Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1.1.2. Thế nào là phương pháp dạy học tích cực?

Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở

nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy

tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. [7,tr2]

"Tích cực" trong PPDH - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động,

chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chứ khơng dùng theo

nghĩa trái với tiêu cực.

PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động

nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của

người học chứ khơng phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người

dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực

nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.

1.1.1.3. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học tích cực lấy sự chủ động tìm tòi, sáng tạo, tư duy

của học sinh làm nền tảng, giáo viên, gia sư chỉ là người dẫn dắt và gợi mở

vấn đề. Hay nói cách khác, phương pháp dạy và học tích cực khơng cho phép

giáo viên truyền đạt hết kiến thức mình có đến với học sinh mà thông qua

những dẫn dắt sơ khai sẽ kích thích học sinh tiếp tục tìm tòi và khám phá kiến



6



thức đó. Đặc trưng này được thể hiện theo mơ hình:



.



Hình 1.1. Đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

a. Dạy và học thơng qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh

Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt

động "dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các

hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám

phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức

đã được giáo viên sắp đặt. Được đặt vào những tình huống của đời sống thực

tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề

đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới,

vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, khơng rập theo

những khn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo. Dạy

theo cách này thì giáo viên khơng chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn

hướng dẫn hành động. Chương trình dạy học phải giúp cho từng học sinh biết

hành độngvà tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng.

b. Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

7



Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học

sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục

tiêu dạy học.

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin,

khoa học, kĩ thuật, công nghệ phát triển như vũ bão - thì khơng thể nhồi nhét

vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan tâm dạy

cho học sinh phương pháp tự học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học

cao hơn càng phải được chú trọng. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là

phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ

năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực

vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy,

ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ

lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn

đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau

bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên.

c. Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không

thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp

nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hồn thành nhiệm vụ học tập, nhất là

khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập.

Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này

càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường

sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng

của mỗi học sinh. Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng,

thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân. Lớp học

là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa

các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập. Thông qua thảo

luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay

bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới. Bài học vận dụng

8



được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo. Trong nhà

trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc

trường. Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong

nhóm nhỏ 4 đến 6 người. Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là

lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuất hiện thực sự nhu cầu phối

hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung. Trong hoạt động theo

nhóm nhỏ sẽ khơng thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành

viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương

trợ. Mơ hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các

thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội. Trong

nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc

gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường

phải chuẩn bị cho học sinh

1.1.1.4. So sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp

dạy học tích cực

Bảng 1.1. Bảng so sánh phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp

dạy học tích cực

Tiêu chí



Phương pháp dạy học truyền



thống

Quan niệm - Học là quá trình tiếp thu và



Phương pháp dạy học tích

cực

- Học là q trình kiến tạo,



lãnh hội, qua đó hình thành



học sinh tìm tòi, khám phá,



kiến thức, kỹ năng, tư tưởng,



phát hiện, luyện tập, khai



tình cảm.



thác và xử lý thơng tin,... tự

hình thành hiểu biết, năng



Bản chất



lực và phẩm chất.

- Truyền thụ tri thức, truyền thụ - Tổ chức hoạt động nhận

và chứng minh chân lý của giáo thức cho học sinh.



Mục tiêu



viên.



- Dạy cho học sinh cách tìm



- Chú trọng việc cung cấp tri



ra chân lý.

- Chú trọng hình thành năng



9



thức, kỹ năng, kỹ xảo, học để



lực (sáng tạo, hợp tác, độc



đối phó với thi cử. Sau khi thi



lập,...), dạy phương pháp và



xong, những điều đã học



kỹ thuật lao động khoa học,



thường bị bỏ quên hoặc ít dùng



dạy cách học.



đến.



- Học để đáp ứng những yêu

cầu của cuộc sống hiện tại và

tương lai. Những điều đã học

cần thiết, bổ ích cho bản thân

học sinh và cho sự phát triển



Nội dung



- Từ sách giáo khoa và giáo



xã hội.

- Từ nhiều nguồn khác nhau:



viên.



sách giáo khoa, giáo viên,

các nguồn tài liệu khoa học

phù hợp, thí nghiệm, thực

tế,...

