Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN LÝ TẠI HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN LÝ TẠI HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học viện Quản lý giáo dục là cơ sở đào tạo chất lượng cao, tiên phong

trong nghiên cứu và triển khai đổi mới quản lý giáo dục đáp ứng yêu cầu phát

triển của đất nước.

 Tầm nhìn:

Học viện Quản lý Giáo dục là cơ sở giáo dục có uy tín trong nước và

khu vực về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học giáo dục, quản lý giáo

dục - nơi cán bộ, giảng viên, sinh viên ln có khát vọng học tập, sáng tạo và

cống hiến vì một nền giáo dục tiên tiến, hiện đại, nhân văn.

 Giá trị:

Trách nhiệm - Chuyên nghiệp – Hợp tác

- Học viện cam kết thực hiện trách nhiệm xã hội trong tất cả các lĩnh vực hoạt

động bao gồm đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công

nghệ và phục vụ cộng đồng.

- Học viện xây dựng các quy trình quản lý và thực hiện các hoạt động, từng

thành viên thể hiện tính chun nghiệp trong việc thực hiện quy trình.

- Học viện duy trì và mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế để triển

khai đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ.

 Mục tiêu chung:

Đến năm 2020, Học viện trở thành cơ sở giáo dục đại học có uy tín

trong nước và khu vực về đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu, cung cấp dịch vụ

về giáo dục và QLGD; Đội ngũ cán bộ, giảng viên có năng lực, phẩm chất,

đạo đức nghề nghiệp; cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật hiện đại; có quan hệ hợp

tác đào tạo, nghiên cứu khoa học rộng rãi trong và ngoài nước.

 Mục tiêu cụ thể:

1. Bảo đảm uy tín về chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa

học về giáo dục và quản lý giáo dục;



32



2. Có quan hệ hợp tác rộng rãi về đào tạo, nghiên cứu khoa học; cung

cấp dịch vụ giáo dục, quản lý giáo dục trong và ngoài nước;

3. Xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên có năng lực, phẩm chất, đạo

đức nghề nghiệp;

4. Phát triển nguồn lực (cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật, công nghệ

thông tin, tài chính…) phân bổ và sử dụng có hiệu quả để đảm bảo điều kiện

phát triển Học viện;

5. Trang bị cho người học kỹ năng tác nghiệp, kỹ năng giao tiếp và làm

việc sáng tạo; có năng lực tư duy, năng lực hợp tác và khả năng tự học nâng

cao trình độ suốt đời.

2.1.2. Khái quát về khoa Quản lý, Học viện Quản lý Giáo dục

 Lịch sử hình thành và phát triển

- Thời kì tiền thân:

Ngày 1/10/1976 Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trường cán

bộ quản lý giáo dục. Năm 1977 Hiệu trưởng GS Nguyễn Ngọc Quang quyết

định thành lập Tổ cán bộ giảng dạy gồm giảng viên tất cả các bộ môn

Năm 1979 Tổ bộ môn Quản lý Trường và Tổ bộ môn Quản lý ngành ra

đời.

Năm 1983 tổ bộ môn Lý luận quản lý giáo dục ra đời.

Năm 1990 Trường Cán bộ quản lý giáo dục được đổi thành Trường Cán

bộ quản lý Giáo dục và Đào tạo. Từ bộ môn Quản lý Trường và bộ môn Quản

lý nghành đã phát triển thành Khoa Nghiệp vụ quản lý GD-ĐT (gọi tắt là

Khoa Nghiệp vụ quản lý)

- Thời kỳ từ 2006 đến nay:

Ngày 04 tháng 03 năm 2006 Thủ tướng Chính phủ quyết định số 501/QĐTTg thành lập Học viện Quản lý giáo dục trên cơ sở Trường Cán bộ quản lý



33



giáo dục và đào tạo. Giám đốc Học viện đã quyết định thành lập Khoa Quản

lý (trên cơ sở khoa Cơ Sở và khoa Nghiệp vụ quản lý)

