Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Để thu hút tối đa nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư và các doanh nghiệp, VIETINBANK - CN Tây Hà Nội đã liên tục đa dạng hoá các kỳ hạn gửi tiền: các kỳ hạn ngắn dưới 1 năm như: không kỳ hạn,1tuần,2 tuần, 3tuần, 1 tháng, 2 tháng… 12 tháng và các kỳ hạn từ trên

Để thu hút tối đa nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư và các doanh nghiệp, VIETINBANK - CN Tây Hà Nội đã liên tục đa dạng hoá các kỳ hạn gửi tiền: các kỳ hạn ngắn dưới 1 năm như: không kỳ hạn,1tuần,2 tuần, 3tuần, 1 tháng, 2 tháng… 12 tháng và các kỳ hạn từ trên

Tải bản đầy đủ - 0trang

82



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



hạn giảm nhẹ trong cả giai đoạn từ 34,36% năm 2012 xuống 31,92% trong

năm 2014. Như đã nhận định ở trên, hoạt động huy động vốn tại chi nhánh trong

giai đoạn 2012-2014 được đánh giá là có những biến động lớn khơng chỉ về cơ

cấu mà còn thể hiện cả về kỳ hạn. Năm 2013, cùng với sự tăng của tổng vốn huy

động, cả nguồn vốn ngắn hạn và trung hạn đều có sự tăng trưởng, sang năm

2014, cùng với sự giảm quy mô của tổng vốn huy động, hai loại nguồn vốn này

cũng đồng loạt giảm theo. Riêng nguồn vốn dài hạn liên tục giảm từ 2012 đến

nay khiến tỷ trọng của vốn dài hạn từ 11,7% chỉ còn chiếm 7,87% trong 2014.

Nguồn vốn dài hạn luôn là nguồn đảm bảo vững chắc an tồn cho các khoản tín

dụng trung và dài hạn, việc nguồn vốn này liên tục giảm chắc chắn không phải là

một “tin vui” đối với chi nhánh. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng này vẫn là

do sự biến động của lãi suất huy động trong thời gian vừa qua. Theo kết quả huy

động vốn theo cơ cấucủa chi nhánh, nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất đó là

nguồn tiền gửi của các TCKT và cá nhân, với thực trạng lãi suất huy động liên

tục giảm trong cả giai đoạn khiến cho việc gửi tiết kiệm ngày càng kém hấp dẫn.

Thay vì gửi tiền trong dài hạn với lãi suất thấp, các doanh nghiệp và cá nhân có

xu hướng chuyển sang các kênh đầu tư khác mang lại tỷ suất lợi nhuận cao hơn

như vàng, chứng khoán hay bất động sản... Do đó, nguồn tiền gửi của các cá

nhân và TCKT tại CN chủ yếu là tiền gửi thanh toán, TGTK, đầu tư trong ngắn

hạn.

c. Theo loại tiền huy động

Bảng 2.8 Kết quả huy động vốn theo loại tiền

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Năm 2014

Chỉ tiêu



Số tiền



Tỷ lệ



Năm 2013

Số tiền



(%)

Tổng cộng

SV: Hoàng Thu Hương



3.972



Tỷ lệ

(%)



100%



4.189

82



100%



Năm 2012

Số tiền



Tỷ lệ

(%)



