Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.3: Mô hình chất lượng chăm sóc y tế của Ten Haaf

Hình 1.3: Mô hình chất lượng chăm sóc y tế của Ten Haaf

Tải bản đầy đủ - 0trang

18



ở cộng đồng nên nhiều nước trên thế giới đã chọn người điều dưỡng là công cụ

chiến lược để thực hiện chính sách cơng bằng y tế. Tác giả đã đưa ra được các giải

pháp khá cụ thể về phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng. Tuy vậy đề tài cũng chỉ

dừng lại ở vấn đề phát triển nguồn nhân lực điều dưỡng viên.

Nghiên cứu của tác giả Đỗ Đình Xuân và cộng sự (2007) trong “Đánh giá thực

trạng năng lực của ĐDTK tại các bệnh viện” đã nêu lên các yếu tố liên quan đến

năng lực của ĐDTK và đánh giá thực trạng năng lực của ĐDTK tại các bệnh viện

nhưng chưa đưa ra được cơ sở lý luận về năng lực của ĐDTK và đặc biệt là khung

năng lực của đội ngũ này [39].

Trong đề tài cấp bộ “Khảo sát thực trạng năng lực điều dưỡng làm việc tại một

số bệnh viện để cải tiến chương trình, phương pháp đào tạo và nâng cao hiệu quả điều

trị và chăm sóc người bệnh” của chủ nhiệm đề tài Lê Thị Bình, cơ quan chủ trì đề tài Bệnh Viện Bạch Mai (2008), các tác giả chỉ tập trung đánh giá năng lực làm việc của

ĐDV, chưa khảo sát được năng lực của các ĐDTK, do đó đề tài cũng chỉ dừng lại ở

vấn đề năng lực chuyên môn chứ không đề cập đến quản lý điều dưỡng [40].

Nghiên cứu Phạm Đức Mục [41], điều tra hệ thống và nguồn nhân lực ĐDT bệnh

viện tuyến TW và tỉnh năm 2007 cho thấy: trình độ chun mơn SĐH là 1,2%; ĐH là

24,2%; CĐ là 14,9% và TC 59,7%. Về chuyên ngành dược đào tạo: ĐD 82,0%; HS

7,1%; KTV 4,4% khác 6,5%. Đã đào tạo về QLĐD là 63.3%. Về độ tuổi <35 chiếm

12.1%; 26 - 45 tuổi chiếm 41,7%; 46 - 55 chiếm 44,6%; >55 tuổi chiếm 1.6%. Về thực

hiện chức trách nhiệm vụ: Tổ chức, chỉ đạo thực hiện CSNBTD: tốt 72,3%; trung bình

(TB) 22,1%; kém 4,1%; khơng làm 1,5%. Đơn đốc, kiểm tra thực hiện đúng qui trình

kỹ thuật và qui chế bệnh viện: tốt 90,0%; TB 3,2%; kém 5,2%; không làm 1,5%. Tổ

chức đào tạo và nâng cao trình độ: tốt 62,4%; TB 22,5%; kém 9,2%; khơng làm 5,9%.

Tham gia hướng dẫn thực hành cho HS-SV: tốt 35,8%; TB 31,4%; kém 26,6%; không

làm 6,3%. Lập kế hoạch mua sắm, kiểm tra sử dụng, bảo quản: tốt 48,0%; TB 31,4%;

kém 26,6%; không làm 6,6%. Kiểm tra công tác vệ sinh, chống nhiễm khuẩn: tốt

88,2%; TB 5,5%; kém 5,2%; không làm 1,1%. Tham gia công tác tổ chức, tuyển dụng:

tốt 60,5%; TB 24,0%; kém 12,5%; không làm 3,0%. Tham gia NCKH: tốt 38,0%; TB

22,1%; kém 34,7%; không làm 5,2%. Tham gia chỉ đạo tuyến: tốt 45,8%; TB 20,3%;

kém 22,8%; không làm 5,2%. Định kỳ sơ kết, tổng kết: tốt 62,0%; TB 27,5%; kém

8,0%; không làm 2,5%. Tham gia đề xuất các ý kiến liên quan CSĐD: tốt 77,9%; TB

17,0%; kém 4,1%; khơng làm 1,1%.