 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ

- Ban lãnh đạo khoa hiện tại

+ Phó Trưởng khoa phụ trách: TS. Trịnh Văn Cường

+ Phó Trưởng khoa: TS. Nguyễn Thị Tuyết Hạnh

+ Phó Trưởng khoa: TS. Đặng Thị Minh Hiền

- Trong tiến trình phát triển, do có sự biến động về đội ngủ giảng viên,

năm 2012, khoa đã kiện tồn cơ cấu lại các bộ mơn và hiện nay khoa có 04

Bộ mơn, 01 bộ phận văn phòng. Cụ thể như sau:

+ Bộ mơn Hành chính - pháp luật

+ Bộ môn Khoa học quản lý

+ Bộ môn Khoa học Quản lý giáo dục

+ Bộ môn Kinh tế học

+ Bộ phận Văn phòng

 Hoạt động đào tạo

Từ chỗ chỉ tổ chức đào tạo cử nhân 01 ngành Quản lý giáo dục. Năm

2014, khoa đã xây dựng thêm chương trình đào tạo cử nhân ngành Kinh tế

giáo dục và đến nay đã tuyển sinh đào tạo khóa thứ 4. Khoa cũng đã hồn

thành việc chuyển đổi các chương trình đào tạo từ niên chế sang hệ thống tín

chỉ đúng quy định. Tính đến thời điểm tháng 12 năm 2018, khoa đã đào tạo

được 12 khóa đào tạo với hơn 2.200 sinh viên, trong đó có 2.098 sinh viên

ngành QLGD và 102 sinh viên ngành kinh tế giáo dục, đã có 1710 SV ngành

QLGD tốt nghiệp, tham gia đào tạo được hơn 800 thạc sỹ Quản lý giáo dục, 5

khóa đào tạo NCS chuyên ngành Quản lý giáo dục với hơn 50 Học viên.

 Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ



34



Hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ cũng có những bước phát

triển mạnh mẽ. Nhiều giảng viên của Khoa là chủ nhiệm đề tài NCKH cấp Bộ

và cấp cơ sở. Trong 05 năm trở lại đây, các GV trong khoa đã chủ trì thực

hiện được 1 đề tài cấp Bộ trọng điểm, 02 đề tài cấp Bộ và 13 đề tài cấp cơ sở,

qua nghiệm thu đều được xếp loại khá và tốt. Khoa có nhiều đề tài NCKH của

sinh viên được khen thưởng cấp Học viện và cấp Bộ, Khoa cũng đã tổ chức

được nhiều hội nghị, hội thảo khoa học, seminar góp phần quan trọng trong

việc nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập cho giảng viên và sinh viên.

Hàng năm Khoa đều có các giảng viên tham gia viết bài cho các Hội thảo

Quốc tế do Học viện tổ chức bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt.

Khoa Quản lý đã xây dựng chiến lược nghiên cứu khoa học: tập trung

phát hiện và giải quyết các vấn đề liên quan đến thực hiện đổi mới giáo dục

theo tinh thần nghị quyết số 29 NQ/TW của Đảng và đề án phát triển Giáo

dục của Ngành. Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học có sự tham gia của

giảng viên và sinh viên; Duy trì tốt các sinh hoạt khoa học thường kỳ để trao

đổi học thuật, tìm kiếm ý tưởng, tham mưu tích cực cho ngành trong hoạch

định chính sách và phát triển hệ thống giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển đất

nước trong bối cảnh hội nhập; Đảm bảo mỗi giảng viên đều có bài viết khoa

học đăng trên các Tạp chí Quản lý giáo dục và các Tạp chí khoa học khác của

ngành hàng năm, phấn đấu có giảng viên đăng bài trên tạp chí khoa học quốc

tế.

2.2. Giới thiệu hoạt động khảo sát, nghiên cứu thực trạng của sinh viên

Khoa Quản lý, Học viện Quản lý Giáo dục

2.2.1. Mục đích khảo sát

Tiến hành hoạt động khảo sát, thu thập các thông tin cần thiết để có cơ sở

đánh giá thực trạng QL hoạt động NCKH của SV, từ đó đề xuất các biện pháp

QL phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý hoạt động NCKH của



35



SV khoa QL Học viện Quản lý Giáo dục.