3.560 100%

Lớp CQ49/15.07



84



Học viện tài chính

Huy động vốn bằng



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn

2.974



bằng ngoại tệ



3.004



%



đồng Việt Nam

Huy động vốn



78,87



998



71,71



2.553 71,7%



%



25,13



1.184



%



28,29



1.007 28,3%



%



Nguồn: Số liệu thống kê qua các năm của VIETINBANK chi nhánh Tây Hà Nội

Qua bảng số liệu trên ta thấy khi phân loại số tiền huy động theo loại tiền

thì tiền huy động bằng đồng nội tệ vẫn chiếm tỷ lệ lớn (78%) tiền huy động bằng

ngoại tệ chiếm tỷ lệ nhỏ (22%) vào năm 2012. Tuy nhiên, trong 2 năm tiếp theo,

lượng tiền huy động bằng ngoại tệ có dấu hiệu tăng nhẹ lên 28% năm 2013 và

gần như khơng có sự thay đổi trong năm 2014. Hiện nay tình hình cạnh tranh gay

gắt không chỉ diễn ra trong nội bộ hệ thống NH mà cùng với sự phát triển của

các TCTD phi NH thì hoạt động huy động vốn đặc biệt là huy động bằng VNĐ

ngày càng trở nên khó khăn. Đứng trước thực trạng này, có thể thấy rõ ràng

VIETINBANK -CN Tây Hà Nội đang huy động một phần vốn ngoại tệ (USD)

với tỷ trọng không hề nhỏ (tới 28%). Với những bất ổn của thị trường ngoại tệ,

đặc biệt là sự tăng giá liên tục của đồng USD, CN phải theo dõi sát sao và thận

trọng đối với khoản vốn huy động từ nguồn này, tránh tình trạng chi phí lớn phát

sinh khi phải trả lãi tiền gửi bằng ngoại tệ.

d.



Theo sản phẩm huy động vốn:

Sau khi phân tích thực trạng huy động vốn của VIETINBANK-CN Tây



Hà Nội theo cơ cấu, kỳ hạn, loại tiền, ta có thể nhận thấy nguồn vốn tiền gửi

chính là nguồn vốn huy động quan trọng nhất trong hoạt động huy động vốn của

Chi nhánh. Trong thời gian qua, VIETINBANK-CN Tây Hà Nội đã từng bước

tìm cho mình những hướng đi mới phù hợp với sự biến động của thị trường, theo

đó các sản phẩm huy động vốn đặc biệt là Tiền gửi ngày càng đa dạng và phong



SV: Hoàng Thu Hương



84



Lớp CQ49/15.07



86



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



phú đáp ứng tốt cho nhu cầu ngày càng phức tạp của khách hàng. Cụ thể như

sau:





Khách hàng cá nhân:

Trong các sản phẩm Tiền gửi dánh cho khách hàng cá nhân thì TGTK là



hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng, được nhân dân quen dùng

và trở thành tập quán của dân cư khi có nhu cầu tiêu dùng trong tương lai.

Các tầng lớp dân cư đều có những khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng

(các khoản tiền tiết kiệm).Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng,

họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm mục tiêu bảo toàn và sinh lời với các khoản tiết

kiệm.Nhằm thu hút nhiều tiền gửi tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến

khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng

mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh

tranh …

Các sản phẩm huy động vốn Tiền gửi dành cho khách hàng cá nhân tại

VIETINBANK-CN Tây Hà Nội hiện nay:

- TG khơng kỳ hạn: TG thanh tốn và TGTK không kỳ hạn (loại thông

thường và loại lãi suất bậc thang theo số dư TG)

-TG có kỳ hạn: TGTK có kỳ hạn (loại thơng thường và loại lãi suất bậc

thang theo số TG), TGTK lãi suất linh hoạt.

-TGTK tích lũy: TGTK tích lũy (loại thơng thường và đa năng), TGTK tích

lúy cho con.

-TG đặc thù: TG ưu đãi tỷ giá, TG bảo hiểm tỷ giá, Tài khoản TG du học.

Bảng 2.9 Kết quá huy động vốn tiền gửi của Khách hàng cá nhân

Đơn vị tính: Tỷ đồng.