- Vốn hiểu biết, kinh nghiệm

và nhu cầu của học sinh.

- Tình huống thực tế, bối

cảnh và mơi trường địa

phương.

- Những vấn đề học sinh



Phương



- Các phương pháp diễn giảng,



quan tâm.

- Các phương pháp tìm tòi,



pháp



truyền thụ kiến thức một chiều.



điều tra, giải quyết vấn đề,

dạy học tương tác, tình



Hình thức

tổ chức



- Cố định: giới hạn trong 4 bức



huống.

- Cơ động, linh hoạt: học ở



tường của lớp học, giáo viên



lớp, ở phòng thí nghiệm, ở



đối diện với cả lớp.



hiện trường, trong thực tế,

học cá nhân, học đôi bạn,

10



học theo cả nhóm, cả lớp đối

diện với giáo viên.

1.1.2. Một số phương pháp dạy học tích cực

1.1.2.1. Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

a. Khái niệm

Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, giáo viên tổ chức tình

huống sư phạm, học sinh hoạt động, phát hiện ra vấn đề. Vấn đề được chứa

trong tình huống mà chủ thể học sinh cần giải quyết nhưng không thể giải

quyết ngay được. Để giải quyết được vấn đề, học sinh phải vượt khó khăn

hàm chứa trong vấn đề bằng sự cố gắng trí lực.

Khi giải quyết vấn đề, học sinh đạt được những tri thức và kĩ năng mới.

Tính “có vấn đề” được phản ánh trong mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể

cá nhân học sinh với tình huống phải giải quyết. Với học sinh này tình huống

đặt ra có thể chứa đựng vấn đề, nhưng với học sinh khác thì nó q dễ,

“khơng có vấn đề gì” ; với học sinh này thì vấn đề là “lớn”, nhưng với học

sinh khác thì vấn đề đó là “nhỏ”.

Có loại bài tập, khi học sinh gặp nó lần đầu tiên thì sẽ là vấn đề, nhưng

sau đó việc giải các bài tập dạng này sẽ “khơng còn là vấn đề nữa”. Về lâu

dài, hoạt động học tập sẽ hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực

khác nhau, trong đó có năng lực giải quyết vấn đề.

b. Quá trình dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

- Lược đồ quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề

+ Phát hiện vấn đề.

+ Tìm hiểu vấn đề.

+ Xác định lược đồ giải quyết vấn đề.

+ Tiến hành giải quyết vấn đề, đưa ra lời giải.

+ Phân tích, khai thác lời giải.

- Các giai đoạn của phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề.

Trước khi dạy:

+ Chuẩn bị các kiến thức gần gũi cần thiết cho học sinh.

11



+ Chuẩn bị của giáo viên (xây dựng tình huống, xác định đối tượng học

sinh và cách thức tổ chức dạy học).

+ Chuẩn bị các phương tiện đồ dùng dạy học.

Trong khi dạy:

+ Tổ chức triển khai kế hoạch dạy học, xử lí các tình huống nảy sinh.

+ Tổ chức triển khai tình huống có vấn đề.

+ Tổ chức hoạt động của học sinh nhằm phát hiện vấn đề gợi động cơ

giải quyết vấn đề cho học sinh.

+ Tổ chức các hình thức học tập: cá nhân, nhóm, đồng loạt để giải

quyết vấn đề. Hoạt động phân hóa của giáo viên trong tổ chức học sinh giải

quyết vấn đề. Can thiệp thích hợp của giáo viên vào hoạt động của các đối

tượng học sinh.

+ Tổ chức thảo luận vầ giải pháp giải quyết vấn đề.

+ Thể chế hóa thành tri thức mới.

Sau khi dạy: Củng cố một số kĩ năng và kiến thức đã hình thành trong

quá trình giải quyết vấn đề, chuẩn bị cho việc phát hiện và giải quyết vấn đề

tiếp theo.

c. Các mức độ đặt và giải quyết vấn đề

Có thể phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề:

Bảng 1.2. Bảng phân biệt bốn mức trình độ đặt và giải quyết vấn đề

Các



Đặt vấn



Nêu giả



Lập kế



mức



đề



thuyết



hoạch



1

2

3

4



GV

GV

GV + HS

HS



GV

GV

HS

HS



GV

HS

HS

HS



Giải

quyết

vấn đề

HS

HS

HS

HS



Kết luận,

đánh giá

GV

GV + HS

GV + HS

GV + HS



Mức 1: Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề. Học sinh

thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên. Giáo viên

đánh giá kết quả làm việc của học sinh.