2.2.2. Nội dung khảo sát

- Khảo sát thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

khoa Quản lý

- Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh

viên khoa Quản lý

2.2.3. Công cụ khảo sát

Để đánh giá thực trạng hoạt động NCKH và quản lý hoạt động NCKH

của SV khóa Quản lý, tác giả đã xây dựng phiếu điều tra dành cho 250 SV

khóa 9, khóa 10 khoa Quản lý và phiếu điều tra dành cho 21 CBQL, GV gồm

CBQL, GV khoa QL và các CBQL, chuyên viên phòng Quản lý khoa học,

Học viện Quản lý Giáo dục.

2.2.4. Phương pháp khảo sát

- Khảo sát bằng phiếu điều tra.

- Khảo sát bằng phỏng vấn trực tiếp.

- Khảo sát thông qua nghiên cứu hồ sơ Quản lý.

2.2.5. Phương thức xử lý số liệu

- Tác giả đã phát ra 27 phiếu điều tra cho cán bộ, GV, thu về 21 phiếu;

phát ra 260 phiếu điều tra dành cho SV khoa Quản lý, thu về 250 phiếu.

- Tác giả đã tiến hành tổng hợp kết quả khảo sát bằng phiếu điều tra

theo tỉ lệ % với cách tính như sau:

Cơng thức tính tỉ lệ phần trăm:

Tỉ lệ phần trăm (%) =(X/Y)x100

Trong đó:

X – Là tổng số đối tượng trả lời các tiêu chí cụ thể.

Y – Là tổng số đối tượng điều tra.

2.3. Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên khoa Quản

lý, Học viện Quản lý Giáo dục

 Về nhận thức:

Để nắm rõ thực trạng nhận thức của CBQL, GV và SV khoa QL về tầm

quan trọng của hoạt động NCKH và công tác QL hoạt động NCKH của



36



SV, em đã tiến hành khảo sát ý kiến và phỏng vấn, kết quả thu được thể

hiện như bảng sau:

Bảng 2.1. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa

học và công tác Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

Mức độ đánh giá (%)

Rất quan

Nội dung



trọng

CBQL,

GV



Hoạt động NCKH

của SV

Công tác QL hoạt

động NCKH của



SV



Quan trọng

CBQL,

GV



SV



Ít quan trọng

CBQL,

GV



SV



Khơng quan

trọng

CBQL,

GV



SV



93,1



89,2



6,9



8,5



0



2,3



0



0



95,4



86,3



4,6



8,1



0



5,6



0



0



SV

Qua bảng số liệu trên, có thể thấy đa số CBQL, GV và SV đã có nhận

thức đầy đủ, đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động NCKH đối với SV

(có 93,1% CBQL, GV và 89,2% SV đánh giá rất quan trọng) và công tác QL

hoạt động NCKH của SV (rất quan trọng: 95,4% CBQL, GV; 86,3% SV).

Mọi người đều đánh giá cao và cho rằng chất lượng SV hay chất lượng đào

tạo của nhà trường phụ thuộc và ảnh hưởng rất nhiều từ hoạt động NCKH

này. Đây được coi là một trong hai nhiệm vụ quan trọng trong đào tạo bậc đại

học, vì thế CBQL nhà trường cần có những biện pháp QL phù hợp nhằm

mang lại hiệu quả cao cho hoạt động NCKH của SV. Bên cạnh đó, về phía

sinh viên cho rằng cần phải nhận thức được vai trò thiết thực của hoạt động

nghiên cứu khoa học, từ đó, có ý thức tự giác, nghiêm túc và kiên trì theo đuổi

thực hiện thành cơng những đề tài nghiên cứu mà mình đã lựa chọn. Nghiên

cứu khoa học không những củng cố, nâng cao vốn hiểu biết về kiến thức lý

luận, kiến thức xã hội mà còn góp phần rèn luyện những kỹ năng mềm quan

trọng dành cho sinh viên như kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng tư duy độc lập



37



hay kỹ năng thuyết trình… Tuy nhiên, vẫn còn 2,3% SV đánh giá ít quan

trọng đối với hoạt động NCKH của SV và 5,6% SV đối với công tác QL của

Học viện. Những SV này chưa hiểu hết vai trò, lợi ích của hoạt động NCKH

với quá trình học tập và phát triển của bản thân.

 Về mức độ tham gia các hình thức nghiên cứu khoa học của sinh

viên khoa Quản lý

- Tham gia viết tiểu luận khoa học là hình thức NCKH bắt buộc của SV.