Chỉ tiêu



Năm 2012

Số tiền



SV: Hoàng Thu Hương



Tỷ trọng



Năm 2013

Số tiền

86



Tỷ trọng



Năm 2014

Số tiền



Tỷ trọng



Lớp CQ49/15.07



88



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn

%



TG của khách

hàng cá nhân



%



%



1.066



100



1.708



100



1.452



100



1.TG khơng kỳ

hạn



342



32,1



512



30,0



421



29,1



1.1.TG thanh

tốn



206



19,3



408



23,9



389



26,8



1.2.TGTK khơng

kỳ hạn



136



12,8



104



6,1



32



2,3



2.TG có kỳ hạn



664



62,3



1.160



67,9



994



68,5



2.1.TG có kỳ hạn

< 12 tháng



359



33,7



612



35,8



488



33,6



2.2.TG có kỳ hạn

>=12 tháng



305



28,6



548



32,1



506



34,8



3.TGTK tích lũy



60



5,6



36



2,1



37



2,4



Nguồn: Số liệu thống kê qua các năm của VIETINBANK chi nhánh Tây Hà Nội

Trong tình trạng nền kinh tế Việt Nam lâm vào khó khăn từ sau khủng

hoảng 2008, hoạt động của hệ thống doanh nghiệp và các TCKT trở nên đình trệ

ảm đạm hơn rất nhiều. Từ 2012 đến nay, thực hiện theo chủ trương và chính sách

chung của NH TMCP Công Thương Việt Nam, chi nhánh Tây Hà Nội đã có

những chiến lược tập trung mở rộng sang nhóm khách hàng cá nhân, điều này thể

hiện rõ nét nhất cơ cấu tỷ trọng vốn Tiền gửi của nhóm KH cá nhân trên Tồng vốn

huy động đã tăng mạnh từ 26,8% năm 2012 lên tới 40,8% trong năm 2014. Tuy

vậy, qua bảng số liệu ta nhận thấy, giai đoạn 2012-2014, nguồn vốn huy động từ

Tiền gửi của khách hàng cá nhân có sự tăng trưởng khơng đồng đều. Năm 2013,

nguồn vốn này tăng mạnh thêm tới 642 tỷ (tăng tới 60% so với 2012) sang đến

2014, lại giảm 256 tỷ ( giảm 15% so với năm trước). Sau khi thực hiện các chiến

SV: Hoàng Thu Hương



88



Lớp CQ49/15.07



90



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



lược thu hút và mở rộng huy động đối với nhóm khách hàng cá nhân, năm 2013,

với những cố gắng của toàn thể cán bộ, chi nhánh đã đat được những thành công

bước đầu trong chiến lược này. Tuy nhiên, từ cuối 2013 đầu 2014 đến nay, trước

sự giảm sâu của lãi suất huy động trên tồn hệ thống NHTM nói chung cùng với

sự cạnh tranh đến từ các TCTD phi Ngân hàng và các kênh đầu tư khác, khiến cho

hoạt động huy động vốn của chi nhánh trở nên khó khăn hơn. Sự suy giảm vốn

tiền gửi của cá nhân trong 2014 cho thấy các sản phẩm tiền gửi của ngân hàng

dành cho nhóm khách hàng này chưa thực sự nổi bật và thu hút.

Nhìn vào số liệu đối với từng nhóm Tiền gửi, ta có những đánh giá như sau:

- Nhóm TG khơng kỳ hạn có sự tăng giảm khơng ổn định về số tiền huy

động và liên tục giảm về tỷ trọng trong tổng vốn huy động từ KH cá nhân, đặc biệt

là nhóm TGTK khơng kỳ hạn giảm mạnh từ 12,8% xuống chỉ còn 2,3% trong

2014. Sở dĩ có sự suy giảm lớn về quy mơ này đó là sự liên tục giảm sâu của lãi

suất đặc biệt là đối với loại TG khơng kỳ hạn chỉ ở mức dưới 1%.

