Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI

Chương 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ - 0trang

108



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



Thương Việt Nam và Chi nhánh NHTMCP Cơng Thương Tây Hà Nội nói riêng

lại đứng trước những thời cơ và thử thách lớn lao hơn nữa. Chi nhánh NHTMCP

Công Thương Tây Hà Nội quyết tâm thực hiện chương trình hiện đại hóa, đổi

mới tồn diện hoạt động kinh doanh theo phương châm: “Hội nhập - Phát triển An toàn - Hiệu qủa” với các hoạt động trọng tâm là: kiện toàn bộ máy tổ chức,

tăng cường thực hiện công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ, quan tâm

đặc biệt đến công tác xử lý nợ tồn đọng, nâng cao chất lượng tín dụng, đẩy mạnh

huy động nguồn vốn, mở rộng và nâng cao chênh lệch các dịch vụ ngân hàng.

3.1.2 Định hướng nâng cao hiệu quả huy động vốn

* Giữ vững và mở rộng thị phần nhằm tạo lập được sự cân bằng giữa

nguồn vốn huy động và đầu tư cho vay.

* Tăng trưởng nguồn vốn với trọng tâm là tăng cường huy động tiền gửi

doanh nghiệp, củng cố và nâng cao năng lực huy động vốn tại các Quỹ tiết kiệm.

* Từng bước thực hiện tổ chức nghiệp vụ và sản phẩm dịch vụ theo định

hướng khách hàng.

* Chủ động chuẩn bị các điều kiện để triển khai thực hiện kịp thời, chính

xác và hiệu quả chương trình hiện đại hố ngân hàng.

* Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn nhằm thu hút tối đa lượng tiền

nhàn rỗi trong dân cư và tổ chức.

* Tiếp tục đẩy mạnh cơng tác hiện đại hóa ngân hàng và cơng tác đào tạo

chuyên môn cho cán bộ công nhân viên đảm bảo cung cấp cho khách hàng

những sản phẩm dịch vụ hiện đại và chất lượng tốt nhất từ đó nâng cao uy tín

thương hiệu của VIETINBANK.



SV: Hồng Thu Hương



108



Lớp CQ49/15.07



110



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



* Cải thiện nguồn vốn huy động theo hướng hợp lí và hài hòa giữa các kì

hạn, giữa các loại tiền đảm bảo đáp ứng đủ và kịp thời cho hoạt động sử dụng

vốn.

3.2 Một số giải pháp mở rộng huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ

phần Công Thương Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội

3.2.1 Mở rộng và phát triển các sản phẩm dịch vụ huy động vốn

Ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của

khách hàng để một mặt nâng cao chất lượng các sản phẩm tiền gửi của mình,

mặt khác phải khơng ngừng cải tiến, đổi mới, đa dạng các hình thức huy động vì

nhu cầu về tiền gửi của khách hàng rất khác nhau và thay đổi thường xuyên, hơn

nữa sản phẩm của ngân hàng rất dễ bắt chước.

Đầu tiên, phải nghiên cứu áp dụng thêm nhiều hình thức tiết kiệm linh

hoạt như tiết kiệm tuổi già, tiết kiệm tích lũy.

Thứ hai, gia tăng thêm tiện ích cho các dịch vụ HĐV của ngân hàng. Đây

là một trong những biện pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dịch vụ

huy dộng vốn của ngân hàng.

Thứ ba, phát triển các tài khoản hỗn hợp. Nó là một dạng tài khoản tiền

gửi hoặc phi tiền gửi cho phép kết hợp thực hiện các dịch vụ thanh tốn, tiết

kiệm, tín dụng… Với hình thức này, khách hàng ủy thác trọn gói cho chun

viên quản lí tài khoản tại ngân hàng. Số lượng khách hàng tham gia mở tài khoản

loại này phụ thuộc vào sự nhanh chóng, thuận tiện cũng như các tiện ích dịch vụ

mà ngân hàng mang lại cho họ. Điểm khó khăn nhất trong việc thu hút vốn này

là định giá dịch vụ huy động như thế nào để vừa có tính sinh lời, vừa đảm bảo

khả năng cạnh tranh.

