Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ÁP DỤNG LÝ LUẬN THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ VIỆT NAM

ÁP DỤNG LÝ LUẬN THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Năm 1975, sau ngày giải phóng miền Nam, một bức tranh mới về hiện

trạng kinh tế Việt Nam đã thay đổi. Đó là sự duy trì một nền kinh tế tồn tại cả

ba loại hình:

 Kinh tế cổ truyền (tự cung tự cấp)

 Kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp (ở miền Bắc)

 Kinh tế thị trường (đặc trưng ở miền Nam).

Mặc dù đây là một tồn tại khách quan sau năm 1975 nhưng chúng ta

vẫn tiếp tục xây dựng nền kinh tế tập trung theo cơ chế kế hoạch hố trên

phạm vi cả nước. Đó là sự áp đặt rất bất lợi.

 Hậu quả:

Do chủ quan nóng vội, cứng nhắc, chúng ta đã không quản lý được

hiệu quả các nguồn lực dẫn tới việc sử dụng lãng phí nghiêm trọng các nguồn

lực của đất nước.

- Tài nguyên bị phá hoại, sử dụng khai thác không hợp lý, môi trường

bị ô nhiễm.

- Nhà nước bao cấp và tiến hành bù lỗ phổ biến gây hậu quả nghiệm

trọng cho nền kinh tế.

 Sự tăng trưởng kinh tế chậm lại, tăng trưởng kinh tế trên lý

thuyết, giấy tờ.

 Hàng hoá, sản phẩm trở nên khan hiếm, không đáp ứng được nhu

cầu trong nước.

 Ngân sách thâm hụt nặng nề. Vốn nợ đọng nước ngồi ngày càng

tăng và khơng có khả năng cho chi trả.

 Thu nhập từ nền kinh tế quốc dân khơng đủ chi dùng, tích luỹ

hầu như khơng có.



Trang 10



 Vốn đầu tư cho sản xuất và xây dựng chủ yếu là dựa vào vay và

viện trợ nước ngồi.

- Cùng với đó là sự thối hố về mặt con người và xã hội.

Đến năm 1979, nền kinh tế rất suy yếu, sản xuất trì trệ, đời sống nhân

dân khó khăn, nguồn trợ giúp từ bên ngồi giảm mạnh.

Từ năm 1975 đến năm 1985, các thành phần kinh tế tư bản tư nhân, cá

thể bị tiêu diệt hoặc không còn điều kiện phát triển dẫn đến thực trạng tiềm

năng to lớn của các thành phần kinh tế này không được khai thác và phục vụ

cho mục tiêu chung của nền kinh tế. Ngược lại, thành phần kinh tế quốc

doanh đã phát triển ồ ạt, tràn lan trên mọi lĩnh vực trở thành địa vị đọc tôn

trong hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ (trừ ngành nông

nghiệp, thành phần kinh tế tập thể là chủ yếu).Thời điểm cao nhất, thànhphần

kinh tế quốc doanhđã cõ gần 13 nghìn doanh nghiệp với số tài sản cố định

chiếm 70% tổng số tài sản cố định của nền kinh tế. Thời kỳ này, kinh tế nước

ta tuy có đạt được tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng sự tăng trưởng đó

khơng có cơ sở để phát triển vì đã dựa vào điều kiện bao cấp, bội chi ngân

sách, lạm phát và vay nợ nước ngoài.

Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập

trung nên nhà nước gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các

doanh nghiệp quốc doanh, nhiều doanh nghiệp quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực

lượng sản xuất không được giải phóng, nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng

hoảng và tụt hậu.

 Nguyên nhân

Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa

nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối

dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng lý luận và thực tiễn vào tinh hình nước

ta.



Trang 11



Đến năm 1986, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản vẫn chưa

bị xoá bỏ. Cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế

lỗi thời chưa được thay đổi. Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng

thời những hiện tượng vơ tổ chức, vơ kỷ luật còn khá phổ biến.

Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không nhạy

bén, là những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất

từ trên xuống dưới.

Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình

thức, bước đi, cách làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được thoả

đáng cả về lý luận và thực tiễn.

2.1.2. Tư tưởng chỉ đạo đối với tình hình kinh tế của Việt Nam sau chiến

tranh.

Ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá

độ:”Khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy,đặc biệt là những

chính sách kinh tế là bệnh chủ quan, duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản

đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan” (Đảng công sản Việt nam Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI-1986). Chúng ta đã có những

thành kiến khơng đúng, trên thực tế, chưa thừa nhận thật sự những quy luật

của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan.

Chúng ta đã ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách quá mức mà

hiệu quả kinh tế phát triển chậm. Hơn thế nữa, ta chưa chú ý đúng mức tới sản

xuất nông nghiệp và sản xuất hàng tiêu dùng nên đời sống nhân dân gặp nhiều

khó khăn.

Bên cạnh đó, sự tan rã của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa vào

những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 làm cho chúng ta mất đi một thị

trường truyền thống, nguồn viện trợ quan trọng, gây nhiều khó khăn đối với

sản xuất và đời sống.



Trang 12



Chính sách cấm vận của Hoa Kỳ kéo dài, sự thù địch của các thế lực

phản động cũng có tác động khơng nhỏ đến sự phát triển kinh tế - xã hội của

đất nước.

Tất cả những nguyên nhân trên cộng với thiên tai, mất mùa liên tiếp

vào những năm 1979 - 1980 đã đưa nước ta vào tình trạng khủng hoảng, cơng

nghiệp chỉ tăng 0,6%, nơng nghiệp tăng 1,9% trong khi lạm phát ở mức siêu

cấp năm 1986 : 74%

Chính vì vậy, bài học kinh nghiệm được rút ra trong “ Văn kiện Đại hội

Đại biểu toàn quốc lần thứ VI về phát triển kinh tế phải xuất phát từ thực tiễn,

tôn trọng và hoạt động theo quy luật khách quan là hoàn toàn đúng đắn. Chính

từ những khó khăn trên đòi hỏi phải đổi mới nền kinh tế, xã hội. Đại hội

Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu một mốc phát triển quan trọng trong

quá trình phát triển của đất nước.

2.1.3. Biện pháp giải quyết tình hình để phát triển kinh tế của Việt Nam

sau chiến tranh

Để khắc phục khuyết điểm, chuyển biến được tình hình, Đảng ta trước

hết phải thay đổi nhận thức , đổi mới tư duy. Phải nhận thức và hành động

đúng đắn, đề ra những chủ trương, chính sách phù hợp với hệ thống quy luật

khách quan, trong đó các quy luật đặc thù của chủ nghĩa xã hội ngày càng chi

phối mạnh mẽ phương hướng phát triển chung của xã hội. Mọi chủ trương,

chính sách, biện pháp kinh tế gây tác động ngược lại đều biểu hiện sự vận

dụng không đúng quy luật khách quan, phải được sửa đổi hoặc huỷ bỏ.

Trên cơ sở đó, chúng ta phải vận dụng tổng hợp hệ thống các quy luật

đang tác động lên nền kinh tế. Trong hệ thống các quy luật đó, quy luật kinh

tế cơ bản cùng với các quy luật đặc thù khác của chủ nghĩa xã hội ngày càng

phát huy vai trò chủ đạo, được vận dụng trong một thể thống nhất với các quy

luật của sản xuất hàng hoá, đặc biệt là quy luật giá trị, quy luật cùng cầu, quy



Trang 13



luật cạnh tranh... Kế hoạch hố phải ln ln gắn liền với việc sử dụng các

đòn bảy kinh tế.

Đại hội đảng lần thứ VI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng . Những quan

điểm, đường lối do Đại hội VI vạch ra là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo

chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn của đất nước .

Công cuộc đổi mới của Đảng từ sau Đại hội VI đến nay ở nước ta khơng nằm

ngồi những quy luật phổ biến của phép biện chứng, Đảng ta đã vận dụng

phép biện chứng vào nhận thức hiện thực xã hội, phân tích các mối liên hệ

biện chứng của đời sống hiện thực, tìm ra các mâu th̃n đó và tạo ra động lực

mạnh mẽ cho quá trình đổi mới vững chắc.