-Nhóm TG có kỳ hạn ln chiếm tỷ trọng lớn nhất, liên tục tăng ổn định về

tỷ trọng. Trong cơ cấu của nhóm tiền gửi này, có thể nhận thấy TG có kỳ hạn trên

12 tháng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn. Như chúng ta đã biết, mặc dù lãi suất

giảm sâu, kênh TGTK ngày càng kém hấp dẫn, tuy nhiên nó vẫn là sự lựa chọn

truyền thống an tồn khi người dân có tiền nhàn rỗi, vì vậy dòng tiền gửi vẫn tiếp

tục chạy vào Ngân hàng, chỉ có khác là thay vì gửi trong ngắn hạn, khách hàng

dần chuyển hướng sang các sản phẩm tiền gửi kỳ hạn dài với lãi suất cao hơn.

-Nhóm TGTK tích lũy chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng vốn huy động từ

KH cá nhân, lại liên tục suy giảm về quy mô và tỷ trọng (chỉ còn chiếm 2,4%/tổng

TG của KH cá nhân năm 2014). Nhóm TGTK tích lũy bao gồm các sản phẩm với

kỳ hạn gửi dài (trên 1 năm) trong khi đó lãi suất áp dụng thường là bình qn lãi

suất TG có kỳ hạn 1-3 tháng (lãi suất ngắn hạn và thường rất thấp) nên nhóm

TGTK này khơng thu hút được nhiều khách hàng.

SV: Hoàng Thu Hương



90



Lớp CQ49/15.07



92



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



Nhìn chung, giai đoạn 2012-2014 đến nay, VIETINBANK-CN Tây Hà Nội

đã có những nộ lực nhất định trong công tác mở rộng thu hút và nâng cao hiệu quả

của các sản phẩm huy động đối với nhóm KH cá nhân và đạt được những thành

quả ban đầu. Tuy nhiên, kết quả này là chưa ổn định và còn nhiều vấn đề cần khắc

phục. Các sản phẩm huy động đa dạng phong phú tuy nhiên lại chưa thực sự hấp

dẫn và có tính cạnh tranh cao, đòi hỏi sự nỗ lực hơn nữa của toàn chi nhánh trong

việc mở rộng và nâng cao hiệu quả huy động vốn đối với nhóm khách hàng tiềm

năng này.





Khách hàng Tổ chức (Doanh nghiệp và các TCKT khác):

Tiền gửi của các TCKT là số tiền tạm thời nhàn rỗi phát sinh trong q



trình thực hiện sản xuất kinh doanh và nó được gửi tại ngân hàng hay còn được

hiểu là một bộ phận tiền tệ tạm thời chưa sử dụng trong quá trình sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp, được các doanh nghiệp gửi vào ngân hàng với mục đích

chính là thanh tốn và đảm bảo an tồn. Đối với ngân hàng, thì đây lại là khoản

tiền gửi có khối lượng đáng kể dùng làm vốn kinh doanh. Hơn nữa, do được các

doanh nghiệp gửi vào mục đích thanh tốn và đảm bảo an tồn, nên nguồn vốn

này thường có chi phí thấp.

Các sản phẩm huy động vốn Tiền gửi dành cho các TCKT tại

VIETINBANK-CN Tây Hà Nội hiện nay:

-Tiền gửi thanh tốn, TGTK khơng kỳ hạn.

-TG có kỳ hạn: TGTK có kỳ hạn, TG đầu tư đa năng. TG kết hợp, TG đầu

tư linh hoạt. Trong đó sản phẩm TG kết hợp là một trong những sản phẩm TG nổi

bật của VIETINBANK là hình thức kết hợp giữa sản phẩm Tiền gửi và cho vay

bằng VND, theo đó TCKT được áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi thấp hơn so với

lãi suất cho vay thông thường mà ngân hàn đang áp dụng.

Bảng 2.10 Kết quả huy động vốn tiền gửi của TCKT:

SV: Hồng Thu Hương



92



Lớp CQ49/15.07



94



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn

Đơn vị tính: Tỷ đồng.