Do phần lớn các dịch vụ ngân hàng có liên quan đến tiền gửi nên việc đa

dạng hóa các dịch vụ, mở thêm nhiều các dịch vụ mới, các dịch vụ ngân hàng

SV: Hoàng Thu Hương



110



Lớp CQ49/15.07



112



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



hiện đại sẽ tác động rất lớn đối với việc mở rộng tiền gửi của ngân hàng. Hơn

nữa các dịch vụ ngân hàng ngày càng trở nên thiết yếu đối với hoạt động sản

xuất kinh doanh của các doanh nghiệp cũng như đời sống dân cư.

Để nâng cao hiệu quả huy động vốn Ngân hàng phải phát triển thêm các

dịch vụ khác có liên quan như:

Dịch vụ trả lương qua tài khoản: Đây là phương thức hữu hiệu giúp ngân

hàng đưa các dịch vụ tới tay khách hàng, hơn nữa ngân hàng còn sử dụng được

nguồn tiền gửi trên tài khoản của các cá nhân. Để hỗ trợ cho dịch vụ này, ngân

hàng cần trang bị thêm các máy ATM ở những nơi thuận tiện cho khách hàng

như tại các siêu thị, khu chung cư…có khả năng phục vụ 24/24. Bên cạnh đó,

ngân hàng cũng cần nghiên cứu để gia tăng thêm các tiện ích cho dịch vụ thẻ

ATM như thanh tốn tiền điện, tiền nước, nộp tiền vào tài khoản trực tiếp từ máy

ATM.

Dịch vụ tín dụng: là dịch vụ cơ bản, dịch vụ này phát triển sẽ kéo dịch vụ

huy động vốn phát triển. Ngân hàng cần phải tạo nên sự gắn kết giữa huy động

tiền gửi với cho vay, đặc biệt là sự gắn kết giữa tiền gửi huy động của dân cư với

tín dụng tiêu dùng.

Dịch vụ bảo hiểm: Để gia tăng vốn huy động ngân hàng có thể phát triển

các dịch vụ bảo hiểm nhân thọ, bởi lẽ các dịch vụ này tương tự như hình thức

huy động tiết kiêm tích lũy.

Dịch vụ thanh tốn: Mở rộng dịch vụ thanh tốn sẽ góp phần gia tăng

nguồn tiền gửi thanh tốn, đây là nguồn tiền có chi phí huy động thấp, tạo điều

kiện giảm chi phí cho ngân hàng.

3.2.2 Áp dụng chính sách lãi suất huy động linh hoạt, hợp lý

Giá cả trong dịch vụ tiền gửi chính là lãi suất mà người gửi nhận được.

Thông thường một mức lãi suất cao sẽ giúp ngân hàng mở rộng được quy mơ

SV: Hồng Thu Hương



112



Lớp CQ49/15.07



114



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Toàn



tiền gửi. Tuy nhiên, do lãi suất tiền gửi là thu nhập của người gửi tiền nhưng lại

là chi phí chủ yếu của ngân hàng nên trong việc đưa ra lãi suất huy động ngân

hàng luôn phải giải quyết sự xung đột về quyền lợi này.

Do tầm quan trọng của lãi suất mà việc xây dựng chính sách lãi suất được

đặt lên hàng đầu. Hiện nay các nhà quả lý đang phải đối mặt với các khó khăn

trong việc định giá các dịch vụ có liên quan đến tiền gửi - nguồn vốn quan trọng

nhất của ngân hàng. Một mặt ngân hàng phải đưa ra mức lãi suất đủ lớn để có

thể thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng . Mặt khác phải cố gắng hết sức

không trả lãi quá cao để đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng. Ngày nay sự cạnh

tranh gay gắt trong thị trường cung cấp các dịc vụ tài chính càng làm cho vấn đề

nêu trên phức tạp hơn vì cạnh tranh có xu hướng làm tăng chi phí trả lãi tiền gửi,

trong khi làm giảm thu nhập dự kiến của ngân hàng. Thực tế trong một thị

trường cạnh tranh như hiện nay khơng một ngân hàng nào có thể kiểm sốt được

lãi suất do đó giá cả do thị trường quyết định lãi suất. Các NHTM dựa vào những

đặc điểm về nguồn vốn và khách hàng của mình để dưa ra mức lãi suất nhưng

mức lãi suất này không chênh lệch với mức lãi suất của các ngân hàng khác là

mấy. Trong trường hợp này các nhà quản lý cần xem xét có nên nâng cao mặt

bằng lãi suất nhằm tăng khả năng huy động vốn hay nên chấp nhận tổn thất về

quy mơ tiền gửi do duy trì một mức lãi suất thấp hơn mức bình quân trên thị

trường. Các nhà quản lý luôn phải lựa chọn giữa hai mục tiêu là tăng trưởng và

sinh lời. Trả lãi cao hơn cho các khoản tiền gửi và nguồn vốn giúp ngân hàng có

thể tăng nguồn vốn nhưng lại làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

Một chính sách lãi suất được coi là hợp lý khi nó thoả mãn các yêu cầu

sau:

- Có thể giúp ngân hàng huy động được đủ nguồn vốn cho hoạt động và

đảm bảo cơ cấu vốn hợp lý.

