Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 1.1: Mô hình quản lý điều dưỡng Iowa

Hình 1.1: Mô hình quản lý điều dưỡng Iowa

Tải bản đầy đủ - 0trang

10



Nguồn: Johnson và cộng sự

Năm 1991, Johnson, Gardner và cộng sự đã phát triển mơ hình quản lý điều

dưỡng Iowa (Hình 2) [17]. Mơ hình này hiển thị mối quan hệ giữa tổ chức với kết

quả thực tiễn quản lý. Hai lĩnh vực của hệ thống quản lý được gắn kết bởi ba nhân

tố là: người bệnh, tổ chức và hệ thống chăm sóc sức khỏe. Nghiên cứu cũng đã

chứng minh điều dưỡng trưởngcó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đầu ra của hệ

thống như chi phí điều trị, chất lượng chăm sóc, quản lý nhân lực và đo lường sự

thực hiện.

Một năm sau, Tổ chức ĐDTK Mỹ (1992) công bố một nghiên cứu xác định

các yếu tố cơ bản của người ĐDTK [18]. Hai chức năng này được chia thành sáu

loại, bao gồm việc quản lý hoạt động chăm sóc, quản lý nguồn nhân lực và tài

chính, phát triển nhân sự, tuân thủ tiêu chuẩn quy định và nghề nghiệp, bồi dưỡng

các mối quan hệ liên ngành. Hai nhóm đầu tiên được chia thành các nhóm chính.

Năng lực chăm sóc y tế bao gồm mơi trường an tồn và chăm sóc cho bệnh nhân,

phát triển các biện pháp đánh giá của bệnh nhân và thân nhân đối với điều dưỡng

viên, đánh giá các hệ thống y tế hiện thời và đánh giá tính hiệu của quả các chương

trình y tế đang tiến hành tại cơ quan công tác. Năng lực quản lý nguồn lực bao gồm

tận dụng phù hợp và hiệu quả các nguồn nhân lực và tài lực. Tổ chức đưa ra kết

luận rằng những năng lực này cần liên tục được bồi dưỡng bởi các điều dưỡng

trưởng để đáp ứng các chức năng, nhiệm vụ và vai trò của cơng việc mà họ đảm

nhiệm.

Beuchlin – Telutki và cộng sự định nghĩa sáu vai trò quan trọng đối với điều

dưỡng trưởng trong một nghiên cứu định tính của họ [19]. Những vai trò này bao

gồm lập kế hoạch, tổ chức nhân sự và hoạt động, phát triển và quản lý nguồn nhân

lực, phát triển chuyên môn, và dịch vụ chăm sóc bệnh nhân. Mỗi vai trò sau đó được

xác định rõ hơn. Một cơng cụ đánh giá hiệu quả tiêu chuẩn sau đó đã được đề xuất sử

dụng ba cấp độ hiệu suất tiêu chuẩn: trên tiêu chuẩn với chất lượng cao ổn định , hiệu

suất tiêu chuẩn với công việc phù hợp vững chắc, và dưới tiêu chuẩn chất lượng

không phù hợp với công việc. Nghiên cứu này đã chứng minh sự cần thiết phải xác

định rõ vai trò và hỗ trợ đồng nghiệp, một khi vai trò cơng việc được xác định rõ

như hiện nay.

Hai nghiên cứu quan trọng khác do Chase (1994) và Chase (2010), thực hiện

dựa trên nghiên cứu của Katz có sử dụng các kỹ năng quản lý cần thiết đã tạo ra

được một công cụ (bảng hỏi dành cho điều dưỡng trưởng khoa) giúp cho điều



11



dưỡng trưởng khoa sử dụng để xác định tầm quan trọng của các năng lực hiệu quả

đối với một điều dưỡng trưởng khoa [20]. Chase phát hiện ra rằng một số kỹ năng

có thể khơng nằm trong phạm vi 3 kỹ năng cơ bản của Katz. Vì vậy, bà đã bổ sung

thêm 2 nhóm năng lực nữa là năng lực lãnh đạo và năng lực quản lý tài chính.

Sanders, Davidson và Price (1996) báo cáo một nghiên cứu xác định các

yếu tố chính trong vài trò của một ĐDTK [21]. Sử dụng bảng câu hỏi mô hình

Likert, 74 điều dưỡng trưởng từ 5 bệnh viện lớn được hỏi về yếu tố nào trong

nghề nghiệp của họ được đánh giá quan trọng nhất. Nghiên cứu này nêu ra 4 yếu

tố chính, theo trình tự của độ quan trọng nhất là khả năng quản lý, trình độ

chun mơn, khả năng giáo dục và khả năng nghiên cứu. Những yếu tối này

được xác định là quan trọng nhất trong việc lồng ghép một chương trình đào tạo.