Vì trước đây, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội với nhiều

khó khăn phức tạp, gay gắt, lạm phát phi mã do tư duy lý luận bị lạc hậu, giữa

lý luận và thực tiễn có khoảng cách xa. Tư duy cũ về chủ nghĩa xã hội theo

mơ hình tập trung quan liêu bao cấp đã cản trở sự phát triển của thực tiễn sản

xuất. Bị chi phối bởi quy luật mâu thuẫn khách quan nên để giải quyết mâu

thuẫn đó Đảng ta đã tiến hành đổi mới và cải cách kinh tế.

Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất. Để

làm đủ ăn và có tích luỹ, phải ra sức phát triển sản xuất, xây dựng một cơ cấu

kinh tế hợp lý, trước hết là cơ cấu các ngành kinh tế phù hợp với tính quy luật

về sự phát triển các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với sự phân công lao

động và hợp tác quốc tế. Cơ cấu kinh tế đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển

cân đối với nhịp độ tăng trưởng ổn định. Phải thông qua việc sắp xếp lại sản

xuất, đi đôi với việc xây dựng thêm cơ cấu kinh tế hợp lý.

Hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh sản xuất

hàng tiêu dùng, xuất khẩu.

Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với

tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Củng cố thành phần

kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh, tập thể. Bằng các



Trang 14



biện pháp thích hợp, sử dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác

trong sự liên kết chặt chẽ và dưới sự chỉ đạo của thành phần kinh tế xã hội

chủ nghĩa. giải pháp đó xuất phát từ thực tế của nước ta và là sự vận dụng

quan điểm của Lênin coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc

trưng của thời kỳ quá độ. Thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ

chế kế hoạch hoá theo phương thức hoạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa,

đúng nguyên tắc tập trung dân chủ.

Tiến hành phân cấp quản lý theo nguyên tắc tập trung dân chủ, chống

tập trung quan liêu, chống tự do vô tổ chức. Bảo đảm quyền tự chủ sản xuất,

kinh doanh, tự chủ tài chính của các đơn vị kinh tế cơ sở, quyền làm chủ của

các tập thể lao động.

2.2. Quá trình đổi mới kinh tế của Việt Nam

Cơng cuộc đổi mới chính thức bắt đầu từ việc Đảng ta thừa nhận và cho

phép phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị

trường. Đó là một tất yếu khách quan khi ở vào thời kỳ quá độ như ở nước ta

hiện nay. Phải dung hoà và tồn tại nhiều thành phần kinh tế là một tất yếu do

lịch sử để lại song đưa chúng cùng tồn tại và phát triển mới là một vấn đề nan

giải, khó khăn. Bên cạnh việc thừa nhận sự tồn tại của kinh tế tư bản tư nhân,

đương nhiên phải thường xuyên đấu tranh với xu hướng tự phát tư bản chủ

nghĩa và những mặt tiêu cực trong các thành phần kinh tế, giải quyết mâu

thuẫn tồn tại trong sản xuất giữa chúng để cùng phát triển.

Sự nghiệp đổi mới ở nước ta cung cấp một bài học to lớn về nhận thức.

Đó là bài học về quán triệt quan điểm thực tiễn - nguyên tắc cơ bản của chủ

nghĩa Mác - Lênin, quan điểm cơ bản và hàng đầu của triết học Mác xít. Sự

nghiệp đổi mới với tính chất mới mẻ và khó khăn của nó đòi hỏi phải có lý

luận khoa học soi sáng. Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và điều

kiện cơ bản làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thức tiễn. Tuy nhiên, lý

luận khơng bỗng nhiên mà có và cũng không thể chờ chuẩn bị xong xuôi về lý



Trang 15



luận rồi mới tiến hành đổi mới. Hơn nữa, thực tiễn lại là cơ sở để nhận thức,

của lý luận. Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới có cơ sở đề khái

qt thành lý luận.

Vì vậy, q trình đổi mới ở nước ta chính là q trình vừa học vừa làm,

vừa làm vừa tổng kết lý luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối để rồi

quay trở lại q trình đổi mới. Có những điều chúng ta phải mò mẫm trong

thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải làm rồi mới biết, thậm chí có nhiều

điều phải chờ thực tiễn. Ví dụ như vấn đè chống lạm phát, vấn đề khốn trong

nơng nghiệp, vấn đề phân phối sản phẩm... Trong q trình đó, tất nhiên sẽ

không tránh khỏi việc phải trả giá cho những khuyết điểm, lệch lạc nhất định.