Năm 2012



Chỉ tiêu



Năm 2013



Tỷ

Số tiền



trọng



Năm2014



Tỷ trọng



Tỷ trọng



Số tiền



%



Số tiền



%



%

Tiền gửi của

TCKT

Tiền gửi thanh

tốn

Tiền gửi có kỳ

hạn



2.192



100



2.145



100



1.824



100



1.412



64,42



1.471



68,58



1.238



68,20



780



35,58



674



31,42



586



31,80



Nguồn: Số liệu thống kê qua các năm của VIETINBANK chi nhánh Tây Hà Nội

Qua bảng số liệu trên, ta có thể thấy trong giai đoạn 2012-2014, nguồn

vốn huy động từ Tiền gửi của các TCKT có sự suy giảm liên tục về quy mô.

Năm 2012, nguồn vốn này đạt 2.192 tỷ giảm nhẹ xuống còn 2.145 tỷ vào 2013

và giảm mạnh còn 1.824 tỷ (giảm tới 15% so với năm trước). Tiền gửi của các

TCKT là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn huy động của chi

nhánh trong cả giai đoạn, do đó tình hình huy động vốn ảm đạm được thể hiện rõ

rệt nhất ở những con số huy động của nguồn vốn này. Xét về cơ cấu, Tiền gửi

của các TCKT chủ yếu là các loại TG không kỳ hạn hoặc kỳ hạn ngắn, đặc biệt

tỷ trọng TG thanh toán là lớn nhất và khá ổn định biến động trong khoảng 65%68%. TG thanh tốn là một phần khơng thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của

bất kỳ TCKT nào, thêm vào đó, chi phí huy động nguồn vốn này khơng cao so

với các nguồn huy động khác nên nó ln là bộ phận vốn huy động quan trọng

đối với mọi ngân hàng. Cùng với sự suy giảm vốn TG thanh tốn, tín hiệu ảm

đạm nhất trong hoạt động huy động vốn của chi nhánh đến từ nguồn vốn TG có

SV: Hồng Thu Hương



94



Lớp CQ49/15.07



96



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



kỳ hạn của các TCKT, trong năm 2013 nguồn vốn này giảm 116 tỷ (14%) và tiếp

tục giảm thêm 88 tỷ (giảm 13% so với năm trước) . Khi tình trạng lãi suất huy

động liên tục giảm, TGTK và TG đầu tư trờ nên kém hấp dẫn rất nhiều đối với

các doanh nghiệp. Thay vì gửi tiền đầu tư vào NH, các doanh nghiệp muốn đầu

tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc các kênh đầu tư khác có tỷ suất sinh

lời cao hơn. Nhận thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn tiền gửi của TCKT,

trước dấu hiệu suy giảm nguồn vốn đáng lo ngại này, trong thời gian tới khi mà

nền kinh tế đang trên đà hồi phục, ban lãnh đạo và các cán bộ của Chi nhánh cần

có những chủ trương và chiến lược cần thiết để mở rộng huy động vốn đặc biệt

là nguồn vốn Tiền gửi của các TCKT này.

2.2.3. Tình hình cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn.

Hoạt động kinh doanh của ngân hàng không chỉ dừng lại ở việc huy động

vốn mà cái đích cuối cùng cần đạt tới là sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy

động được để mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Để đạt được điều này, không

những ngân hàng phải có chiến lược tốt trong việc mở rộng nguồn vốn huy động

mà còn phải có chiến lược sử dụng vốn đúng đắn.

Để đánh giá mối quan hệ giữa công tác huy động vốn và sử dụng vốn của

NH Cơng Thương- CN tây Hà Nội ta có thể xem xét thông qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.11 Cân đối giữa họat động huy động vốn và hoạt động cấp tín dụng