Nó giúp SV tăng khả năng tư duy, sáng tạo; trau dồi thêm kiến thức qua việc

đọc nhiều các tài liệu, sách báo;... Tuy nhiên, SV còn lười, thờ ơ khơng tham

gia viết tiểu luận. Mặt khác, các GV bộ mơn còn chưa tích cực u cầu SV

viết các bài tiểu luận ngắn trong quá trình học tập trên lớp.

- Số lượng bài viết tham gia hội nghị NCKH hằng năm của Khoa Quản

lý:

+ Hàng năm, Khoa quản lý đều tổ chức hội nghị NCKH sinh viên. Trung

bình hội nghị nhận được 20- 25 bài viết từ sinh viên của khoa mỗi năm trong

đó gồm những SV có đề tài NCKH. Xét về việc tham gia một hội nghị khoa

học thì số bài NCKH như vậy là ở mức khá, tuy nhiên nếu so sánh với tổng số

SV khoa Quản lý hàng năm thì số bài đó là q ít. Điều này cho thấy tinh thần

tham gia viết bài NCKH cho hội nghị khoa học SV của khoa còn thấp, mặc dù

đây là hình thức NCKH không quá phức tạp và không mất nhiều thời gian của

SV

- Số lượng SV tham gia làm Khóa luận hằng năm:



38



Bảng 2 2. Số lượng sinh viên khoa Quản lý đăng ký và hồn thành

khóa luận tốt nghiệp



Số lượng SV

Khóa



Ngành



đăng ký làm

khóa luận



Số lượng SV

xin rút



Số SV hồn

thành khóa luận

và có kết quả



5 (2014 – 2015)



QLGD



69



21



48



6 (2015 - 2016)



QLGD



16



4



12



7 (2016- 2017)



QLGD



36



17



19



QLGD



12



1



11



KTGD



14



4



10



QLGD



7



5



2



KTGD



12



8



4



8 (2017- 2018)



9 (2018 - 2019)



(Nguồn: Văn phòng khoa Quản lý - HVQLGD)



Dựa vào bảng số liệu trên có thể thấy, số lượng SV hằng năm tham gia

làm khóa luận có xu hướng giảm từ 69 SV (năm học 2014-2015) xuống còn

19 SV (năm học 2018-2019). Thực hiện khóa luận tốt nghiệp cũng là một

trong những hình thức nghiên cứu khoa học của sinh viên. SV muốn đăng ký

làm khóa luận phải đảm bảo những yêu cầu nhất định theo quy định (điểm

trung bình chung học tập, khơng vi phạm quy chế thi…). Nhìn vào bảng số

liệu ở trên thì điều đáng bàn nhất chính là số lượng SV xin thơi khơng làm

khóa luận nữa (bỏ giữa chừng) để chuyển sang thi như SV khóa 7 có đến

17/36 SV xin rút. Hay như khóa 9 tính đến thời điểm này đã xin rút hơn nửa

số SV. Đây là một thực trạng đáng suy nghĩ và cần tìm ra nguyên nhân để có

hướng khắc phục trong thời gian tới. Điều này tất nhiên chịu ảnh hưởng của

các yếu tố khách quan như: Tổng số SV các khóa giảm xuống, điểm trung

bình chung của SV giảm, hay do sự thay đổi quy chế đào tạo từ niên chế sang



39



tín chỉ (bắt đầu từ khóa 8), nhưng mặt khác cũng cho thấy SV ngày càng

không mặn mà với NCKH.

Bảng 2.3. Số lượng, kết quả đánh giá các đề tài nghiên cứu khoa học của

sinh viên khoa Quản lý các năm

Kết quả đánh giá, nghiệm thu đề tài

Năm



Số đề tài



2015

2016

2017

2018

2019



4

6

6

6

5



Đạt



Khá



Tốt



Xuất sắc



3

0

1

0

3

0

2

1

2

0

2

2

3

1

0

2

0

0

5

0

(Nguồn: Văn phòng Khoa Quản lý - HVQLGD)



Thơng qua bảng số liệu trên, có thể thấy số lượng đề tài NCKH của

SV khoa Quản lý hằng năm tăng lên cả số lượng và chất lượng. Từ 4 đề tài

năm 2015 (có 3 đề tài đạt và 1 đề tài tốt). Từ năm 2016 đến 2019 tăng lên 5 đề

tài và chất lượng cũng tốt hơn. Số lượng đạt loại tốt đạt 2 đề tài, đặc biệt năm

2018 đã có 2 đề tài đạt loại xuất sắc. Những số liệu trên cho thấy, số lượng đề

tài khoa học do sinh viên khoa Quản lý thực hiện hàng năm có tăng lên cả về

số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, nếu so sánh số lượng đề tài này với tổng

số sinh viên của khoa thì lại quá khiêm tốn.