Ngồi ra, tác giả cũng gợi ý việc lồng ghép các yếu tố chính nêu trên vào hoạt

động hướng dẫn và hỗ trợ đồng nghiệp.

Dach – Zahavy và Dagan (2002) trình làng một nghiên cứu định tính quan

sát 48 ĐDTK và ghi chép lại công việc của họ để xác định các yếu tố chính cần

thiết cho vai trò ĐDTK [22]. Theo đó, khả năng chuyên môn, khả năng phối

hợp, chức năng vận hành của đơn vị, khả năng quản lý nhân viên và nguồn nhân

lực, khả năng nâng cao chất lượng phục vụ là những khả năng chính mà các

ĐDTK thường phải thực hiện. Những tác giả cũng chỉ ra cần có các nghiên cứu

tiếp theo để xác định tính hiệu quả của những ĐDTK trong các hoạt động chăm

sóc và sự thỏa mãn của nhân viên; thơng q đó đánh giá tính hiệu quả của các

hoạt động mà ĐDTK thực hiện.

“Tầm nhìn 2020: Dự đốn về ĐDTK trong tương lai” là nghiên cứu hai giai

đoạn xem xét tầm quan trọng của các năng lực giáo dục, kỹ năng và kiến thức đối

với ĐDTK [23]. Nghiên cứu này xác định 8 kỹ năng cần thiết bao gồm quản lý tài

chính, giao tiếp, quản lý nhân lực, cộng tác, khả năng chuyên môn, khả năng quản

lý thay đổi, tư duy và khả năng hòa đồng. Nghiên cứu này chứng minh rằng khơng

chỉ việc cung cấp chất lượng dịch vụ chăm sóc quan trọng mà khả năng lãnh đạo

các điều dưỡng khác, nâng cao giá trị công việc và tin cậy của nghề điều dưỡng là

những khả năng mà ĐDTK phải có. Những khả năng này được đề cập để đồng hành

với khả năng lãnh đạo và nghề điều dưỡng trong tương lai hay chí ít là năm 2020.

Để tăng khả năng hồn thành nhiệm vụ của ĐDTK, Kleiman thực hiện một

nghiên cứu miêu tả về vai trò chính của ĐDTK [24]. Quản lý lịch trình, quản lý tài



12



chính và nguồn nhân lực là những năng lực một ĐDTK phải sở hữu. Tác giả kết

luận rằng các ĐDTK cần phải trang bị cả khả năng quản lý lẫn khả năng chuyên

môn để đảm nhiệm vai trò do sự phức tạp của chức vụ ĐDTK.

Contino (2004) đưa ra 4 nhóm vai trò của ĐDTK, bao gồm kỹ năng quản lý tổ

chức, kỹ năng giao tiếp, phân tích số hiệu hoạt động, lập kế hoạch chiến lược và khả

năng tầm nhìn sáng tạo [25]. Nghiên cứu này cho thấy những năng lực cần thiết

phải được đào tạo cho ĐDTK.

Lin, Wu và White (2005) thực hiện một nghiên cứu khám phá sử dụng mơ

hình năng lực hoạt động để đánh giá mức độ quan trọng của các hoạt động quản lý

đối với ĐDTK. Họ chỉ ra rằng khả năng thành thạo trong công việc của họ phụ thuộc

vào mức độ nắm bắt được các kỹ năng trên đến đâu [26]. Năm khả năng được đánh giá

hàng đầu là khả năng quản lý, khả năng lập kế hoạch và giao việc, khả năng lập mục

tiêu, khả năng điều hành công việc và đào tạo điều dưỡng. Những kỹ năng này có tầm

quan trọng ngang nhau trong mọi khoa thực hiện điều tra bất kể quy mô khoa nào. Lin

và cộng sự đã giải thích rằng: “Một lời giải thích cho kết quả này là, nhìn chung, tại các

bệnh viện, ĐDTK thường phải hồn thành các vai trò quản lý giống nhau hoặc thực

hiện các chức năng tương tự trong quản lý các điều dưỡng, tác động đến chiến lược

phát triển của các bệnh viện hoặc đề ra các vai trò cần đào tạo cho điều dưỡng nhằm đối

phó với môi trường bệnh viện đầy cạnh tranh” .

