Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

(KH XH&NV). Hàng năm, Nhà trường đều tổ chức hoạt động nghiên cứu

khoa học sinh viên, thu hút gần 300 sinh viên (SV) tham gia với trên 100 đề

tài các loại được duyệt. Do vậy, nhà trường đã tạo ra một văn hóa nghiên cứu

khoa học trong sinh viên. Còn tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, theo thơng lệ, vào đầu năm học, nhà

trường tổ chức lớp tập huấn nghiên cứu khoa học nhằm trang bị cho sinh viên

những vấn đề lý thuyết, phương pháp nghiên cứu cơ bản cũng như cách thức

triển khai nghiên cứu và viết sản phẩm nghiên cứu.

Về kinh phí cho hoạt động NCKH của SV thì theo PGS.TS Vũ Văn Tích,

thực trạng tài chính cho hoạt động KHCN của các trường đại học hiện nay

thực sự rất khiêm tốn. Trong bản báo cáo kết quả khảo sát, nhóm nghiên cứu

cho biết đầu tư tài chính cho hoạt động KHCN trong cả nước bình quân cả

giai đoạn 2011-2015 vào khoảng 1,7% ngân sách Nhà nước - tương đương

0,4% GDP, thấp so với các nước trong khu vực: Thái Lan là 0,48%; Malaysia

1,26% và Singapore là 2,2% GDP (theo tính tốn của World Bank năm 2016).

Nhận thức được tầm quan trọng của công tác NCKH, nhiều tác giả đã

lựa chọn vấn đề nghiên cứu khoa học của sinh viên làm nội dung nghiên cứu

của mình, như:

- Phạm Trung Thanh, Nguyễn Thị Lí (2000), Phương pháp thực hiện

đề tài nghiên cứu khoa học trong sinh viên, Nxb Khoa học và Kĩ thuật

- Phạm Viết Vượng (1996), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học

giáo dục (Dùng cho các trường đại học và đại học sư phạm), Hà Nội.

- Lê Thị Tuấn Nghĩa (2010), Để hướng dẫn sinh viên NCKH thành

cơng, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 112, 9/2011...

Hay trong các luận văn thạc sĩ có nhiều đề tài quan tâm đến thực trạng

và biện pháp quản lý hoạt động NCKH của SV như:



13



- Lê Thi Thanh Chung (2006), Biện pháp nâng cao chất lượng nghiên

cứu khoa học giáo dục của sinh viên đại học sư phạm, Luận án Tiến sĩ Giáo

dục học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội [8].

- Đinh Ái Linh (2006), Cơng tác quản lí hoạt động học tập và nghiên

cứu khoa học của sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Luận

văn Thạc sĩ Quản lí giáo dục, Trường Đại học Sư phạm TPHCM [14].

- Bùi Thị Kiều Phượng (2016), Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa

học của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tạp chí

Quản lý Giáo dục số 82-3/2016. Đã đánh giá những mặt mạnh và hạn chế của

việc quản lý hoạt động NCKH của sinh viên, từ đó đã đề xuất các biện pháp

quản lý có tính khoa học nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả quản lý hoạt

động NCKH của SV và chất lượng đào tạo của trường Đại học Khoa học Xã

hội và Nhân văn [21].

- Vũ Thị Thanh Mai (2015), Quản lý hoạt động NCKH của sinh viên

Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sỹ Quản lý

Giáo dục. Luận văn đã đề xuât được những biện pháp quản lý phù hợp, bám

sát thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả NCKH của sinh viên góp phần nâng cao

chất lượng đào tạo của nhà trường [16].

1.1.2. Vấn đề nghiên cứu ngoài nước

Các trường Đại học trên thế giới cũng rất quan tâm đến hoạt động

NCKH của sinh viên và xem đây như là một hoạt động quan trọng nhằm phát

triển chất lượng sinh viên. Như các trường Đại học ở Liên Xơ trước đây, rất

coi trọng các hình thức NCKH cho SV, trong đó tổ chức cho SV làm khóa

luận, luận văn tốt nghiệp được xem là quan trọng nhất.

Năm 1972, P.T.Prikhodko trong tác phẩm “Tổ chức và phương pháp

công tác NCKH” đã giới thiệu những đặc trưng cơ bản của hoạt động NCKH

của SV: tác giả đánh giá tầm quan trọng của tổ chức cho SV làm niên luận,



14



khóa luận tốt nghiệp, coi đây là những hình thức tập dượt NCKH nhờ đó mà

SV có khả năng tự học suốt đời.