Và khi hỏi sinh viên khoa Quản lý về nguyên nhân chưa tham gia

NCKH, thì em thu được kết quả như bảng sau:



40



Bảng 2.4. Nguyên nhân không tham gia nghiên cứu khoa học của sinh

viên khoa Quản lý

Nguyên nhân

Chưa sắp xếp được thời gian

Không biết nên tham gia như thế nào

Khơng có đủ năng lực, khả năng tham gia

Thấy nó khơng cần thiết cho bản thân

Lí do khác



Tỉ lệ (%)

56,8

43,7

68,9

28,4

14,9



Biểu đồ 2.1. Nguyên nhân không tham gia nghiên cứu khoa học của sinh

viên khoa Quản lý

Có rất nhiều nguyên nhân gây trở ngại đến hoạt động NCKH của SV

khoa Quản lý. Cụ thể: có tới 68,9% SV được hỏi cho rằng bản thân mình

khơng đủ năng lực, khả năng để tham gia NCKH, như vậy có thể thấy SV còn

nhút nhát, tự ti và chưa dám thử thách bản thân và tâm lý sợ thất bại đã ngăn

cản SV trong việc tham gia NCKH. Bên cạnh đó có 56,8% là do không sắp

xếp được thời gian và 28,4% là thấy hoạt động NCKH không cần thiết cho

bản thân. Đây là bộ phận SV chưa có nhận thức tích cực và chưa chủ động

sắp xếp, quản lý thời gian hợp lý. Mặt khác, có 43,7% SV cho rằng khơng biết

nên tham gia từ đâu, và bắt đầu như thế nào, điều này cho thấy một mặt nhiều

SV còn thụ động, thiếu tích cực trong việc cập nhật, tìm kiếm thơng tin liên



41



quan đến hoạt động học tập của mình. Mặt khác cũng cho thấy công tác tuyên

truyền, hướng dẫn tham gia NCKH của Khoa và Học viện còn chưa thật sự rõ

nét, thông tin chưa đến được với từng SV...

Ngồi ra, kinh phí hỗ trợ cho mỗi đề tài cũng là vấn đề khiến sinh viên

băn khoăn và ít tạo động lực cho SV tham gia NCKH. Vì thế, số lượng SV

khoa Quản lý tham gia NCKH còn ít, chỉ tập trung ở số ít SV ham học, chủ

động và ý thức được nhiệm vụ học tập của bản thân.

Bên cạnh đó, còn tình trạng SV tham gia NCKH nhưng bỏ giữa chừng

vẫn còn xẩy ra khá phổ biến do nhiều nguyên nhân như sau: SV thiếu động

lực, thiếu sự kiên trì, thiếu năng lực hoặc chưa được trang bị những kỹ năng

cần thiết để nghiên cứu khoa học, cũng như thiếu sự chủ động, còn lệ thuộc

quá nhiều vào giảng viên hướng dẫn hoặc không nhận được hỗ trợ cần thiết từ

giảng viên hướng dẫn...

 Thực trạng thực hiện mục tiêu hoạt động nghiên cứu khoa học của

sinh viên khoa Quản lý tại Học viện Quản lý Giáo dục



Biểu đồ 2.2. Thực trạng thực hiện mục tiêu hoạt động nghiên cứu

khoa học của sinh viên khoa Quản lý

Dựa vào biểu đồ, nhận thấy rằng, Học viện đã tích cực triển khai thực

hiện nhiều hoạt động cụ thể giúp SV đạt tới các mục tiêu NCKH mà SV đã

xây dựng. Cụ thể có 24,1% CBQL, GV; 32,4% SV khoa QL đánh giá SV thực

hiện tốt mục tiêu NCKH. Lực lượng này cho rằng hằng năm, Khoa đã tổ chức



42



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN LÝ TẠI HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×