19



Theo nghiên cứu của Đỗ Đình Xn (2007) [39], cho thấy cả nước có 6.787 ĐDT

đang làm việc tại các bệnh viện công lập trong cả nước (thống kê từ 30 bệnh viện TW

và 63 Sở Y tế), trong đó: ĐD chiếm 78,4%, HS chiếm 7,4%, Kỹ thuật Y học là 8,2%,

còn 6,0% ĐDT khơng có trình độ chuyên ngành là ĐD tham gia QLĐD (y sĩ, dược sĩ).

Về thực trạng năng lực của đội ngũ ĐDTK: 84% ĐDTK tự đánh giá có khả năng hồn

thành từ mức khá trở lên các công việc theo qui định ở các nội dung: tổ chức CSNB;

chỉ đạo công tác vệ sinh khoa, phòng; quản lý nhân lực; quản lý tài sản vật tư. Trình độ

chun mơn của ĐDTK còn ở mức rất thấp: 83,5% là TC, vẫn còn 0,4% là trình độ sơ

cấp. Trình độ ngoại ngữ, tin học còn nhiều hạn chế. Chỉ có 54,5% ĐDTK đã tham dự

các khoá học về quản lý. Tham gia đào tạo, NCKH và chỉ đạo tuyến, có 61,40% đạt từ

loại khá trở lên, đặc biệt, có tới 20,20% ĐDTK yếu trong công tác tham gia NCKH.

Thực hiện yếu hoặc không tổ chức các buổi sinh hoạt khoa học chiếm 24,40%. Vẫn

còn 21,10% ĐDTK đạt ở mức trung bình trở xuống trong cơng tác xây dựng, tổ chức

và duy trì cơng tác chăm sóc tồn diện. ĐDTK yếu hoặc khơng được tham gia tuyển

chọn nhân viên mới chiếm 24,40%.

Điều tra năm 2010 của Phòng Điều dưỡng - Tiết chế, Cục Quản lý Khám chữa

bệnh - Bộ Y tế cho thấy: Nhân lực QLĐD tại các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế ngành

ĐD chiếm 92%, trình độ ĐH trở lên chiếm 92,3% (04 người trình độ thạc sĩ). Tại các

bệnh viện trực thuộc Sở Y tế, kết quả tổng hợp báo cáo từ 57 sở Y tế có 7.791 người

ĐDT, trình độ TC chiếm 71,4%, ĐH chiếm 18,2%, CĐ chiếm 10,3% và có 0,1% trình

độ thạc sĩ [42].

Nghiên cứu của Đào Thành năm 2007 cho rằng trình độ chun mơn ĐDT tồn

quốc TC chiếm 83,3%, ĐH 10,1%, chưa đào tạo về QLĐD 52,6%, việc thực hiện

nghiệm vụ NCKH còn yếu, trong đó 7,7% không thực hiện nhiệm vụ này [43]. Theo

Nguyễn Thị Như Tú, thực trạng hệ thống ĐDT tuyến huyện tại tỉnh Bình Định thì trình

độ TC 55%, CĐ, ĐH chiếm 45%, Nam chiếm 45%, nữ 55%, đã được học QLĐD 3

tháng 73% [44]. Hoạt động nổi bật là: chủ động tham mưu, đề xuất những hoạt động

cải thiện chất lượng thực hành; tổ chức đào tạo lại; giám sát tiêm an tồn, CSNBTD,

chống nhiễm khuẩn bệnh viện; tổ chức bình bệnh án; tham gia chỉ đạo tuyến và sử

dụng thành thạo vi tính vào cơng tác QLĐD. Tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như

lãnh đạo xem nhẹ cơng tác CSNB, mất cân đối về số lượng người bệnh và nhân lực

ĐD; trình độ chun mơn yếu, thấp; khơng được tham gia Hội đồng khen thưởng, kỷ

luật, tuyển dụng, bổ nhiệm, thuyên chuyển.



20



Tại TP Hồ Chí Minh, nghiên cứu của Trần Thị Châu năm 2007 cho rằng ĐDT có

trình độ chuyên môn TC chiếm 78,3%; Cử nhân chiếm 21,7%, được đào tạo QLĐD là

41,6%, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý hành chính [45].

Các đề tài tập trung nghiên cứu năng lực ĐD chủ yếu dựa trên đánh giá trình độ

chuyên ngành đào tạo, tin học, ngoại ngữ và một số qui trình kỹ thuật ĐD, có đề cập

đến kiến thức, kỹ năng của qui trình quản lý, nhưng chưa đầy đủ so với qui định trong

chương trình đào tạo QLĐD và chức năng, nhiệm vụ của ĐDT.