Trong tác phẩm “Research and Report Writing”, tác giả Francesco

Cordasco và Elliots S.M.Galner đã chỉ ra những hoạt động cụ thể để hình

thành kỹ năng NCKH cho sinh viên.

Tại Singapore năm 1983, hai tác giả Keith Howard và John A.Sharp

đã biên soạn tài liệu “The management of a student research project”,

nhằm giúp sinh viên biết cách quản lý kế hoạch nghiên cứu.

Hay “Quản lý công tác nghiên cứu khoa học”, K.Bexle, E. Delsen,

Xlasinxki do Nguyễn Văn Lân dịch từ bản tiếng Nga, Nguyễn Xuân Khoa

hiệu đính, bản viết tay, 1983 tại thư viện Đại học sư phạm Hà Nội.

1.2. Những khái niệm cơ bản

1.2.1. Quản lý

Trong từ điển Giáo dục học “quản lý” là tổ chức điều khiển hoạt động

của một đơn vị, một cơ quan [11, tr.1363].

Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một q trình định

hướng, q trình có mục đích, quản lý có hệ thống là q trình tác động đến

hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc

trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn”.

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là những tác động có định

hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ

chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt mục đích nhất định” [22, tr.10].

Theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Quản

lý là hoạt động do một hay nhiều người điều phối hành động của những người

khác nhằm đạt được một mục tiêu nào đó một cách có hiệu quả.



15



Hiểu một cách khái quát nhất: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ

chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt

được mục tiêu đã đề ra”.

1.2.2. Quản lý giáo dục

Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có tính hướng

đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm huy động, tổ chức, điều

phối, giám sát… một cách có hiệu quả các nguồn lực cho giáo dục và các hoạt

động phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục đáp ứng yêu cầu phát triển

kinh tế - xã hội.

Theo M.I.Kônđakôp khẳng định: “Quản lý giáo dục là tập hợp những

biện pháp tổ chức cán bộ, giáo dục, kế hoạch hố, tài chính, cung tiêu nhằm

đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục,

bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng

như chất lượng”.

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng

quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo

thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển

giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà

cho mọi người. Cho nên, QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục

quốc dân” [3, tr.31]

Bản chất Quản lý giáo dục là q trình tác động có ý thức của chủ thể

QL tới khách thể QL và các thành tố tham gia vào quá trình hoạt động giáo

dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục.

Như vậy, Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có

kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục

được quản lý, vận hành theo đúng đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng,

thực hiện được các mục tiêu giáo dục đề ra.

1.2.3. Khoa học



16



Có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm khoa học, tiêu biểu là tác

giả Phạm Viết Vượng. Tác giả đã phân tích khái niệm khoa học trên ba khía

cạnh:

- Thứ nhất, khoa học là một hình thái, yếu tố xã hội.

- Thứ hai, khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy và

những quy luật phát triển khách quan của nó được hình thành trong lịch sử xã

hội của nhân loại.

- Thứ ba, khoa học luôn vận động, biến đổi, vận động và phát triển để

đón đầu, định hướng cho sự phát triển của xã hội.

Sau khi phân tích ơng giới thiệu định nghĩa về khoa học: “Khoa học là

hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển

của tự nhiên, xã hội và tư duy. Hệ thống tri thức này được hình thành trong

lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.”

Từ đó có thể thấy, khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra

những kiến thức mới, học thuyết mới… về tự nhiên và xã hội. Những kiến

thức hay học thuyết mới này tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, khơng

còn phù hợp. Ví dụ: Quan niệm thực vật là vật thể khơng có cảm giác được

thay thế bằng quan niệm thực vật có cảm nhận.

Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật

chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội và tư

duy. Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và khơng ngừng phát triển

trên cơ sở thực tiễn xã hội. Các nhà nghiên cứu đã phân biệt ra 2 khái niệm

thuộc hệ thống tri thức đó là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.

- Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động

sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con

người với thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về

cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người



17



trong xã hội. Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và

phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật

sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối

quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ

phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là

cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.

- Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ

thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các họat động này có mục tiêu xác

định và sử dụng phương pháp khoa học. Không giống như tri thức kinh

nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những

thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong

tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ

môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh

học…

1.2.4. Nghiên cứu khoa học

Theo Từ điển Triết học (1986), khoa học được định nghĩa là “lĩnh vực

hoạt động nghiên cứu nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự

nhiên, xã hội, tư duy và bao gồm tất cả những điều kiện, những yếu tố của sự

sản xuất này: nhà khoa học, cơ quan khoa học, phương pháp, thông tin khoa

học”.