Ở đây, việc bám sát thực tiễn, phát huy óc sáng tạo của cán bộ và nhân

dân là rất quan trọng. Trên cơ sở, phương hướng chiến lược đúng, hãy làm rồi

thực tiễn sẽ cho ta hiểu rõ sự vật hơn nữa - đó là bài học không chỉ của sự

nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm mà còn là bài học của sự nghiệp đổi

mới vừa qua và hiện nay.

Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không

hề coi nhẹ lý luận. Quá trình đổi mới là quá trình Đảng ta khơng ngừng nâng

cao trình độ lý luận của mình, cố gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý

luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nó

được thể hiện qua năm bước chuyển của đổi mới tư duy phù hợp với sự vận

động của thực tiễn cuộc sống trong những hoàn cảnh và điều kiện mới

 Bước chuyển thứ nhất của kinh tế Việt Nam trong quá trình đổi

mới

Từ tư duy, dựa trên mơ hình kinh tế hiện vật với sự tuyệt đối hoá sở

hữu xã hội (Nhà nước và tập thể) với sự phát triển vượt trước của quan hệ sản

xuất đối với sự phát triền của lực lượng sản xuất dẫn tới hậu quả kìm hãm sự

phát triển sản xuất... sang tư duy mới. Xây dựng nền kinh tế hàng hố nhiều

thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự thống nhất



Trang 16



biện chứng với tính đa dạng các hình thức sở hữu, đa dạng các hình thức phân

phối, lấy phân phối theo lao động làm đặc trưng chủ yếu nhằm thúc đẩy sản

xuất phát triển.

Đây chính là bước chuyển căn bản mà có ý nghĩa sâu xa vì nó là tơn

trọng quy luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng

sản xuất; tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mà từng

bước thiết lập quan hệ sản xuất cho phù hợp .

 Bước chuyển thứ hai của kinh tế Việt Nam trong quá trình đổi

mới

Từ tư duy quản lý dựa trên mơ hình một nền kinh tế chỉ huy tập trung,

kế hoạch hoá tuyệt đối với cơ chế bao cấp và bình quân sang tư duy quản lý

mới thích ứng với nền kinh tế hàng hố nhiều thành phần, vận hành theo cơ

chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ

nghĩa

 Bước chuyển thứ ba của kinh tế Việt Nam trong q trình đổi

mới

Đó là tiến hành đổi mới hệ thống chính trị, từ chế độ tập trung quan liêu

với phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh sang dân chủ hoá các lĩnh vực

của đời sống xã hội, thực hiện dân chủ toàn diện.

 Bước chuyển thứ tư của kinh tế Việt Nam trong quá trình đổi

mới

Đổi mới quan niệm về sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội

ở một nước phải xuất phát từ chủ nghĩa Mác - Lê nin trong điều kiện hoàn

cảnh lịch sử cụ thể của nước đó. Và đây cũng chính là tính khách quan, là cơ

sở khách quan quy định nhận thức và những tìm tòi sáng tạo của chủ thể lãnh

đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nó cũng đồng thời một lần nữa làm

sáng tỏ quan điểm thực tiễn chi phối sự hoạch định đường lối chính sách.



Trang 17



 Bước chuyển thứ năm của kinh tế Việt Nam trong q trình đổi

mới

Đó là sự hình thành quan niệm mới của Đảng ta về Chủ nghĩa Xã hội

những nhận thức mới về nhân tố con người.

Sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lê nin là ở chỗ trong khi khái quát thực

tiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch rõ quy luật khách quan của sự phát

triển, dự kiến những khuynh hướng cơ bản của sự tiến hoá xã hội. Trong giai

đoạn hiện nay của sự nghiệp xây dựng kinh tế xã hội đòi hỏi phải nắm vững

và vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin. Để khắc

phục những quan niệm lạc hậu trước đây cần chúng ta phải đẩy mạnh cơng

tác nghiên cứu lý luận, tổng kết có hệ thống sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã

hội, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới. Có như vậy, lý luận mới thực hiện vai trò

tích cực của mình đối với thực tiễn.