của VIETINBANK CN Tây Hà Nội giai đoạn 2012-2014

Đơn vị : Tỷ đồng

Chỉ tiêu



Năm 2012



Năm 2013



Năm 2014



Huy động vốn



3.972



4.189



3.560



Hoạt động cấp tín dụng



3.054



2.297



1.838



Chênh lệch



918



1.892



1.722



SV: Hồng Thu Hương



96



Lớp CQ49/15.07



98



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



Nguồn: Số liệu thống kê qua các năm của VIETINBANK chi nhánh Tây Hà Nội

BIỂU ĐỒ 2.4: Cân đối giữa họat động huy động vốn và hoạt động cấp tín

dụng của VIETINBANK CN Tây Hà Nội giai đoạn 2012-2014



Qua bảng số liệu và biểu đồ ta thấy trong 3 năm từ 2012 đến 2014 nguồn vốn

của ngân hàng khơng tăng đều mà có biến động, tất yếu là những biến động

trong hoạt động sử dụng vốn.Cụ thể: Năm 2012, tổng vốn huy động là 3.972 tỷ,

lượng vốn dư thừa là 918 tỷ bằng 1/3 lượng vốn sử dụng cấp tín dụng.Trong suốt

gai đoạn 2010- 2012, doanh số cho vay của Vietinbank Tây Hà nội vẫn tăng đều

cho thấy hoạt động tín dụng vẫn đạt được sự tăng trưởng ổn định và đem lại

nguồn lợi cho NH. Lo lắng trước khả năng thanh khoản, để nguồn vốn huy động

đảm bảo tài trợ cho hoạt động tín dụng trong năm 2013, lượng vốn huy động tiếp

tục tăng so với năm 2012 đạt 4.189 tỷ đồng, tuy nhiên hoạt động cấp tín dụng

của ngân hàng lại có sự biến động đột ngột giảm mạnh tới 24,8% so với 2012,

khoản chênh lệch lên tới 1892 tỷ gấp khoảng 2 lần nguồn vốn dư thừa năm

trước đã gây nên áp lực không nhỏ trong việc trả lãi huy động đối với CN, làm

gia tăng chi phí, giảm hiệu quả sử dụng vốn từ đó kéo theo KQHĐKD kém hơn

so với 2012 tới gần 50% (Kết quả chênh lệch thu chi giảm từ 91 tỷ xuống còn 54

tỷ) . Năm 2014, tổng vốn huy động giảm mạnh chỉ còn 3.560 tỷ ( giảm tới 15%

so với 2013), dư nợ tín dụng tiếp tục giảm xuống 1838 tỷ, vốn dư thừa là 1.772

tỷ tuy có giảm so với 2013 nhưng vẫn còn khá nhiều, cho thấy các biện pháp

nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong năm của CN chưa đạt được hiệu quả so với

kỳ vọng, áp lực chi phí lãi huy động vẫn còn cao. Như vậy qua các năm lượng

vốn dư thừa là khá lớn, tuy vậy vẫn nhỏ hơn vốn sử dụng. Điều này cho thấy,

công tác sử dụng vốn của chi nhánh chưa thực sự đạt hiệu quả, chưa thực sự

tương xứng với nguồn vốn huy động và khả năng của ngân hàng.Trong tưong lai,

SV: Hoàng Thu Hương



98



Lớp CQ49/15.07



100



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



ngân hàng cần cố gắng tận dụng các cơ hội để sử dụng tối đa nguồn vốn huy

động của mình, đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt đông kinh doanh cả về trước

mắt lẫn lâu dài.

Tóm lại, VIETINBANK-CN Tây Hà Nội nhìn chung đã đảm bảo cân đối

giữa huy động vốn và sử dụng vốn về qui mô, về thời hạn để đảm bảo hiệu quả

sử dụng vốn của Ngân hàng. Tuy nhiên sau giai đoạn 2012-2014, trước những

biến động khá tiêu cực trong cả huy động vốn và sử dụng vốn, ngân hàng cần

phát triển hơn nữa cơng tác tín dụng để tương xứng với nguồn vốn huy động

được của mình. Bên cạnh dó cần xem xét lại hoạt động huy động vốn, việc giảm

huy động vốn tuy giảm đi phần nào áp lực chi phí huy động nhưng lại tiềm tàng

nguy cơ về khả năng chủ động đáp ứng nhu cầu cho vay trong thời gian tới nếu

hoạt động cấp tín dụng có những biến động bất ngờ.