1.1.3. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa năng lực quản lý của điều dưỡng trưởng

khoa với kết quả chăm sóc người bệnh

Trong nghiên cứu của Julie Sochalski (2001) về chất lượng chăm sóc và nhân

lực điều dưỡng, tác giả nhận thấy rằng mức độ giảm chất lượng chăm sóc và an tồn

người bệnh trong bệnh viện có liên quan đến mức độ nghiêm túc trong thực thi các

quy định chăm sóc, tỷ lệ điều dưỡng tối thiểu, khối lượng công việc mà mỗi điều

dưỡng phải thực hiện, và điều kiện làm việc của họ [27]. Có 20% điều dưỡng làm

việc trong các bệnh viện ở Pennsylvania báo cáo rằng chất lượng chăm sóc tại đơn

vị của họ là trung bình và dưới trung bình. Khối lượng cơng việc vừa là ngun

nhân ảnh hưởng đến chất lượng vừa là một khía cạnh của chất lượng. Điều này gợi

ý rằng, cần xem xét vai trò của những người “cầm trịch” trong điều phối nhân lực

và các chăm sóc điều dưỡng mà cụ thể là điều dưỡng trưởng. Moore, Lynn,

McMillen, và Evans (1999) ứng dụng “thẻ phản hồi điều dưỡng” để thu thập thông

tin về chất lượng chăm sóc điều dưỡng từ 1500 BN, 300 điều dưỡng tại 16 đơn vị



13



và cơ sở chăm sóc [28]. Trong nghiên cứu này, các tác giả nhận thấy điều dưỡng có

ảnh hưởng lớn đến chất lượng chăm sóc của người bệnh.

Trong lĩnh vực nguồn nhân lực và lãnh đạo, điều dưỡng trưởng có tác động

khơng nhỏ đến sự thiếu hụt điều dưỡng trong cơ sở của họ. Về bản chất, vai trò của

các nhà quản lý là tạo điều kiện cho sự phát triển của cấp dưới và đồng thời, quản lý

nguồn nhân lực. Sự lãnh đạo của một điều dưỡng trưởng tuyến đầu là yếu tố quan

trọng quyết định mức độ hài lòng của điều dưỡng [29]. Khi điều dưỡng hài lòng, họ

sẽ trung thành với vị trí của họ. Zager và Walker (2005) chú thích rằng sự lãnh đạo

của quản lý cấp trung là rất quan trọng đối với việc giữ chân nhân viên, và theo như

các văn bản về sự thiếu hụt điều dưỡng, việc giữ chân các điều dưỡng quyết định

chất lượng dịch vụ chăm sóc người bệnh [30].

Sự hài lòng hay bất mãn với cơng việc quản lý của ĐDTK có ảnh hưởng rất

lớn tới người bệnh. Tzeng và Ketefian (2002) ủng hộ ý kiến này khi đưa ra một

nghiên cứu chứng minh rằng sự hài lòng trong cơng việc quản lý của ĐDTK có mối

liên hệ với sự hài lòng của các người bệnh nội trú [31]. Sự hài lòng của người bệnh

rất quan trọng vì nhận thức về chất lượng điều trị chính là điều thực tế nhất đối với

họ. Nắm bắt được nhận thức này sẽ dẫn đến những cải thiện trong tương lai. Tzeng

và Ketefian cũng chỉ ra rằng sự hài lòng của người bệnh là một chỉ số chăm sóc sức

khỏe quan trọng. Nhận thức về chất lượng điều trị chính là dấu hiệu nhận biết về sự

hài lòng của người bệnh. Sự hài lòng của người bệnh là chỉ số đánh giá chủ quan

nhưng có thể lượng hóa được.

Lageson (2004) giả định rằng mức độ hài lòng đối với cơng việc tăng dẫn đến

sự cải thiện về mức độ hài lòng của người bệnh [32]. Bà lưu ý rằng sự hài lòng

của người bệnh là một biện pháp đánh giá người bệnh thông qua chất lượng

chăm sóc tại một khu vực cụ thể, trong đó một người bệnh đã phải nhập viện tại

bệnh viện chăm sóc cấp tính. Nghiên cứu của bà khơng đưa ra mối liên hệ giữa

mức độ hài lòng cơng việc của điều dưỡng đến sự hài lòng của người bệnh hoặc

giữa tỉ lệ bỏ việc của điều dưỡng đối với sự hài lòng của người bệnh. Lageson

nêu vấn đề thời gian của bản nghiên cứu là lý do hợp lý cho kết quả tìm được.

Bản khảo sát về sự hài lòng được điều tra ngay sau khi người bệnh nhập viện.

Mức độ hài lòng của người bệnh là cách hữu hiệu để biết được ý kiến của

khách hàng. Nó phản ánh trực tiếp những suy nghĩ của người bệnh về năng lực

của các đơn vị mà ĐDTK quản lý.