Đổi mới nhận thức lý luận và công tác lý luận là một q trình phức

tạp, đòi hỏi phải đấu tranh với tính bảo thủ và sức ỳ của những quan niệm lý

luận cũ. đồng thời, đấu tranh với những tư tưởng, quan niệm cực đoan từ bỏ

những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, phủ định sạch trơn mọi

giá trị, mọi thành tựu của chủ nghĩa xã hội.

Tóm lại đổi mới tư duy chỉ đạo trong sự nghiệp đổi mới nói chung là

một bộ phận khơng thể thiếu được của sự phát triển xã hội cũng như sự phát

triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay. Điều đó còn cho thấy rằng chỉ có gắn lý

luận với thực tiễn mới có thể hành động đúng đắn và phù hợp với quá trình

đổi mới ở nước ta hiện nay. Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và

làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thực tiễn. Thực tiễn chính là động

lực, là cơ sở của nhận thức, lý luận. Vì vậy cần khắc phục ngay những khiếm

khuyết sai lầm song cũng phải tìm ra giải pháp khắc phục để hạn chế sự sai

sót và thiệt hại.

2.3. Tác đợng của q trình đổi mới đến kinh tế xã hợi Việt Nam



Trang 18



Sau 20 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền Việt Nam đã

ra khỏi khủng hoảng kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường

cơ sở vật chất và tạo tiền đề cho giai đoạn phát triển mới cơng nghiệp hóa –

hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển,

phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước cơng nghiệp theo hướng

hiện đại. Đó là hai trong số năm thành tự mà Việt Nam đạt được qua 20 năm

đổi mới (1986 - 2006).

Trong 20 năm qua, nét nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng

trưởng thấp, tích luỹ phần lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở

thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực. Việt Nam đã tạo

được khả năng tích luỹ để đầu tư cho phát triển và cải thiện đời sống của

người dân. Tổng tích luỹ tăng từ 9,5 – 11,3%/năm tuỳ giai đoạn. Nhưng cơ

bản, Việt Nam đã đổi mới được cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà Việt Nam

từng bước xây dựng được vai trò của mình trong hội nhập khu vực và quốc tế.

Thực hiện đường lối đổi mới, với mơ hình kinh tế tổng qt là xây

dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đến năm 1995, lần

đầu tiên, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước 5 năm 19911995 được hoàn thành và hoàn thành vượt mức. Đất nước ra khỏi khủng

hoảng kinh tế - xã hội, tạo được những tiền đề cần thiết để chuyển sang thời

kỳ phát triển mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1990: GDP tăng 4,4%/năm. Đây là giai

đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện

một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải phóng sức sản xuất.

Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình

trạng trình trệ, suy thối, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục

và toàn diện. GDP bình quân năm tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng

hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước.

Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000, là bước phát triển quan trọng

của thời kỳ mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng

Trang 19



hoảng tài chính - kinh tế khu vực cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp

đặt nền kinh tế nước ta trước những thử thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt

Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước 7%/năm.

Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng

trưởng cao, liên tục, GDP bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ

tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình

quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng, tương đương với 640 USD. Từ một

nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương thực, Việt

Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước ta

đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su,

thứ 2 về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.

Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988

là 46,3%, năm 2005 còn 20,9%. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cơ cấu trồng

trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ trọng các sản

phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất khẩu.

Giá trị tạo ra trên một đơn vị diện tích ngày một tăng lên. Trong kế

hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tăng

5,5%/năm, giá trị tăng thêm bằng khoảng 3,89%/năm.

Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988 là

21,6%, năm 2005 lên 41%. Từ chỗ chưa khai thác dầu mỏ, đến nay, mỗi năm

đã khai thác được khoảng gần 20 triệu tấn quy ra dầu. Ngành công nghiệp chế

tác chiếm 80% giá trị sản lượng công nghiệp. Công nghiệp xây dựng phát

triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại.

Sản phẩm công nghiệp xuất khẩu ngày càng tăng, có chỗ đứng trong

những thị trường lớn. Trong kế hoạch 5 năm 2001 - 2005, giá trị sản xuất

công nghiệp và xây dựng tăng 15,9%/năm, giá trị tăng thêm đạt 10,2%/năm.

Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên

38,1% năm 2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày

càng tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống. Ngành du lịch, bưu chính viễn



Trang 20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ÁP DỤNG LÝ LUẬN THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI KINH TẾ VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×