Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Các quỹ dự trữ của Ngân hàng: Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng có nhiều quỹ. Các quỹ này được trích lập từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng và được sử dụng vào các mục đích nhất định. Mỗi quỹ có một mục đích riêng: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự

* Các quỹ dự trữ của Ngân hàng: Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng có nhiều quỹ. Các quỹ này được trích lập từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng và được sử dụng vào các mục đích nhất định. Mỗi quỹ có một mục đích riêng: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự

Tải bản đầy đủ - 0trang

24



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



khá đặc biệt trong nguồn vốn chủ sở hữu bởi nó được hình thành từ một khoản

vay trung và dài hạn của ngân hàng.

•Vốn huy động: Theo quan niệm của các nhà kinh tế học và các nhà Ngân

hàng trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng ngồi nguốn vốn thuộc chủ sở hữu thì

tất cả các nguồn vốn còn lại được coi là nguồn huy động. Như vậy, nguồn vốn

huy động của các NHTM chiếm tỷ trọng tới hơn 90% trong tổng nguồn vốn. Vì

vậy, các hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng tồn tại và phát triển được là nhờ

nguồn vốn huy động này.

Nguồn vốn huy động không thuộc sở hữu của NHTM nhưng ngân hàng có

quyền sử dụng tạm thời khoản vốn này và cho vay đối với khách hàng, tổ chức

tín dụng. Đồng thời ngân hàng phải trả lãi cho nguồn vốn huy động đó, dưới

dạng lãi tiền gửi, lãi trái phiếu, lãi kỳ phiếu… được tính trên thời gian huy động,

số tiền huy động, lãi suất thỏa thuận giữa khách hàng gửi tiền và ngân hàng.

Ngoài ra ngân hàng phải có trách nhiệm hồn trả đầy đủ và đúng hạn khoản vốn

này.

Như vậy, Nguồn vốn huy động là khoản tiền tệ mà Ngân hàng thương mại

huy động được từ các doanh nghiệp, cá nhân, các ngân hàng và tổ chức kinh tế xã hội thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn hình thành nên

nguồn vốn chủ yếu trong kinh doanh.

Vốn huy động của NHTM bao gồm:

- Nhận tiền gửi: là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các doanh

nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân… trong xã hội thơng qua q trình nhận tiền

gửi, thanh toán hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh

khác. Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng

khách hàng khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết

khấu, thanh tốn…nhưng khơng có quyền sở hữu, Ngân hàng có trách nhiệm

phải hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút tiền

để sử dụng. Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của

các NHTM.

SV: Hoàng Thu Hương



24



Lớp CQ49/15.07



26



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



- Vốn vay: Tiền gửi mà Ngân hàng nhận được là nguồn vốn mà Ngân hàng

có được một cách thụ động. Trong hoạt động của mình nếu như thiếu vốn thì

Ngân hàng phải chủ động tìm kiếm vốn để thực hiện các hoạt động của mình.

Ngân hàng có thể tiến hành vay vốn từ: Ngân hàng Nhà nước (NHTW), các Tổ

chức tín dụng khác, vay trên thị trường vốn…nhằm đảm bảo khả năng thanh

toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc của Ngân hàng.

- Vốn khác: Ngoài hai nguồn đã nêu vốn huy động tại NHTM còn có nguồn

huy động khác như: Nguồn ủy thác, nguồn trong thanh tốn, điều chuyển vốn...

1.2.3 Vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

thương mại

•Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành NHTM

Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh

được thì phải có: Cơng nghệ - Lao động – Tiền vốn trong đó vốn là nhân tố quan

trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng

đối với NHTM, vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu trong hoạt động kinh

doanh của ngân hàng. Vốn là cơ sở để NHTM tổ chức hoạt độnh kinh doanh,

ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu khơng có vốn.

•Vốn quyết định khả năng thanh toán và năng lực cạch tranh của NH

Trong nền kinh tế thị trưòng, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mơ hoạt

động đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường là điều trọng yếu.

Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng thanh toán, chi trả

cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh tốn của ngân hàng càng cao thì

vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn.

•Vốn quyết định quy mơ hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh

khác của Ngân hàng

Vốn của Ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín

dụng. Thơng thường, các Ngân hàng nhỏ phạm vi hoạt động kinh doanh, khoản

mục đầu tư, khối lượng cho vay ít và kém đa dạng hơn. Do đó, ảnh hưởng đến

khả năng thu hút vốn của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân cư, thậm chí khơng

đáp ứng được nhu cầu vốn vay của doanh nghiệp. Nguồn vốn lớn còn giúp Ngân

SV: Hồng Thu Hương



26



Lớp CQ49/15.07



28



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại hình khác nhau như: Liên doanh liên

kết, dịch vụ thuê mua tài chính, kinh doanh chứng khốn… các hình thức kinh

doanh này nhằm phân tán rủi ro và tạo thêm vốn cho Ngân hàng.

•Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Thực tế đã chứng minh: quy mơ, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật

của ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng vốn

lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng

với các thành phần kinh tế xét cả về quy mơ, khối lượng tín dụng, chủ động về

thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách

hàng.

1.2.4 Mối quan hệ giữa nguồn vốn và sử dụng vốn

Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tập trung huy động từ

các tổ chức kinh tế, các cơ quan và các cá nhân trong xã hội.

Vốn huy động không thuộc quyền sở hữu của ngân hàng nhưng ngân hàng

có quyền sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định. Nó chiếm tỉ trọng lớn

trong tổng nguồn vốn của ngân hàng ( trên dưới 70%), nguồn vốn này luôn biến

động do vậy các ngân hàng phải đảm bảo dự trữ với mức độ thích hợp để đảm

bảo khả năng thanh toán.

Các NHTM kinh doanh đồng vốn với mục đích là tìm kiếm lợi nhuận và

với điều kiện là phải đảm bảo tính thanh khoản cao và an tồn trong hoạt động

của mình. Trong thực tế, các khách hàng không bao giờ đặt ra câu hỏi về khả

năng trả nợ, thanh khoản hoặc tính liêm khiết của hệ thống ngân hàng, mà các

khách hàng phải có niềm tin hoàn toàn vào các ngân hàng. Một khi khách hàng

gửi tiền đã có sự tin tưởng và có mối quan hệ khăng khít với ngân hàng thì việc

thu hút tiền gửi sẽ trở nên dễ dàng và thuận lợi hơn rất nhiều.

NHTM muốn tạo ra nhiều lợi nhuận thì phải huy động được nhiều vốn với

lãi suất thấp. Đồng thời cũng phải biết cách sử dụng đồng vốn huy động được

một cách hợp lý và linh hoạt với lãi suất cao hơn. Khoản chênh lệch giữa lãi suất

tiền gửi và lãi suất cho vay chính là lợi nhận mà NHTM tạo ra thông qua nghiệp

vụ này. Tuy nhiên, các NHTM lại luôn phải cạnh tranh với nhau trên thị trường

SV: Hồng Thu Hương



28



Lớp CQ49/15.07



30



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



để đảm bảo được tính hợp lý giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất cho cho vay để

khách hàng có thể chấp nhận được.

1.3 Hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.3.1 Khái niệm hoạt động huy động vốn

Nghiệp vụ huy động vốn là hoạt động có ý nghĩa đối với bản thân ngân

hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, NHTM được phép sử dụng

những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các

nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền

kinh tế. Hay có thể nói: Huy động vốn là việc Ngân hàng thương mại tổ chức

huy động, tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để hình thành

nguồn vốn kinh doanh.

1.3.2 Các hình thức huy động vốn

• Huy động vốn thơng qua tiền gửi thanh tốn

Tiền gửi thanh tốn hay còn gọi là tiền gửi giao dịch. Đây là loại tiền ngân

hàng nhận giữ hộ và từ đó thực hiện thanh tốn hộ cho các tổ chức, cá nhân

trong xã hội. Các khoản thu nhập bằng tiền được các tổ chức, cá nhân gửi vào

ngân hàng trên tài khoản tiền gửi thanh toán. Trong phạm vi số dư trên tài khoản

đó ngân hàng thanh toán chi trả cho người được hưởng theo yêu cầu của chủ tài

khoản theo các cách khác nhau như phát hành séc, lệnh chi … Đặc điểm của loại

tiền gửi này là ngân hàng phải thanh toán ngay lập tức vào bất kỳ lúc nào theo

lệnh rút tiền của chủ tài khoản, cho nên đây là loại tiền gửi có sự biến động nhiều

nhất, thời gian duy trì ở ngân hàng ngắn nhất, ngân hàng rất khó có thể dự đoán

được. Tuy vậy, loại tiền gửi này vẫn tạo thành nguồn vốn kinh doanh cho ngân

hàng.

• Huy động vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm của dân cư

* Nguồn vốn từ dân cư: Là bộ phận thu nhập bằng tiền của dân cư gửi tại

ngân hàng. Nguồn này bao gồm: Tiền tiết kiệm, tài khoản tiền gửi cá nhân, giấy

tờ có giá phát sinh.

-Tiền gửi tiết kiệm:

Là hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. Khi gửi tiền vào Ngân

hàng, người gửi tiền được nhận một sổ tiết kiệm, đó là chứng từ đảm bảo tiền

SV: Hồng Thu Hương



30



Lớp CQ49/15.07



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Các quỹ dự trữ của Ngân hàng: Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng có nhiều quỹ. Các quỹ này được trích lập từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng và được sử dụng vào các mục đích nhất định. Mỗi quỹ có một mục đích riêng: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×