Tuy nhiên, trong đánh giá các nghiên cứu đều phản ánh năng lực quản lý của

ĐDT còn nhiều thiếu hụt so với yêu cầu chức năng, nhiệm vụ; phần lớn ĐDT chưa

được đào tạo bài bản các kiến thức, kỹ năng quản lý; làm việc theo kinh nghiệm, học

hỏi người đi trước. Vì vậy, cần có giải pháp can thiệp việc nâng cao kỹ năng quản lý

góp phần cải thiện chất lượng chăm sóc điều dưỡng, CSNBTD[46].

Trên thực tế ở nước ta, ĐDTK vị trí, chức danh, vai trò cũng như sự đãi ngộ đang

còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, phần lớn anh chị em đảm nhiệm chức danh này đều

khơng có sự chuẩn bị về các kỹ năng quản lý, lãnh đạo, kỹ năng giao tiếp cũng như khả

năng quản lý tài chính, nguồn lực. Thêm vào đó cách thức lựa chọn người vẫn theo

truyền thống cũ, chưa theo qui hoạch, bồi dưỡng đào tạo trước khi bổ nhiệm. Việc sự

chọn được người có đủ năng lực để đảm nhiệm vị trí ĐDT đã gặp nhiều khó khăn.

Tóm lại, các nghiên cứu trong nước chủ yếu tập trung đánh giá thực trạng

năng lực chuyên môn của các ĐDV và các ĐDTK, nhưng chưa đưa ra được cơ sở lý

luận và chưa xây dựng được khung năng lực quản lý cho ĐDTK. Vì vậy luận văn

này mong muốn sẽ hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực quản lý của ĐDTK, góp

phần xây dựng khung năng lực quản lý cho các ĐDTK nói chung và ĐDTK của các

bệnh viện trung ương tại thành phố Hà Nội. Kiểm định mối quan hệ của năng lực

quản lý ĐDTK với kết quả chăm sóc người bệnh, căn cứ vào đó đề xuất một số

khuyến nghị nhằm định hướng đào tạo và nâng cao chất lượng chăm sóc tại bệnh

viện trung ương trên địa bàn Hà Nội.

Nghiên cứu của Hồ Bạch Nhật (2015) tiến hành khảo sát 260 người bệnh nội

trú của bốn bệnh viện lớn tại thành phố Long Xuyên gồm: Bệnh viện Đa khoa

Trung tâm An Giang, Bệnh viện Đa khoa thành phố Long Xuyên, Bệnh viện Bình

dân và Bệnh viện Hạnh Phúc từ tháng 04 năm 2013 đến tháng 06 năm 2013. Kết

quả nghiên cứu của đề tài cho thấy trong 05 thành phần chất lượng dịch vụ khám

chữa bệnh [1] Phương tiện hữu hình; [2] Tin cậy; [3] Đáp ứng; [4] Năng lực phục

vụ; [5] Đồng cảm thì có 03 thành phần có tác động tích cực đến sự hài lòng của



21



người bệnh gồm: năng lực phục vụ, đồng cảm và phương tiện hữu hình, trong đó

thành phần năng lực phục vụ có ảnh hưởng cao nhất. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến

hành kiểm định sự khác biệt theo một số biến nhân khẩu học cho thấy có sự khác

biệt rõ rệt trong đánh giá giữa nhóm người bệnh điều trị tại bệnh viện công và bệnh

viện tư nhân.

1.3. Kết luận rút ra từ tổng quan nghiên cứu

Kết quả đầu ra của chăm sóc điều dưỡng được thể hiện tại nhiều khía cạnh

khác nhau, qua thời gian cách thức và các tiêu chuẩn đánh giá có nhiều thay đổi.