12



Mức 2: Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết

vấn đề. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo

viên khi cần. Giáo viên và học sinh cùng đánh giá.

Mức 3: Giáo viên cung cấp thơng tin tạo tình huống có vấn đề. Học

sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự đề xuất các giả thuyết và lựa

chọn giải pháp. Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề. Giáo viên và học

sinh cùng đánh giá.

Mức 4: Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hồn cảnh của

mình hoặc cộng đồng, lựa chọn vấn đề giải quyết. Học sinh giải quyết vấn đề,

tự đánh giá chất lượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc.

Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, học sinh vừa

nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát

triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời

sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh.

1.1.2.2. Phương pháp tổ chức trò chơi học tập

a. Khái niệm

Phương pháp tổ chức trò chơi học tập là tổ chức cho học sinh chơi các

trò chơi chứa yếu tố tốn học nào đó nhằm giải quyết nhiệm vụ nhận thức về

toán. Được tổ chức trong giờ học toán hoặc trong hoạt động ngoại khóa.

Thế nào là trò chơi học tập?

Chơi là một hoạt động không thể thiếu được của con người ở mọi lứa

tuổi. Chơi giúp cho trẻ phát triển. Tổ chức trò chơi cần chú ý đến đặc tính:

Vui – Khỏe – An tồn – Bổ ích. Trong đó, vui bao gồm cả giải trí, thư giãn,...

được xem là mục tiêu cơ bản nhất của một trò chơi.

Trò chơi học tập là trò chơi có nội dung tri thức gắn với hoạt động học

tập của học sinh; và gắn với nội dung bài học; giúp học sinh khai thác vốn

kinh nghiệm của bản thân để chơi và để học. Trò chơi học tập có tác dụng cả

về mặt rèn luyện trí tuệ lẫn thể chất và các phẩm chất đạo đức.

b. Tác dụng của phương pháp tổ chức trò chơi học tập

13



- Làm thay đổi hình thức hoạt động học tập, tạo ra bầu khơng khí trong

lớp học trở nên dễ chịu, thoải mái hơn. Học sinh thấy vui hơn, cởi mở hơn,

thư thái, dễ chịu và mạnh khỏe hơn.

- Giúp học sinh rèn luyện củng cố tiếp thu kiến thức, đồng thời phát

triển vốn kinh nghiệm mà các em đã được tích lũy thơng qua hoạt động chơi.

- Rèn luyện các kĩ năng, kĩ xảo, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Nhờ sử

dụng trò chơi học tập mà quá trình dạy và học trở thành một hoạt động vui và

hấp dẫn hơn.

- Đối với học sinh, khơng có phương tiện nào giúp các em phát triển

một cách tự nhiên, có hiệu quả, rèn luyện tính tự chủ bằng trò chơi học tập.

Qua chơi, các em biết tự kiềm chế, được tham gia hoạt động học tập tích cực.

Trò chơi khơng chỉ là phương tiện mà còn là phương pháp giáo dục. Như lời

Bác Hồ dặn cán bộ phụ trách Đội thiếu niên tiền phong: “Trong lúc học, cũng

cần cho chúng vui, trong lúc vui cũng làm cho chúng học”.

Tóm lại: Trò chơi nói chung và trò chơi học tập nói riêng giúp cho học

sinh được phát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần. Trò chơi làm cho

học sinh được phát triển các năng lực một cách tự nhiên, giúp các em trao đổi

kinh nghiệm, tương tác lẫn nhau từ đó các em tiếp thu kiến thức được dễ

dàng.

c. Yêu cầu khi tổ chức trò chơi

Trò chơi mang ý nghĩa giáo dục.

Trò chơi phải nhằm mục đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học.