2.3



Đánh giá việc mở rộng huy động vốn của NHTMCP Công Thương –CN



Tây Hà Nội giai đoạn 2012-2014

2.3.1 Những kết quả đạt được

a. Thành quả

* Chi nhánh đã xây dựng được mạng lưới huy động vốn với công nghệ,

cơ sở kỹ thuật, lực lượng lao động đầy đủ tại tất cả các khu vực trọng điểm trên

địa bàn để cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng.

* Chi nhánh NHTM Công Thương Việt Nam có vị thế quan trọng trên thị

trường tiền tệ trên địa bàn, có lượng khách hàng gửi tiền khá ổn định và đông

đảo, đặc biệt là hoạt động huy động tiền gửi từ cá nhân cùng như TCKT.

* Nguồn vốn huy động có quy mơ lớn, nhưng ln đảm bảo an toàn tuyệt

đối về vốn và tài sản của khách hàng cũng như của ngân hàng, đồng thời giữ

được sự tín nhiệm của khách hàng.

SV: Hồng Thu Hương



100



Lớp CQ49/15.07



102



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



* Thời hạn các loại tiền gửi đa dạng và phong phú nên nó tác động rất lớn

đến việc huy động vốn tại chi nhánh.

* Quản lý tốt nguồn vốn huy động là điểm quan trọng trong hoạt động

kinh doanh của Ngân hàng nó có tác động rất lớn đến lợi nhuận của Ngân hàng,

và uy tín của Ngân hàng khơng bị giảm sút khi khơng đáp ứng được nhu cầu vốn

cho khách hàng.

Có được kết quả trên là do trong những năm qua NH Cơng Thương Chi

nhánh Tây Hà Nội đã có những chính sách, chiến lược phát triển đúng đắn như: áp

dụng chiến lược khách hàng cùng với chính sách lãi suất linh hoạt mềm dẻo, chủ

trương củng cố, ổn định mạng lưới huy động vốn, cải tiến các thủ tục nghiệp vụ

huy động vốn đơn giản và thuận tiện, tăng cường đầu tư các trang thiết bị và công

nghệ hiện đại vào hoạt động ngân hàng, quan tâm thực hiện tốt công tác thông tin,

tuyên truyền về các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng

a.



Những hạn chế còn tồn tại

* Giai đoạn 2012-2014, nguồn vốn huy động của Chi nhánh có những



biến động lớn, tăng trưởng không ổn định, đặc biệt là việc giảm quy mô vốn huy

động trong 2014. Đồng thời hoạt dộng sử dụng vốn chưa hiệu quả.

* Trong tổng số nguồn vốn huy động, thì số lượng và tỷ trọng nguồn tiền

gửi của các doanh nghiệp, TCKT liên tục giảm. Trong khi đó đây mới là nguồn

vốn có tiềm năng phát triển mạnh nhất với chi phí huy động thấp.

* Trình độ của lực lượng làm cơng tác huy động vốn chưa thực sự đáp

ứng được yêu cầu.

* Việc thu thập thông tin và xử lý thông tin nội bộ còn nhiều hạn chế.

* Việc áp dụng vào cơng nghệ ngân hàng còn đạt hiệu quả thấp.



SV: Hồng Thu Hương



102



Lớp CQ49/15.07



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Để thu hút tối đa nguồn tiền nhàn rỗi từ dân cư và các doanh nghiệp, VIETINBANK - CN Tây Hà Nội đã liên tục đa dạng hoá các kỳ hạn gửi tiền: các kỳ hạn ngắn dưới 1 năm như: không kỳ hạn,1tuần,2 tuần, 3tuần, 1 tháng, 2 tháng… 12 tháng và các kỳ hạn từ trên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×