Tựu chung lại, các bằng chứng đã chỉ rõ rằng các hoạt động của điều dưỡng ảnh

hưởng rất lớn đến kết quả đầu ra của người bệnh. Việc đánh giá chất lượng hoạt

động điều dưỡng đã được thực hiện một cách đa chiều, lấy người bệnh làm trung

tâm, mức độ hài lòng của người bệnh được coi trọng. Tuy nhiên, có thể thấy, việc

khơng có một bộ tiêu chí thống nhất trong đo lường chất lượng chăm sóc khiến việc

so sánh kết quả giữa các nghiên cứu ít nhiều gặp khó khăn. Một số tác giả sử dụng

cách tiếp cận dựa theo danh mục các dịch vụ, một số tác giả sử dụng mức độ đạt

được của các dịch vụ điều dưỡng, một số tác giả khác tiếp cận theo hướng tính tốn

đầy đủ các khía cạnh của hoạt động chăm sóc điều dưỡng gồm các tiêu chí đầu vào

(cấu trúc), quá trình triển khai (quá trình), và kết quả (kết quả hoạt động chăm sóc

đối với cả người bệnh, nhân viên và bệnh viện). Các nghiên cứu về chất lượng chăm

sóc tại Việt Nam cũng thường nhìn nhận kết quả chăm sóc theo hướng các kết quả

đầu ra cụ thể.

Năng lực quản lý của người điều dưỡng trưởng khoa (ĐDTK) đóng vai trò

rất quan trọng trong hoạt động chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện. Là người quản lý

nhân lực, vật tư thiết bị y tế, tài chính và thông tin để đảm bảo cung cấp các dịch vụ

chăm sóc sức khoẻ có chất lượng tại bệnh viện. ĐDTK là người kết nối sự định

hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của tổ chức với người cung cấp dịch vụ chăm sóc hàng

ngày cho người bệnh. Họ là người chịu trách nhiệm đối với các hoạt động chăm sóc

người bệnh tại khoa trong suốt 24h. Với tư cách là người lãnh đạo các nhà điều

dưỡng của một khoa, ĐDTK là nhân tố trung tâm trong mối tương tác giữa người

bệnh, điều dưỡng viên (ĐDV), bác sỹ, kỹ thuật viên, các nhân viên khác và lãnh đạo

bệnh viện.

Người ĐDTK đóng vai trò then chốt trong việc tạo lập một mơi trường làm

việc mà ở đó ĐDTK ý thức được trách nhiệm của họ đối với các hành vi chuyên

môn mà họ thực hiện và số phận của người bệnh. Đồng thời, họ cần biết gắn kết



22



hoạt động của phòng ban họ với các phòng ban còn lại của đơn vị để sao cho các

hoạt động diễn ra năng suất và hiệu quả. Trách nhiệm của người ĐDTK bao gồm

quản lý và cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh, phát triển nhân lực, quản lý các

nguồn lực con người và tài chính, thực hiện các quy định và chuẩn mực chun

mơn, bồi dưỡng các mối quan hệ liên ngành, và lập kế hoạch chiến lược. Để hồn

thành trách nhiệm của mình, người ĐDTK phải có những năng lực về chun mơn,

quản lý nhân lực, nhận thức, khả năng lãnh đạo và tài chính.

Bởi có nhiều bộ cơng cụ khác nhau, các nghiên cứu đo lường năng lực của

điều dưỡng trưởng khoa trên thế giới dù đều rất thuyết phục song thật sự rất khó

đánh giá và so sánh. Hẳn nhiên, dù nhìn từ góc độ nào, các năng lực của điều dưỡng

trưởng trong các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng cho thấy rằng việc đo

lường năng lực cần được thực hiện một cách toàn diện. Mối liên hệ thực sự giữa

năng lực của điều dưỡng trưởng và kết quả chăm sóc dù được chứng minh qua

nhiều nghiên cứu song sự ổn định là không chắc chắn. Lý do của việc này có lẽ bởi

mối liên hệ khá phức tạp, trong nhiều trường hợp là các tác động gián tiếp thơng

qua đội ngũ điều dưỡng viên do đó có “độ trễ” nhất định. Các nghiên cứu tại Việt

Nam về năng lực điều dưỡng trưởng, hoặc về mối quan hệ giữa năng lực của điều

dưỡng trưởng và kết quả chăm sóc thường chú trọng đến các chỉ tiêu “lý tính” như

bằng cấp, thời gian đào tạo, kinh nghiệm công tác… Khơng có nhiều nghiên cứu

thực sự đánh giá năng lực một cách toàn diện như các nghiên cứu tương tự ở của

các tác giả nước ngoài. Điều này thật ra cũng là phù hợp bởi các mô tả công việc,

các quy định về tiêu chuẩn năng lực dành cho điều dưỡng trưởng là chưa được ban

hành và sử dụng trong tuyển dụng, bổ nhiệm và đánh giá. Một số nghiên cứu khác

của các tác giả trong nước chỉ đề cập đến kiến thức về quản lý chứ chưa thực sự đạt

đến tầm mức “năng lực”. Mối quan hệ giữa năng lực của điều dưỡng trưởng và kết

quả chăm sóc cũng ít được thực hiện có lẽ bởi sự e ngại rằng các yếu tố nhiễu như

cơ chế chính sách, điều kiện thực hành, nhận thức của xã hội về điều dưỡng … khó

có thể được kiểm sốt.