Trò chơi phải phù hợp với tâm lý học sinh lớp 4, phù hợp với khả năng

người hướng dẫn và cơ sở vật chất của nhà trường.

Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú.

Trò chơi phải được chuẩn bị chu đáo.

Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh.

d. Cách tổ chức trò chơi

Bước 1: Giới thiệu trò chơi:

14



+ Nêu tên trò chơi.

+ Hướng dẫn cách chơi bằng cách vừa mô tả vừa thực hành, nêu rõ quy

định chơi.

Bước 2: Chơi thử và qua đó nhấn mạnh luật chơi

Bước 3: Chơi thật

Bước 4: Nhận xét kết quả chơi, thái độ của người tham dự, giáo viên có

thể nêu thêm những tri thức được học tập qua trò chơi, những sai lầm cần

tránh.

Bước 5: Thưởng - phạt: Phân minh, đúng luật chơi, sao cho người chơi

chấp nhận thoải mái và tự giác làm trò chơi thâm hấp dẫn, kích thích học tập

của học sinh. Phạt những học sinh phạm luật chơi bằng những hình thức đơn

giản, vui (như chào các bạn thắng cuộc, hát một bài, nhảy lò cò...)

1.1.2.3. Phương pháp dạy học theo nhóm

a. Khái niệm

Dạy học theo nhóm là một chiến lược dạy học tích cực, trong đó các

thành viên tham gia hoạt động và học tập cùng nhau trong những nhóm nhỏ

(mỗi nhóm bao gồm các thành viên có trình độ và khả năng khác nhau) nhằm

mục đích phát triển sự hiểu biết và chiếm lĩnh một số nội dung học tập nào

đó.

b. Việc tổ chức học tập theo nhóm góp phần hình thành và phát triển

năng lực hoạt động theo nhóm gồm

Kĩ năng

- Kĩ năng giao tiếp. Kĩ năng hoạt động hợp tác giữa các cá nhân trong

một nhóm làm việc.

- Kĩ năng trao đổi thơng tin: trình bày và tiếp nhận thơng tin.

- Kĩ năng tìm kiếm thơng tin.

- Kĩ năng làm việc trong môi trường hợp tác.

- Khả năng phối hợp với người khác cùng hồn thành cơng việc.



15



- Biết kết hợp sử dụng thành quả của người khác để hồn thành cơng

việc của mình.

- Có ý thức và có khả năng tổ chức người khác cùng hợp tác làm việc.

Biết chỉ huy điều hành công việc.

Thái độ

- Ý thức hợp tác trong công việc.

- Ý thức tự chịu trách nhiệm trong nhóm.

- Ý thức tơn trọng thành quả lao động của người khác.

- Ý thức cùng người khác hướng tới một mục đích hoạt động chung.

b. Quy trình dạy học theo nhóm

Bước 1: Tổ chức thành lập các nhóm: Danh sách các nhóm, nhóm trưởng.

Bước 2: Đề ra nhiệm vụ: Giáo viên xác định nhiệm vụ của từng nhóm

và cách tiến hành hoạt động của các nhóm (trong trường hợp tất cả các nhóm

đều thực hiện một nhiệm vụ thì việc giao nhiệm vụ có thể đưa lên bước 1).

Bước 3: Các nhóm thực hiện nhiệm vụ.

Bước 4: Các đại diện nhóm trình bày kết quả, nhận xét, bổ sung, đánh giá.

Bước 5: Hoạt động chung cả lớp (nếu cần thiết), giáo viên tổ chức chốt

lại các kiến thức mới xuất hiện, đánh giá hoạt động học tập của các nhóm.

Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ

các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức

mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình

độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì.

Bài học trở thành q trình học hỏi lẫn nhau chứ khơng phải là sự tiếp nhận

thụ động từ giáo viên.

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi

thành viên, vì vậy phương pháp này còn gọi là phương pháp cùng tham gia.

Tuy nhiên, phương pháp này bị hạn chế bởi không gian chật hẹp của lớp học,

bởi thời gian hạn định của tiết học, cho nên giáo viên phải biết tổ chức hợp lý

và học sinh đã khá quen với phương pháp này thì mới có kết quả. Cần nhớ

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×