14



Năng lực quản lý tài chính cũng quan trọng đối với một điều dưỡng trưởng.

Như đã được nêu ra, khả năng tuyển dụng và giữ chân các điều dưỡng của họ tác

động trực tiếp đến bức tranh tài chính đơn vị của họ. Những điều dưỡng trưởngquản

lý những khoản ngân sách thường trên 1 triệu USD – số tiền lớn hơn tổng ngân sách

của hầu hết các doanh nghiệp nhỏ (Vestal, 2003). Vai trò của họ đòi hỏi họ phải am

hiểu về thu chi kết hợp với việc phân phối dịch vụ chăm sóc tại cơ sở để họ có thể

có những lựa chọn khơn khéo nhất trong khn khổ nguồn lực có hạn của họ. Điều

dưỡng trưởngđạt được điều này qua việc duy trì một lực lượng lao động có tay nghề

và có năng suất cao, có thể cung cấp dịch vụ chăm sóc người bệnh có chất lượng và

chi phí hiệu quả (Parson và Stonestreet, 2003).

Ma, Shang và Bott (2015) đã thu thập thông tin từ 29 742 điều dưỡng tại

1228 khoa của 200 bệnh viện tại 41 bang về vai trò của lãnh đạo điều dưỡng

đến kết quả quản lý điều dưỡng và kết quả chăm sóc [33]. Các tác giả phát hiện

ra rằng năng lực của điều dưỡng trưởng có tác động rõ ràng đến mức độ hài

lòng với nghề nghiệp, ý định bỏ việc của điều dưỡng và chất lượng chăm sóc

người bệnh. Nghiên cứu khuyến cáo rằng cần tăng cường hợp tác giữa các điều

dưỡng và tăng cường năng lực lãnh đạo của điều dưỡng trưởng.

Duffield và Franks (2001) chỉ ra rằng những ĐDTK có ảnh hưởng tích cực

đến sự chăm sóc, đến độ hài lòng của nhân viên và người bệnh, cũng như kết quả

điều trị của người bệnh, nhưng có rất ít bằng chứng chứng minh luận điểm này là

đúng. Họ lưu ý rằng những lợi ích của việc đào tạo ĐDTK và chương trình đào tạo

quản lý sẽ làm giảm tỉ lệ bỏ việc, cải thiện tinh thần cho nhân viên và nâng cao tư

duy tổ chức. "Những nhà quản lý sẽ ngày càng phải thể hiện giá trị của mình rõ

ràng, những hoạt động của họ đối với các tổ chức y tế, đặc biệt là về vấn đề kết quả

điều trị của người bệnh và năng suất điều dưỡng viên ".

Thông qua việc đánh giá các chỉ số năng lực lãnh đạo và những ảnh hưởng sau

đó đối với kết quả điều trị, nhiều kế hoạch đào tạo có thể được phát triển nhằm phát

huy tài năng của họ. Bruder và cộng sự (2002) báo cáo rằng các kỹ năng quan trọng

trong quản lý y tế trong bối cảnh kinh tế thay đổi chóng mặt hiện nay phải được

nghiên cứu kỹ nhằm phát hiện ra những kiến thức chính cần kết hợp trong chương

trình đào tạo quản lý điều dưỡng.

Sims (2003) đưa ra một mơ hình kinh doanh dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Ơng

lập luận rằng: để quản lý chi phí và chất lượng, những nhà quản lý phải được đào

tạo và trao quyền cho các nhà cung cấp và người bệnh. Những đánh giá về việc



15



chăm sóc sức khỏe cũng phải phù hợp với việc điều trị. Để thực hiện việc này, ơng

đề xuất một nhóm chun trách phát triển các tiêu chuẩn dựa trên những bằng

chứng thực tế cũng như các tiêu chuẩn sẵn có để giám sát việc thực hiện. Mơ hình

này được tạo ra ngay trong q trình việc chăm sóc sức khỏe diễn ra.