23



CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC QUẢN LÝ CỦA

ĐIỀU DƯỠNG TRƯỞNG KHOA BỆNH VIỆN

2.1. Điều dưỡng và kết quả chăm sóc người bệnh tại bệnh viện

2.1.1. Khái niệm và vai trò của điều dưỡng tại bệnh viên

Tại Việt Nam, trước khi được đổi tên thống nhất là “điều dưỡng” thuật ngữ “y

tá” được sử dụng một cách phổ biến với hàm ý đó là một người “trợ giúp cho thầy

thuốc/bác sĩ”. Lớp y tá nam đầu tiên được tổ chức tại bệnh viện Chợ Quán năm

1901 do đòi hỏi của thực tiễn là số lượng người bệnh phòng và tâm thần tăng cao

khiến các “ơng đốc” khơng còn làm suể. Kể từ năm 1906, ngạch nhân viên y tá bản

xứ được ban hành ở miền năm và sau này sau giải phòng hoàn toàn miền Bắc, các

lớp y tá đầu tiên được tổ chức. Thuật ngữ “y tá” được sử dụng thống nhất đến năm

1990, khi một số điều dưỡng tiên phong trong việc đề xuất tên mới “điều dưỡng”

thông qua việc thành lập Hội Y tá - Điều dưỡng Việt Nam. Quyết định số

415/TCCP-VC, năm 1993 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ)

về việc ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ ngạch công chức ngành Y tế. Tuy nhiên, chỉ

đến năm 2005, Bộ Nội vụ mới chính thức ban hành Quyết định 41/2005/QĐ-BNV

thống nhất danh xưng cho nghề là “điều dưỡng”. Một trong những tiến bộ quan

trọng của việc đổi tên, thống nhất cách gọi trong toàn quốc từ các văn bản pháp quy,

chương trịnh đào tạo, vị trí việc làm của điều dưỡng đó là cần xác định rõ 3 nhóm

hoạt động nghề nghiệp của điều dưỡng là: “độc lập”, “phối hợp” và “phụ thuộc”.

Trong quyết định này, các chức trách, hiểu biết, và các yêu cầu khác của từng ngạch

viên chức y tế điều dưỡng phân loại theo trình độ đào tạo được chính thức ban hành.

Chức vụ y tá trưởng được quy định lần đầu tại Quyết định 1050-BYT-QĐ năm

1963, tiếp sau đó từ năm 1964 các khố đào tạo y tá trưởng đầu tiên được phê duyệt

đào tạo tại Việt Nam. Y tá trưởng, vì thế đã chính thức được thừa nhận và dần khẳng

định được vai trò của mình trong cơng tác chăm sóc người bệnh. Tới năm 1997, QĐ

1895/1997/QĐ-BYT phê duyệt Quy chế bệnh viện trong đó yêu cầu phải thành lập

Phòng Y tá (điều dưỡng) tại các bệnh viện. Kể từ đây, y tá trưởng (điều dưỡng

trưởng) bắt đầu có mức kết nối mạnh mẽ hơn giữa các khoa phòng trong bệnh viện

và có nhiều hợp tác hơn với các đơn vị khác ngoài bệnh viện.



24



Nhằm điều chỉnh hoạt động chăm sóc điều dưỡng, trong q trình hình thành

và phát triển, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành. Tuy vậy, tới thời

điểm hiện tại, các quy định chính của thực hành điều dưỡng được quy định tại thông

tư 07/2011/TT-BYT. Tại thông tư này, một loạt các quy định về chức trách, nhiệm

vụ, các điều kiện bảo đảm cơng tác chăm sóc người bệnh, trách nhiệm thực thi đã

được ban hành một cách cụ thể, chi tiết về hoạt động chuyên môn và cơ chế phối

hợp tổ chức triển khai.

