Khi khơng khí xâm nhập nhiều, quá trình oxy hóa xảy ra càng nhanh thì bột càng

trắng nhưng dễ gây ra hiện tượng đắng của bột. Vì vậy trong quá trình bảo quản cần

điều chỉnh lượng không khí thích hợp để bột đạt chất lượng tốt nhất.

- Sự thay đổi tính gluten của bột: Trong điều kiện bảo quản bình thường gluten

của bột biến đổi theo quy luật:

Gluten yếu



Keo chặt hơn



Dẻo



Gluten mạnh



Chất lượng gluten và chất lượng bánh nướng của bột mì tăng lên. Gluten trở nên đàn

hồi hơn, ít nhão hơn, dẻo hơn và do đó chất lượng bánh nướng tốt hơn, thể tích của

bánh lớn hơn và bánh xốp hơn. Quá trình tăng chất lượng gluten và chất lượng bánh

nướng khi bảo quản được gọi là sự chín của bột mì. Vì sự chín chỉ xảy ra trong giai

đoạn đầu bảo quản bột mì nhất là 2÷4 tuần đầu sau khi nghiền hạt thành bột, nên bột

mỳ xuất xưởng bao giờ cũng cần có thời gian tàng trữ nhất định.

1.3.2.3 Các phương pháp bảo quản bột

Bột mì sau khi sản xuất, nếu để trải qua quá trình chín thêm rồi mới đem chế biến thì

chất lượng sẽ tăng. Hơn nữa, sản phẩm của nhà máy sản xuất ra không phải khi nào

cũng tiêu thụ hết ngay nên cần phải có biện pháp bảo quản nhằm đảm bảo chất lượng

của bột.

Đối với bột thường có ba phương pháp thường được sử dụng: Bảo quản trong bao,

bảo quản đóng gói và bảo quản rời (trong xilo). Với đặc tính của bột mì và điều kiện

khí hậu của địa phương tôi chọn phương pháp bảo quản trong bao. Bột mì được đóng

bao và chuyển vào kho thành phẩm, xếp lên kệ phân thành từng dãy theo ca sản xuất.

Để bảo quản tốt bột cần bảo đảm các công tác sau :

- Cấu trúc và cách chuẩn bị nhà kho: Nhà kho cần có mái hiên rộng. Sàn nhà và

tường phải phẳng khơng có vết nứt, mái nhà phải thiết kế phù hợp với mọi thời tiết và

thơng gió tốt. Các vật liệu thiết bị không cần thiết phải đưa ra ngồi kho, xung quanh

nhà kho cách 5m khơng được có cây cỏ và cần giữ vệ sinh sạch sẽ, ngăn nắp. Bên

cạnh đó còn tránh sự đột nhập của chuột các lỗ thông hơi cần che lại.

- Vệ sinh chung: Nếu vệ sinh và chống nhiễm mọt trong nhà máy được đảm

bảo bột mì sẽ tránh được sâu mọt. Ngồi ra, nhà máy còn có thể sử dụng các biện

pháp kiểm soát sâu mọt bằng cách sử dụng các hóa chất.

- Kiểm tra: Việc kiểm tra thường xuyên là rất cần thiết. Các lô hàng cần phải

được kiểm tra trước khi đưa vào nhập kho. Nếu bị nhiễm mọt thì cần phải giữ lại để

34



tái chế hoặc phun thuốc sát trùng. Cần kiểm tra các lô hàng cất trong kho có bị nhiễm

sâu mọt khơng, nếu có cần khắc phục các môi trường làm nảy sinh bằng cách lấy ra

nguồn nhiễm mọt hoặc cách ly nhà kho.

- Quay vòng các lơ hàng: Bột mì cần được chất chồng trong những lô dễ nhận

biết, không được dựa vào tường và chừa lối đi ít nhất 0,7m giữa bất kỳ chồng bột nào

và tường kế đó. Hàng nào nhập trước thì xuất trước hàng nào nhập sau thì xuất sau

theo thứ tự kể cả những nơi khó lấy .

- Vệ sinh hằng ngày và cách phòng ngừa: Các bề mặt bên trong và bên ngồi

nhà kho có thể phun thuốc định kỳ.



CHƯƠNG 2.

2.1



QUY TRÌNH SẢN XUẤT BỘT MÌ

Hạt lúa mì



Quy trình cơng nghệ

Tách kim loại

Thành phẩm

Tách tạp chất



Nước



Gia ẩm



15,5-16%



Đóng gói



Ủ ẩm



16-24h



Phối trộn



Nghiền

Hình 2.1 Sơ đồ quy trình sản xuất bột mì



35



Sàng



2.2



Thuyết minh quy trình



2.2.1 Tách kim loại

Mục đích: chuẩn bị nhằm tách kim loại còn lẫn ra khỏi khối lúa giúp:

+ Loại bỏ mối nguy vật lý có trong bột mì, tăng chất lượng bột thành phẩm.

+ Tránh làm mòn trục nghiền làm giảm hiệu suất và tuổi thọ của máy.

− Các biến đổi chủ yếu:

+ Vật lý: kim loại sắt bị hút bởi nam châm và tách ra khỏi khối hạt

+ Hóa học: làm giảm lượng kim loại có trong lúa.

− Các yếu tố ảnh hưởng:

+ Thành phần kim loại có trong khối hạt.

+ Vận tốc dòng hạt

+ Diện tích tiếp xúc của hạt lúa và nam châm.

− Thiết bị: máy tách kim loại

2.2.2 Tách tạp chất

a) Mục đích

Làm sạch sơ bộ nhằm loại bỏ các tạp chất lẫn trong lúa mì như dây nilon, sỏi, đá lớn..

tạo điều kiện thuận lợi cho các máy tiếp theo làm việc không bị nghẹt

b) Thiết bị

(1) Tầng lưới 1

(2) Tầng lưới 2

(3) Puly chuyển động lệch tâm

(4) Moter

(5) Van chỉnh lưu lượng gió

(6) Đầu vào của nguyên liệu

(7) Đầu ra của nguyên liệu sạch

(8) Đầu ra của gió và tạp chất nhẹ ( vỏ trấu + bụi )

(9) Đầu ra của đá

c) Thông số công nghệ

 Chiều cao: 1.2 m

 Diện tích bề mặt sàng : 1 m × 1.4 m

 Công suất: 1.1 kw

 Năng suất : 8 tấn/ giờ

 Vận tốc: 1420 vòng / phút

d) Quy trình vận hành

Trước khi vận hành phải kiểm tra khung lưới sàng và bề mặt lưới sàng. Sau khi

tháo ra vệ sinh hoặc thay lưới, khung lưới phải được ép chặt vào khung máy

khi lắp trở lại vào máy.

Bộ phận truyền động: Dây đai, dây mây treo sàng

Khi vận hành máy:

36



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Phương pháp bảo quản nguyên liệu và thành phẩm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×