Thông thường người ta hiểu: Khoa học là hệ thống tri thức về tự nhiên,

về xã hội và tư duy, về những quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã

hội và tư duy, hệ thống tri thức này được hình thành trong lịch sử và khơng

ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội.

Nghiên cứu khoa học là hành động tìm hiểu, quan sát, thí nghiệm … dựa

trên những số liệu, dữ liệu, tài liệu thu thập được để phát hiện ra bản chất, quy

luật chung của sự vật, hiện tượng, tìm ra những kiến thức mới (đây là hướng



18



nghiên cứu hàn lâm) hoặc tìm ra những ứng dụng kỹ thuật mới, những mơ

hình mới có ý nghĩa thực tiễn (đây là hướng nghiên cứu ứng dụng).

Nghiên cứu khoa học là quá trình nhận thức chân lý khoa học, một hoạt

động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm

kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều con người

chưa biết đến hoặc chưa biết đầy đủ, tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng

tri thức mới có giá trị mới về nhận thức hoặc phương pháp.

Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự

vật, quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy, sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng

vào thực tiễn. Là sự khám phá, phát hiện những quy luật vận động của thế giới

tự nhiên và xã hội (bao gồm cả con người), là sự sáng tạo các giải pháp và sử

dụng các giải pháp khoa học được khám phá nhằm phục vụ sự tiến bộ của loài

người.

1.2.5. Nghiên cứu khoa học của sinh viên

Nghiên cứu khoa học của sinh viên là một nội dung quan trọng trong

chương trình đào tạo ở trường đại học, qua đó hình thành tư duy và phương

pháp NCKH, thực hiện phương châm “giảng dạy kết hợp với thực nghiệm và

NCKH”.

Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là một hình thức tổ chức

dạy học của nhà trường, đó là q trình vận dụng các kiến thức tổng hợp và

phương pháp luận NCKH vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong

quá trình học tập, dưới sự hướng dẫn của GV, nhà khoa học nhằm phát triển

năng lực trí tuệ, rèn luyện phương pháp và các phẩm chất tự học, tự nghiên

cứu của sinh viên, góp phần hoàn thiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo của trường

đại học.

Nghiên cứu khoa học của sinh viên là quá trình sinh viên đang theo

học tại các trường Cao đẳng, Đại học tham gia vào quá trình tìm hiểu, nghiên



19



cứu nhằm tìm ra những tri thức mới, luận điểm mới và phát triển hoàn thiện

các kỹ năng bản thân phục vụ công việc.

1.2.6. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học là q trình tác động có mục

đích của chủ thể quản lý (các đơn vị quản lý khoa học, trường học…) tác

động lên các đối tượng quản lý (sinh viên) bằng các chương trình, kế hoạch,

điều phối, can thiệp, huy động, giúp đỡ, điều chỉnh, kiểm tra nhằm đạt được

những mục đích của tổ chức.

Cũng có thể định nghĩa quản lý nghiên cứu khoa học thực chất là những

tác động của chủ thể quản lý vào quá trình NCKH (được tiến hành bởi tập thể

các nhà khoa học, cán bộ, giảng viên, học sinh sinh viên, với sự hỗ trợ đắc lực

của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nền khoa

học nước nhà.

Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là quá trình

định hướng tổ chức, chỉ đạo, điều khiển và theo dõi đánh giá thực hiện hoạt

động NCKH của sinh viên và sử dụng biện pháp quản lý để tác động nhằm

tăng cường hiệu quả, chất lượng NCKH.

1.3. Những vấn đề lý luận về hoạt động nghiên cứu khoa học của

sinh viên

1.3.1. Mục tiêu của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

Mục tiêu của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên hướng đến

mục tiêu chung của hoạt động khoa học và công nghệ trong trường Đại học

được quy định tại Điều 39, Luật Giáo dục Đại học số 08/2012/QH13:

“1. Nâng cao chất lượng giáo dục đại học, năng lực nghiên cứu và khả

năng ứng dụng khoa học và công nghệ của giảng viên, nghiên cứu viên, cán

bộ quản lý, viên chức.



20



2. Hình thành và phát triển năng lực nghiên cứu khoa học cho người

học; phát hiện và bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu đào tạo nhân lực trình

độ cao.

3. Tạo ra tri thức, công nghệ, giải pháp mới để phát triển khoa học và

giáo dục, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh

của đất nước”

Như vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên được thực hiện

nhằm ba mục đích chính, đó là:

- Góp phần nâng cao chất lượng đào tạo;

- Tiếp cận và vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học;

- Giải quyết một số vấn đề khoa học và thực tiễn.