Tóm lại, tại quyết định 41/QĐ-BNV, cho rằng: “Điều dưỡng là viên chức

chuyên môn kỹ thuật của ngành y tế, trực tiếp hoặc phụ giúp chăm sóc phục vụ

người bệnh tại các cơ sở y tế.”. với các nhiệm vụ cụ thể như: thực hiện hoặc hỗ trợ

thực hiện các chăm sóc, phụ giúp thực hiện các kĩ thuật chăm sóc người bệnh, theo

dõi dấu hiệu sống, phụ giúp bác sĩ, sơ cấp cứu, bảo quản tốt thuốc, tài sản, tham gia

giáo dục sức khoẻ, thực hành các quy định về y đức, các quy chế chuyên môn của

ngành và quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, một số thuật ngữ cũng được làm rõ trong thơng tư 07/2011/TTBYT, chẳng hạn:

Chăm sóc người bệnh trong bệnh viện bao gồm hỗ trợ, đáp ứng các nhu cầu cơ

bản của mỗi người bệnh nhằm duy trì hơ hấp, tuần hoàn, thân nhiệt, ăn uống, bài

tiết, tư thế, vận động, vệ sinh cá nhân, ngủ, nghỉ; chăm sóc tâm lý; hỗ trợ điều trị và

tránh các nguy cơ từ mơi trường bệnh viện cho người bệnh.

Quy trình điều dưỡng là phương pháp khoa học được áp dụng trong lĩnh vực

điều dưỡng để thực hiện chăm sóc người bệnh có hệ thống bảo đảm liên tục, an toàn

và hiệu quả bao gồm: nhận định, chẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch, thực hiện và

đánh giá kết quả chăm sóc điều dưỡng

2.1.2. Nguyên tắc hoạt động điều dưỡng tại bệnh viện

Hoạt động điều dưỡng không thể phát huy tối đa hiệu quả khi các cơ sở y tế thiếu

quan tâm đúng mức đến các nguyên tắc căn bản của hoạt động này. Điều dưỡng trưởng

và các nhân viên của mình cần luôn chú ý tuân thủ một số nguyên tắc căn bản sau:

Lấy người bệnh là trung tâm của công tác chăm sóc, người bệnh cần được

chăm sóc tồn diện, liên tục, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an tồn.

Chăm sóc, theo dõi người bệnh là nhiệm vụ của bệnh viện, các hoạt động

chăm sóc điều dưỡng, theo dõi do điều dưỡng viên, hộ sinh viên thực hiện và chịu

trách nhiệm.



25



Can thiệp điều dưỡng phải dựa trên cơ sở các yêu cầu chuyên môn và sự đánh

giá nhu cầu của mỗi người bệnh để chăm sóc phục vụ.

2.1.3. Nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng tại bệnh viện

Các nhiệm vụ chun mơn chính của điều dưỡng:

- Tư vấn, giáo dục sức khoẻ

- Chăm sóc về tinh thần

- Chăm sóc vệ sinh cá nhân

- Chăm sóc dinh dưỡng

- Chăm sóc phục hồi chức năng

- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật.

- Dùng thuốc cho người bệnh

- Chăm sóc người bệnh ở giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong

- Thực hiện các kĩ thuật điều dưỡng

- Theo dõi đánh giá người bệnh

- Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót

- Ghi chép hồ sơ bệnh án

Để có thể thực hiện được tất cả các nhiệm vụ này, việc điều phối và lựa chọn

ưu tiên là tối cần thiết trong điều kiện nguồn lực là có hạn và bản thân đội ngũ điều

dưỡng viên tại các cơ sở y tế còn chưa có trình độ đồng đều. Điều dưỡng trưởng cần

có chiến lược lãnh đạo phù hợp; giao việc đúng người, cung cấp hỗ trợ và động viên

phù hợp, thương thảo với các thành phần liên quan đến q trình chăm sóc người

bệnh, bao gồm cả các cấp lãnh đạo và người bệnh. Như đã tóm lược ở trong phần

trước, điều dưỡng trưởng cần phải có khả năng điều phối tốt mối liên hệ giữa ba

thành phần là: năng lực của bản thân, tổ chức thực hành chuẩn mực, và chất lượng

chăm sóc, chất lượng của bệnh viện.

2.1.4. Chất lượng chăm sóc người bệnh tại bệnh viện

a) Đầu vào cho hoạt động điều dưỡng: Công cụ, phương tiện, các nhà điều dưỡng.