- Đảm bảo tính cạnh tranh

SV: Hồng Thu Hương



114



Lớp CQ49/15.07



116



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



- Đảm bảo lợi nhuận hợp lý cho ngân hàng

- Phù hợp với chính sách lãi suất của NHTW và xu hướng thay đổi lãi suất

trên thị trường.

- Đảm bảo lãi suất thực dương

Tại ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh Tây Hà Nội hiện

nay đang tìm mọi biện pháp để mở rộng nguồn vốn huy động do đó chi nhánh

nên áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt. Mặt khác chi nhánh cũng cần điều

chỉnh cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn một cách hợp lý.

3.2.3 Xây dựng hệ thống thông tin về cơ chế phối hợp trong hoạt động huy

động vốn

Hệ thống thông tin là một trong những bộ phận quan trọng trong việc

đẩy mạnh nâng cao hoạt động huy động vốn tại mỗi ngân hàng. Chúng giúp ngân

hàng có cái nhìn tổng qt và chính xác hơn đối với việc nắm bắt nhu cầu và

mong muốn của mỗi khách hàng khi tìm tới ngân hàng để thực hiện các mục

đích riêng của mình.

* Chiến lược khách hàng

Hiện tại, NH TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội đang

xây dựng chiến lược khách hàng cụ thể trong công tác huy động nguồn vốn. Các

giải pháp, biện pháp kinh doanh chưa có tính định hướng, sự phân biệt rõ nét

theo từng nhóm khách hàng. Do vậy khi xây dựng chiến lược khách hàng phải

đảm bảo các nguyên tắc:

Thứ nhất, phải có tính thực tiễn cao. Tức là ngân hàng phải có khả năng

thực hiện những điều đã vạch ra, tránh việc xây dựng khơng thực tế sẽ gây lãng

phí về chi phí, thời gian và bỏ qua cơ hội kinh doanh.

Thứ hai, chiến lược được xây dựng theo định hướng thị trường phù hợp

nhu cầu của khách hàng mục tiêu.

SV: Hồng Thu Hương



116



Lớp CQ49/15.07



118



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Toàn



Thứ ba, chiến lược được xây dựng phải đảm bảo dung hồ giữa lợi ích của

ngân hàng và khách hàng nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững.

* Tăng cường chất lượng nghiên cứu, dự báo khách hàng

- Thu thập thông tin về khách hàng

Chất lượng của hoạt động thu thập thông tin về khách hàng là điều kiện

đầu tiên quyết định tính thực tiễn và hiệu quả của chiến lược khách hàng. Ngân

hàng cần phát huy hơn nữa vai trò của “Hồ sơ khách hàng”. Hồ sơ khách hàng

được cập nhật một cách đầy đủ, thường xuyên và có hệ thống là phương tiện

quan trọng cho phép ngân hàng đưa ra các quyết định thoả mãn nhu cầu của

khách hàng trong khả năng của ngân hàng.

Một hồ sơ khách hàng hồn thiện phải có đầy đủ hai loại thơng tin, thơng

tin tài chính và thơng tin phi tài chính.

- Thơng tin tài chính, kinh tế như thu nhập chi phí, tài sản cố định, tình

hình sản xuất kinh doanh, vốn chủ sở hữu, cơng nợ...; nhìn chung, thường được

khách hàng cung cấp qua các báo cáo tài chính, danh mục tài sản có thể dùng

làm đảm bảo tín dụng, các bản kế hoạch và dự tóan. Ngồi ra, nó còn được thu

thập từ các ngân hàng đã có quan hệ với khách hàng, từ các doanh nghiệp khác

có liên quan, từ các cơ quan quản lý hay các phương tiện thông tin đại chúng.

