Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Và để có cái nhìn tổng quát về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động NCKH của SV khoa Quản lý tại Học viện, em đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu và thông qua phiếu khảo sát đội ngũ CBQL, GV và SV với câu hỏi: “Thầy (Cô)/ Bạn đá

Và để có cái nhìn tổng quát về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động NCKH của SV khoa Quản lý tại Học viện, em đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu và thông qua phiếu khảo sát đội ngũ CBQL, GV và SV với câu hỏi: “Thầy (Cô)/ Bạn đá

Tải bản đầy đủ - 0trang

này có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả của cơng tác quản lý hoạt động NCKH của

SV tại Học viện.

- Thứ nhất về năng lực học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên.

Yếu tố này được 100% CBQL, GV và SV đánh giá 100% ảnh hưởng (rất ảnh

hưởng và ảnh hưởng), khơng có ai đánh giá ít ảnh hưởng. Đây là hoạt động

đòi hỏi ở sự sáng tạo, trình độ của SV để tham gia nghiên cứu, tìm tòi kiến

thức mới. Năng lực của SV ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả NCKH của bản

thân và hiệu quả của công tác QL của Học viện. Thực tế, ở Học viện cho thấy

kết quả tuyển sinh đầu vào dành cho SV khoa Quản lý dao động từ 15-17

điểm. Sinh viên thiếu sự chủ động, tích cực trong học tập cũng như nghiên

cứu. Chính vì thế, mà đây là trở ngại lớn trong việc tiếp cận tham gia NCKH

của SV khoa Quản lý.

- Thứ hai, về Năng lực nghiên cứu khoa học của cán bộ hướng dẫn

khoa học. Để SV tham gia NCKH mang lại kết quả cao thì khơng thể thiếu

được sự hướng dẫn, giúp đỡ từ đội ngũ GV hướng dẫn. Họ có vai trò quan

trọng trong việc giúp SV tiếp cận và giải quyết các vấn đề nghiên cứu. Chính

vì thế, có 64,6% CBQL, GV và 76,2% SV đánh giá rất ảnh hưởng. Đây cũng

chính là lực lượng sẽ trực tiếp giúp SV thực hiện các mục tiêu, hoạt động

NCKH đã xây dựng. Một đội ngũ hướng dẫn có trình độ, năng lực và trách

nhiệm thì sẽ đảm bảo cho công tác quản lý của nhà trường thuận tiện và đạt

tới mục tiêu. Phần lớn, những GV được phân công hướng dẫn SV NCKH đều

là những người có trình độ, chun mơn cao là điều kiện thuận lợi cho SV

trong việc triển khai các nhiệm nghiên cứu hiệu quả. Tuy nhiên, trong thời

gian gần đây, khoa Quản lý đã khuyến khích và tạo điều kiện cho đội ngũ GV

trẻ tham gia hướng dẫn NCKH cho SV, Gv trẻ họ có sức khỏe, nhiệt huyết và

đam mê, trách nhiệm, tuy nhiên kinh nghiệm còn ít nên đơi khi còn lúng túng

trong hướng dẫn SV NCKH.



55



- Thứ ba, Các chính sách, văn bản quy định về Quản lý hoạt động

nghiên cứu khoa học của sinh viên, là yếu tố có tính chất điều kiện, tạo hành

lang pháp lý cho quá trình SV thực hiện NCKH, nhà trường quản lý hoạt động

được hiệu quả và đảm bảo tính thống nhất. Vì thế có 77,9% CBQL, GV

(48,4% đánh giá rất ảnh hưởng; 29,5% đánh giá ảnh hưởng); 77,3% SV

(52,3% đánh giá rất ảnh hưởng và 22% đánh giá ảnh hưởng). Hiện nay, tại

Học viện thì hệ thống các văn bản về NCKH, tổ chức NCKH cho SV đã được

xây dựng tương đối đầy đủ, với đầu mối là phòng Quản lý khoa học là điều

kiện quan trọng giúp cho SV tự tin, chủ động, nắm rõ hoạt động để tham gia

hiệu quả.

- Thứ tư, Nguồn kinh phí và cở sở vật chất phục vụ cho hoạt động

nghiên cứu khoa học của sinh viên, là yếu tố hỗ trợ đắc lực cho hoạt động

NCKH của SV, chính vì thế nó cũng ảnh hưởng, tác động rất lớn đến hiệu quả

thực hiện. Việc trang bị một hệ thống CSVC, thiết bị kỹ thuật, hệ thống thơng

tin đầy đủ và có nguồn kinh phí hợp lý sẽ giúp cho hoạt động của SV được

diễn ra thông suốt, hiệu quả. Không thể thực hiện tốt nếu thiếu đi yếu tố này.

Có 58,8% CBQL, GV đánh giá rất ảnh hưởng, trong khi đó có tận 67,3% SV

đánh giá rất ảnh hưởng. Trong những năm qua mức kinh phí hỗ trợ SV thực

hiện đề tài khoa học có tăng đáng kể từ 2 triệu lên 2,8 triệu đến nay là 5 triệu/

đề tài NKCH của SV, tuy nhiên mức kinh phí này vẫn còn hạn hẹp làm cho

SV khó khăn, thiếu tự tin trong q trình triển khai đề tài.