Để có thể cung cấp một chất lượng chăm sóc người bệnh tốt, việc đánh giá các

chỉ tiêu chất lượng cần được thực hiện một cách tồn diện. Tuy vậy cũng cần có

phương án đo lường và điều hành hoạt động đảm bảo chất lượng một cách khoa

học. Các điều kiện để đảm bảo chất lượng phải được tính tốn một cách kĩ lưỡng

bao gồm:



26



Thứ nhất, tổ chức hoạt động điều dưỡng một cách chặt chẽ và khoa học. Các

bệnh viện cần tổ chức hệ thống điều dưỡng đúng quy định, có hội đồng điều dưỡng

và phòng điều dưỡng với nhân lực được phân cơng nhiệm vụ rõ ràng và các quy chế

hoạt động phù hợp. Cần kiện toàn tổ chức điều dưỡng ở từng khoa, điều dưỡng

trưởng khoa cần xác định, truyền thông tốt, giám sát và điều hành hợp lý các điều

dưỡng viên trong khoa, đảm bảo mọi người đều hiểu và hoàn thành tốt các nhiệm

vụ được giao.

Thứ hai, số lượng và chất lượng điều dưỡng cần được đảm bảo, chú trọng vào

đào tạo, bồi dưỡng nhân sự phù hợp để đảm bảo duy trì số lượng nhân sự chăm sóc

đầy đủ đồng thời nâng dần trình độ để có thể đáp ứng được nhu cầu chăm sóc ngày

càng cao hơn.

Thứ ba, tổ chức, phân công nhân lực phù hợp với mô hình chăm sóc đã lựa

chọn; có phương án cung ứng hỗ trợ phù hợp, chẳng hạn bố trí các nhân viên hỗ trợ

(hộ lý, công nhân vệ sinh) để thực hiện công tác vệ sinh và các hoạt động không cần

chuyên môn quá cao.

Thứ tư, đảm bảo cơ sở vật chất, các trang thiết bị, vật tư phục vụ công tác

chăm sóc được cung ứng đầy đủ và kịp thời. Công tác dự trù, quản lý sử dụng đảm

bảo tiết kiệm và hiệu quả.

b) Đảm bảo chất lượng với Quy trình điều dưỡng

Thực hành chăm sóc cần được chuẩn hố: Các chăm sóc cần tuân thủ các lý

thuyết điều dưỡng, phù hợp với các bằng chứng khoa học mới nhất và đặc biệt lưu

tâm đến tuân thủ quy trình điều dưỡng. Dù bệnh viện thực hiên quy trình điều

dưỡng 4 bước (Nhận định – Lập kế hoạch – Thực hiện – Đánh giá) hay quy trình

điều dưỡng 5 bước (Nhận định – Chẩn đoán điều dưỡng – Lập kế hoạch – Thực

hiện – Đánh giá) thì việc tn thủ ln là sống còn trong việc đảm bảo chất lượng

chăm sóc.

Hiện tại, các bệnh viện đang thực hiện quy trình điều dưỡng 5 bước như quy

định tại thông tư 07. Quy trình điều dưỡng là phương pháp khoa học được áp dụng

trong lĩnh vực điều dưỡng để thực hiện chăm sóc người bệnh có hệ thống bảo đảm

liên tục, an tồn và hiệu quả bao gồm: nhận định, chẩn đoán điều dưỡng, lập kế

hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả chăm sóc điều dưỡng.

c) Kết quả quản lý điều dưỡng: Kết quả chăm sóc người bệnh, kết quả đối với

nhân lực điều dưỡng



27



Như đã nhận định trong phần tổng quan các nghiên cứu trong và ngồi nước,

có thể thấy, kết quả của cơng tác quản lý điều dưỡng có tác động đồng thời đến cả

mức độ phù hợp và hiệu quả của hoạt động chăm sóc (của nhân lực điều dưỡng) và

các kết quả chăm sóc người bệnh (đối với người bệnh).

2.1.5. Các chỉ số phản ánh kết quả chăm sóc người bệnh tại bệnh viện

Tuân thủ nguyên tắc lấy người bệnh làm trung tâm, việc đánh giá hiệu quả đầu ra

của hoạt động quản lý điều dưỡng có thể cân nhắc đến một số chỉ số quan trọng như:

- Tỷ lệ trượt ngã

- Tỷ lệ loét tỳ đè

- Tỷ lệ dùng thuốc lỗi

- Tỷ lệ hài lòng

- Tỷ lệ luân chuyển của nhân viên điều dưỡng.