Nghiên cứu của Dykes và cộng sự (2017) chỉ ra rằng việc phòng ngừa ngã không

chỉ phụ thuộc vào kiến thức và kinh nghiệm của điều dưỡng viên mà còn phụ thuộc

nhiều vào việc có hay khơng áp dụng các cơng cụ giám sát, kiểm tra và phòng ngừa

ngã [34]. Tỷ lệ tuân thủ với các khuyến nghị phòng ngừa ngã tại Bệnh viện Phụ nữ

Brigham tại Boston, Hoa Kỳ đã đạt được mức 82%, qua đó giảm tỷ lệ ngã của BN dao

động từ 3,28 đến 2,80 trên 1000 ngày giường trong năm 2015, xuống còn từ 1,00 đến

0,54 trên 1000 ngày giường trong năm 2016. Trong khi đó tỷ ngã tại trung tâm y tế

Montefiore, New York, Hoa Kỳ đã giảm từ 3,04 đến 3,10 trên 1000 ngày giường xuống

còn 0,47 đến 0,31 trên 1000 ngày giường trong cùng khoảng thời gian. Kết quả tương

tự cũng được phát hiện trong các nghiên cứu của Deyo và cộng sự và nghiên cứu của

Godlock và cộng sự (đều trong năm 2016) [35, 36]. Trong khi nghiên cứu của Deyo

nhấn mạnh đến việc các năng lực của điều dưỡng trưởng thúc đẩy sự tham gia của

người bệnh, thì nghiên cứu của Godlock nhấn mạnh đến tác động của điều dưỡng

trưởng thông qua giáo dục, giám sát điều dưỡng viên.

Các năng lực của điều dưỡng trưởng cũng được chứng minh là có liên quan đến kết

quả đầu ra của chăm sóc điều dưỡng trong một nghiên cứu nhiều giai đoạn của Adam và

cộng sự trong năm 2018 [37]. Các tác giả chỉ rõ rằng ba thành tố là “năng lực điều dưỡng

trưởng”; “môi trường thực hành chuyên nghiệp”; và “kết quả đầu ra của người bệnh và

cơ sở y tế” có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mơ hình MILE ONE (Mode of Leadership,

Envỉonment, and Outcomes for Nurse Executives – Mơ hình lãnh đạo, mơi trường và kết

quả đầu ra dành cho điều dưỡng trưởng) được tóm tắt trong hình 2 dưới đây.



16



Hình 1.2: Mơ hình lãnh đạo, mơi trường và kết quả đầu ra dành cho điều

dưỡng trưởng (MILE ONE)

Nguồn: Adam và cộng sự

Ten Haaf (2007) đã sử dụng khung năng lực Chase (1994) để nghiên cứu mối

liên quan giữa năng lực quản lý của ĐDTK với kết quả chăm sóc người bệnh, sự hài

lòng của người nhà người bệnh và người bệnh, sự hài lòng của nhân viên điều

dưỡng. Kết quả chăm sóc người bệnh bao gồm các yếu tố như: Số người bệnh ngã

trong năm, số lỗi cấp phát thuốc thuốc, số người bệnh bị đau khơng được kiểm sốt

và số nhân viên thay đổi vị trí làm việc.



17



Lĩnh vực 1

Cấu trúc :

Nguồn nhân lực

Tài chính



Lĩnh vực 2



Người bệnh:

Trượt ngã

Lỗi cấp phát

thuốc

Sự hài lòng với

việc kiểm sốt

cơn đau

Nhân viên:

Ln chuyển

cơng tác



C

H



T

L



Q trình:



Ư



Lãnh đạo







Nhận thức



N



Kỹ thuật



G



Hình 1.3: Mơ hình chất lượng chăm sóc y tế của Ten Haaf

Nguồn: Ten Haaf, 2007

Tóm lại, các nghiên cứu trên thế giới với hai hướng chính; (1) Nghiên cứu xây

dựng khung năng lực quản lý của ĐDTK, (2) Phân tích mối quan hệ giữa năng lực

quản lý của ĐDTK với kết quả chăm sóc người bệnh. Những nghiên cứu này là cơ

sở cho tác giả xây dựng khung lý thuyết trong luận án.

1.2. Các cơng trình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Vi Nguyệt Hồ và Phạm Đức Mục (2005) về “Hiện trạng

nguồn nhân lực điều dưỡng, những thách thức và tương lai người điều dưỡng Việt

Nam” đã cho thấy vị trí và những thành tựu đã đạt được của đội ngũ điều dưỡng

trong thời gian qua, tác giả đã khẳng định điều dưỡng là lực lượng tạo ra sự thay đổi

tích cực trong hệ thống Y tế [38]. Với số lượng 64.397 điều dưỡng có ở khắp mọi

nơi trong hệ thống y tế, cận kề với người bệnh trong bệnh viện, gần gũi với người

dân trong cộng đồng. Trách nhiệm của người điều dưỡng rất đa dạng, đặc biệt là ở

những vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa nơi khơng có bác sỹ. Điều dưỡng là

những cán bộ y tế đầu tiên tiếp xúc với người bệnh nghèo ở bệnh viện và người dân



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 1.1: Mô hình quản lý điều dưỡng Iowa

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×