2.5. Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học

của sinh viên khoa Quản Lý

2.5.1. Mặt mạnh

 Về phía Sinh viên:

- Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động NCKH của SV khoa

Quản lý ngày càng được nâng cao hơn.



56



- Sinh viên được sự quan tâm lớn từ gia đình, được trang bị sách vở,

máy tính cá nhân và các điều kiện học tập khác một cách đầy đủ...

- Có nhiều CBL của SV: CLB NCKH, CLB giọt hồng... tạo sân chơi,

giao lưu, gặp gỡ cho SV sau những giờ học trên lớp. Bên cạnh đó, những

CLB này còn rèn luyện và giúp SV có điều kiện được phát triển bản thân.

 Về công tác quản lý:

- Học viện đã coi trọng và quan tâm đến công tác QL hoạt động NCKH

của SV; CBQL, GV Khoa Quản lý đã nhận thức rõ được vai trò, tầm quan

trọng của hoạt động NCKH của SV.

- Học viện, khoa Quản lý đã xây dựng được môi trường học tập và

NCKH rộng rãi. Nhiều CBQL, GV nhiệt tình, tâm huyết, trách nhiệm với

cơng tác NCKH của SV.

- Học viện đã có những quy định, hình thức khen thưởng cụ thể cho SV

khi có kết quả cao trong NCKH.

- Câu lạc bộ sinh viên Nghiên cứu khoa học do Khoa Quản lý phối hợp

với Đoàn thanh niên thành lập. Công tác hỗ trợ các hoạt động sinh viên thực

hiện đề tài NCKH đã có kế hoạch thực hiện rõ ràng.

- Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả NCKH được Học viện quan tâm

thực hiện, các Hội đồng đánh giá được thành lập và hoạt động nghiêm túc. Cơ sở

vật chất, thiết bị dạy - học và nghiên cứu trong nhà trường ngày càng được

xây dựng và trang bị hiện đại hơn.

- Kinh phí hỗ trợ cho SV tham gia NCKH cũng được tăng lên, tạo điều

kiện thuận lợi cho SV hoàn thành nhiệm vụ NC.

2.5.2. Mặt yếu và nguyên nhân

 Về phía Sinh viên

- Tồn tại một bộ phận SV chưa có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng

của hoạt động NCKH của SV.



57



- Phần lớn SV còn lười, thụ động trong q trình học tập và nghiên cứu,

chưa xác định được động cơ học tập đúng đắn.

- SV thiếu kiến thức, kỹ năng, phương pháp NCKH và thiếu cả sự kiên

trì, cố gắng tìm tòi, nghiên cứu nên SV hoặc khơng tham gia hoặc là từ bỏ

trước khi đến đích trong q trình NCKH.

 Về cơng tác quản lý

- Khoa Quản lý chưa có các Quy định cụ thể về quyền lợi và trách nhiệm của

sinh viên, người hướng dẫn khoa học và cán bộ quản lý sinh viên tham gia NCKH.

- Các diễn đàn, hội thảo, xemina... về hỗ trợ tăng cường năng lực nghiên cứu

khoa học cho sinh viên còn chưa tổ chức được thường xun. Chưa có các tạp chí

khoa học để công bố các sản phẩm nghiên cứu của sinh viên. Việc tổ chức

hoạt động CLB NCKH cho SV còn yếu.

- Hệ thống CSVC phục vụ cho NCKH của SV và công tác đánh giá sản

phẩm của SV giá trị sử dụng còn thấp và chưa đáp ứng được yêu cầu. Tài liệu,

luận văn, giáo trình, sách báo trong Thư viện còn ít nên SV phải sang Thư

viện của những Trường khác để mượn. Mạng Internet còn chập chờn và chưa

phủ sóng tồn trường khiến cho SV gặp khó khăn khi tìm hiểu, nghiên cứu tài

liệu trong quá trình học tập và nghiên cứu.

- Việc phổ biến và ứng dụng kết quả NCKH của SV vào thực tiễn chưa

được chú trọng thực hiện.

- Tổ chức trao phần thưởng cho các SV đoạt giải cao khi tham gia

NCKH còn chưa kịp thời.

 Ngun nhân

- Ngun nhân về phía SV:

+ SV còn thụ động trong hoạt động học tập và NCKH, đa phần SV

khơng tham gia nghiên cứu khoa học vì lười, vì sợ mất nhiều thời gian; cho

rằng NCKH rất tốn kém cả về thời gian, công sức lẫn tiền bạc nên chỉ tập

trung học tập và thi tốt là được.



58



+ SV cho rằng NCKH là hoạt động rất khó nên tự giới hạn mình khơng

có khả năng, năng lực để tham gia và vì vậy khơng quyết tâm để tham gia

NCKH.

+ SV e ngại rằng trong quá trình NCKH phải gặp gỡ, giao tiếp với

nhiều thầy cô, phải bảo vệ trước hội đồng, bị hội đồng phản biện nên SV tự

giới hạn mình trong vòng an tồn là khơng NCKH để khỏi va chạm.