Nghiên cứu khoa học của sinh viên nhằm khơi dậy và phát huy tinh

thần tích cực, tự học, tự bồi dưỡng của SV, đảm bảo để hoạt động NCKH của

trường đạt được mục đích, mục tiêu mong muốn.

1.3.2. Vai trò của hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

Đào tạo và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ chiến lược trọng tâm

của một trường đại học, hai nhiệm vụ này có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Hoạt động KH- CN vừa góp phần giải quyết những vấn đề cấp thiết của xã

hội, vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập trong

nhà trường, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược

phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011- 2020 chỉ rõ: "Phát triển

khoa học công nghệ cùng với giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là

động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Khoa học và

cơng nghệ phải đóng vai trò chủ đạo để tạo bước phát triển đột phá về lực

lượng sản x́t, đổi mới mơ hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh

của nền kinh tế, đẩy mạnh q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

nước".



21



Nghiên cứu khoa học có tầm quan trọng đặc biệt trong giáo dục đại học

và được xem là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao chất

lượng đào tạo, tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao

của xã hội. Nó khơng những góp phần nâng cao chất lượng đào tạo mà còn

tạo ra những tri thức mới, sản phẩm mới phục vụ cho sự phát triển của nhân

loại. Và vai trò, tầm quan trọng của NCKH đã được nhắc rõ tại Nghị quyết

Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành TW khóa VIII của Đảng Cộng sản Việt

Nam đã nêu: "Các trường đại học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa

học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời

sống"

Nghiên cứu khoa học trước hết giúp sinh viên vận dụng những kiến

thức đã học từ học phần Phương pháp luận NCKH, bước đầu làm quen với

phương pháp luận NCKH để giải quyết một vấn đề khoa học. Bên cạnh đó,

còn giúp sinh viên hệ thống hóa, củng cố những kiến thức đã được được học,

mở rộng kiến thức, vốn sống mới; giúp sinh viên phát huy khả năng phân tích,

đánh giá, liên tưởng, kết hợp với những điều mới mẻ vừa khám phá được để

giải quyết những vấn đề đang quan tâm, thắc mắc. Q trình đó sẽ giúp sinh

viên rèn luyện khả năng tư duy sáng tạo, khả năng phê phán, bác bỏ hay

chứng minh một cách khoa học quan điểm hay vấn đề nào đó.

Nghiên cứu khoa học là cơ hội giúp sinh viên củng cố và rèn luyện

nhiều kỹ năng quan trọng: Kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy độc

lập, kỹ năng xử lý số liệu, kỹ năng quan sát, kỹ năng đánh giá, kỹ năng thuyết

trình… Những kiến thức và kỹ năng tích lũy được qua q trình nghiên cứu

khoa học còn giúp sinh viên tự tin và có phong cách làm việc khoa học, hiệu

quả hơn sau khi tốt nghiệp.

Nghiên cứu khoa học của sinh viên là con đường hiệu quả nhất để nâng

cao chất lượng đào tạo và phát triển năng lực người học.



22



1.3.3. Hình thức nghiên cứu khoa học của sinh viên

Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên được tổ chức dưới các

hình thức sau:

- Tham gia câu lạc bộ khoa học sinh viên, xêmina chuyên đề khoa học;

- Báo cáo khoa học tại các hội nghị, hội thảo khoa học;

- Công bố các bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành;

- Tham gia khảo sát thực địa, thực nghiệm khoa học;

- Thực hiện khóa luận, đồ án tốt nghiệp;

- Thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa

học vào thực tế.

- Thực hiện viết tiểu luận.

1.4. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

1.4.1. Xây dựng kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh

viên

Xây dựng kế hoạch là việc làm rất quan trọng đối với mỗi nhà quản lý

trong mọi công tác quản lý, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và

chương trình hành động nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra.

Để xây dựng được một kế hoạch hoạt động nghiên cứu khoa học của

sinh viên, người CBQL cần phải trả lời được 4 câu hỏi:

- Hoạt động NCKH của sinh viên nhà trường hiện nay đang ở đâu?

- Chúng ta muốn hoạt động NCKH của SV sẽ như thế nào?

- Chúng ta đến đó bằng cách nào?

- Làm thế nào ta biết ta đã tới nơi?

Khi tiến hành xây dựng kế hoạch nói chung và kế hoạch hoạt động

NCKH của SV cần đảm bảo thực hiện các công việc sau:

- Xác định mục tiêu của hoạt động NCKH của SV (Làm gì? - What?):

Khi lập kế hoạch hoạt động NCKH của SV thì người CBQL cần phải xác định



23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×