2.2. Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của điều dưỡng trưởng khoa

2.2.1. Chức danh điều dưỡng trưởng trong bệnh viện

Trong bệnh viện, điều dưỡng trưởng là người được giao nhiệm vụ quản lý các điều

dưỡng viên khác và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động chăm sóc của họ. Họ là người

lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực và hoạt động điều dưỡng

nhằm đảm bảo cho hệ thống mà họ chịu trách nhiệm quản lý đạt được mục đích với hiệu

lực và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động.

Điều dưỡng trưởng được hiểu là người chịu trách nhiệm về công việc của

người khác ở các cấp độ khác nhau. Họ có trách nhiệm duy trì, phối hợp các hoạt

động của tất cả các cá nhân trong đơn vị đạt mục tiêu. Điều dưỡng trưởng trong

bệnh viện có thể giữ các trách nhiệm khác nhau: điều dưỡng trưởng bệnh viện, điều

dưỡng trưởng khối, điều dưỡng trưởng khoa, hoặc là điều dưỡng trưởng khu vực

quản lý một khu vực chun mơn của khoa phòng. Một bệnh viện trung ương nói

chung có 4 cấp độ của các điều dưỡng trưởng như sau:

- Điều dưỡng trưởng bệnh viện: Là người điều dưỡng quản lý đứng đầu các

điều dưỡng trong bệnh viện. Chịu trách nhiệm trước ban giám đốc bệnh viện đối với

toàn bộ các hoạt động điều dưỡng và kết quả hoạt động của các điều dưỡng trong

bệnh viện. Chịu trách nhiệm đề ra chiến lược cho các hoạt động điều dưỡng.



28



- Điều dưỡng trưởng khối: Là điều dưỡng quản lý dưới quyền của điều dưỡng

trưởng bệnh viện, chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của các ĐDTK thuộc khối

lâm sàng mình phụ trách. Điều dưỡng trưởng khối có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện

phương hướng, đường lối, chiến lược của điều dưỡng trưởng bệnh viện đã được phê

duyệt cho các bộ phân chuyên môn của ngành.

- Điều dưỡng trưởng khu: Là người dưới quyền của ĐDTK, chịu trách nhiệm

quản lý và giám sát các hoạt động của các ĐDV khu vực mình phụ trách, đồng thời

là người trực tiếp thực hiện công việc chăm sóc người bệnh.

- Điều dưỡng trưởng khoa (ĐDTK): Là người đứng đầu các điều dưỡng của

một khoa, chịu trách nhiệm về các kết quả hoạt động của các điều dưỡng của khoa

mình phụ trách. ĐDTK cũng là điều dưỡng trung gian có nhiệm vụ chỉ đạo thực

hiện các phương hướng hoạt động, đường lối của điều dưỡng trưởng bệnh viện

2.2.2. Nhiệm vụ của điều dưỡng trưởng khoa

Đối với người bệnh

Điều dưỡng trưởng khoa là người chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện cơng tác

chăm sóc, phục vụ người bệnh ở từng khoa. Để quản lý chăm sóc người bệnh hiệu

quả, hoạt động của người điều dưỡng trưởng cần tập trung vào chỉ đạo và quản lý

công tác quản lý chăm sóc người bệnh bao gồm:

- Nắm được tình trạng bệnh và tâm lý của từng người bệnh trong khoa.

- Tổ chức cơng tác chăm sóc đáp ứng các nhu cầu của người bệnh.

- Tổ chức thực hiện có hiệu quả các chỉ định điều trị của thầy thuốc.

- Bảo đảm các kỹ thuật điều dưỡng được tuân thủ bởi mọi nhân viên.

- Bảo đảm các quy chế, quy định chuyên môn được tuân thủ nghiêm túc. Công

tác chỉ đạo chăm sóc người bệnh của điều dưỡng trưởng phải dựa trên nguyên lấy

người bệnh làm trung tâm, các hoạt động của điều dưỡng hàng ngày phải hướng vào

việc đáp ứng nhu cầu của người bệnh và bảo đảm cho người bệnh được chăm sóc an

tồn, chất lượng, hiệu quả và hài lòng.

Đối với nhân viên

- Giáo dục và xây dựng mơi trường làm việc có đạo đức và ứng xử chuyên

nghiệp cho mỗi nhân viên dưới quyền.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.3: Mô hình chất lượng chăm sóc y tế của Ten Haaf

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×