- Nguyên nhân về công tác quản lý:

+ Các cấp QL chưa chú ý một cách đúng mức đến việc hướng dẫn cho

sinh viên kỹ năng NCKH, phương pháp NCKH kết hợp với kĩ năng thực hành

và tư duy phê phán. Vì thế dẫn đến tình trạng: đa số sinh viên chưa quen với

việc NCKH trong trường ĐH.

+ Học Viện, Khoa QL chưa đưa ra những quy định cụ thể về quyền lợi

và trách nhiệm cho SV, GV đầu tư trí tuệ cho NCKH.

+ Cơng tác QL hoạt động NCKH chưa gắn kết với hoạt động học tập,

chưa tạo tiền đề hỗ trợ và thúc đẩy sinh viên đạt đến thành công trong học tập.

+ Một số giảng viên hướng dẫn chưa dành nhiều thời gian giúp SV; việc

phổ biến và ứng dụng kết quả sau nghiên cứu chưa được thực hiện ảnh hưởng

nhiều đến tâm lý và sự quyết tâm NCKH của SV…

+ Việc xây dựng mơi trường khoa học, sân chơi NCKH cho SV còn chưa

được thực hiện, phổ biến rộng rãi.



59



Tiểu kết chương 2

Để đánh giá thực trạng công tác Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa

học của sinh viên tại Học viện Quản lý Giáo dục, em đã tiến hành sử dụng

nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau và bản thân em thấy rằng, Học viện

Quản lý Giáo dục ngày càng chứng tỏ được chất lượng của mình với nhiều

thành tích đạt được. Công tác QL NCKH của SV trong nhà trường ngày càng

được quan tâm với nhiều hoạt động quan trọng. Nhận thức của CBQL, đội

ngũ GV và nhất là SV khoa Quản lý về hoạt động NCKH ngày càng được

nâng cao; cơ sở vật chất nhà trường không ngừng được xây dựng, trang bị;

các cơng trình NCKH của SV khoa Quản lý ngày càng có chất lượng cao và

đạt được nhiều thành tích tốt… Nhưng bên cạnh đó thì cơng tác QL hoạt động

NCKH của SV khoa Quản lý, Học viện cũng còn một số hạn chế: cơng tác

kiểm tra, đánh giá chưa thật sự sâu sát, hiệu quả; xây dựng cơ chế khuyến

khích, tạo động lực cho SV tham gia NCKH còn yếu...

Từ cơ sở lý luận ở chương 1 và nghiên cứu thực trạng ở chương 2 sẽ là

căn cứ cho em đề xuất các biện pháp giúp cho công tác QL hoạt động NCKH

của SV Học viện Quản lý Giáo dục đạt hiệu quả cao.



60



Chương 3

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN LÝ TẠI

HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1. Đảm bảo tính mục tiêu

Biện pháp Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên phải

phục vụ mục tiêu đào tạo SV, phát triển khoa Quản lý, Học viện trong giai

đoạn đổi mới hiện nay. Các biện pháp đề xuất phải hướng tới và đảm bảo việc

thực hiện tốt mục tiêu QL, tránh mâu thuẫn với mục tiêu đã đề ra. Mọi hoạt

động đều có mục tiêu cụ thể, các hoạt động, biện pháp khi thực hiện đều phải

hướng vào mục tiêu, đảm bảo không phá vỡ mục tiêu đã đặt ra. Việc đề xuất

các biện pháp là để đạt tới mục tiêu.

3.1.2. Đảm bảo tính khả thi

Mỗi khoa, mỗi khóa có những đặc điểm, điều kiện và hồn cảnh khác

nhau, vì vậy các biện pháp QL hoạt động NCKH của SV phải phù hợp và khả

thi. Đảm bảo tính khả thi chính là khả năng ứng dụng của các biện pháp đề

xuất vào thực tiễn hoạt động quản lý của nhà quản lý một cách thuận lợi, đem

lại hiệu quả cao trong việc thực hiện các chức năng quản lý (kế hoạch, tổ

chức, chỉ đạo kiểm tra).

3.1.3. Đảm bảo tính hiệu quả

Biện pháp quản lý đề ra phải đem lại tính hiệu quả, hay thực chất hơn

đó là lợi ích thu được từ biện pháp đó khi áp dụng nó vào thực tế. Tính lợi ích

đòi hỏi mọi hoạt động phải được thực hiện thông suốt, thuận lợi, đảm bảo sự

thống nhất không mâu thuẫn nhau cả về quan điểm chỉ đạo lẫn nội dung thực

hiện, hạn chế đến mức tối đa về yếu tố không khả thi trong công tác quản lý,

gây lãng phí thời gian cơng sức. Hay biện pháp phải có khả năng giải quyết



61



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Và để có cái nhìn tổng quát về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động NCKH của SV khoa Quản lý tại Học viện, em đã tiến hành nghiên cứu các tài liệu và thông qua phiếu khảo sát đội ngũ CBQL, GV và SV với câu hỏi: “Thầy (Cô)/ Bạn đá

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×