- Thông tin phi tài chính: là những thơng tin định tính khơng thể hiện

thành những con số cụ thể, nhưng lại giúp hình dung một cách tổng quát hơn về

khách hàng. Nó có thể là những thông tin về cá nhân (nếu khách hàng là cá

nhân) về người điều hành (nếu khách hàng là doanh nghiệp), bầu khơng khí, thái

độ, tinh thần của người lao động trong doanh nghiệp... hay thông tin về sản

phẩm, uy tín, nhu cầu thị trường đối với sản phẩm doanh nghiệp... Những thông

tin này thường được thu thập trong quá trình tiếp xúc, phỏng vấn khách hàng,

khảo sát, nghiên cứu tại đơn vị. Do vậy, ngân hàng cần tận dụng những mối quan

SV: Hoàng Thu Hương



118



Lớp CQ49/15.07



120



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



hệ có thể có với khách hàng để khai thác triệt để nguồn thông tin này; đồng thời

cần có những nhân viên giỏi giao tiếp, có khả năng quan sát và óc phân tích tốt

để khéo léo gợi mở khách hàng đưa ra ý kiến của họ.

Các thơng tin sau khi có, phải được lưu trữ thích hợp nhằm tiết kiệm thời

gian, công sức lao động mà vẫn đảm bảo khai thác có hiệu quả. Nhìn chung việc

sử dụng các phần mềm tin học trong quản lý hồ sơ là hiệu quả nhất.

- Xử lý thông tin

Mục đích của việc thu thập thơng tin là để xác định các nhu cầu, mong

muốn, thái độ... của khách hàng, từ đó nâng cao khả năng thích ứng của các sản

phẩm ngân hàng. Vì vậy, để hoạt động xử lý thơng tin có hiệu quả tốt nhất, ngồi

việc đầu tư thích đáng về nhân lực, tài chính, kỹ thuật... trong nội bộ, trường hợp

cần thiết ngân hàng nên có sự tư vấn của các chuyên gia trong ngoài ngành. Việc

nghiên cứu, xử lý thông tin về khách hàng phải được thực hiện thường xuyên, tỷ

mỉ, cặn kẽ và có sự kết hợp giữa các nguồn thông tin khác nhau để giúp cho các

quyết định đưa ra thu được kết quả như mong muốn.

Trên cơ sở các phân tích, đánh giá trên, ngân hàng phải đưa ra được các dự

báo về các nhu cầu của khách hàng trong tương lai đối với các sản phẩm, dịch vụ

ngân hàng như: nhu cầu gửi tiền, vay vốn, thanh toán, sử dụng dịch vụ khác...

Đồng thời phải tìm tòi, phát hiện ra những nhu cầu mới phát sinh để đáp ứng kịp

thời, duy trì và nâng cao mối quan hệ với khách hàng.

3.2.4 Thực hiện chính sách Marketing quảng bá sản phẩm

Thực tế ở NH TMCP Công Thương Việt Nam Chi nhánh Tây Hà Nội cũng

như hầu hết các NHTM quốc doanh khác, hiện nay đều chưa có bộ phận chuyên

trách về hoạt động marketing phục vụ công tác khách hàng. Hoạt động này

thường được thực hiện phân tán ở hầu hết các phòng nghiệp vụ chức năng, nên

hiệu quả hoạt động thấp.

SV: Hoàng Thu Hương



120



Lớp CQ49/15.07



122



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



Để khắc phục những tồn tại trong công tác nghiên cứu nhu cầu thị trường,

như xử lý việc thu thập thông tin từ khách hàng; đồng thời để giải quyết những

vướng mắc, khó khăn hiện nay trong kinh doanh, giúp ngân hàng thích ứng linh

hoạt với sự thay đổi của thị trường, việc thành lập một bộ phận chuyên trách về

marketing phục vụ cơng tác khách hàng là đòi hỏi khách quan của hoạt động

ngân hàng trong kinh doanh hiện đại. Bộ phận này nhiệm vụ cơ bản sau:

- Tìm hiểu, thăm dò khách hàng đã có và sẽ có trong tương lai về nhu cầu

sản phẩm dịch vụ mong muốn của họ, trên cơ sở đó xác định thị trường mục tiêu,

phân nhóm khách hàng theo các tiêu chuẩn đặc thù.

- Nghiên cứu sản phẩm, chỉ ra hướng phát triển của sản phẩm dịch vụ

ngân hàng trong tương lai, xác định khả năng tiêu thụ sản phẩm mới, xác định thị

trường cho sản phẩm mới, theo dõi những hiện tượng không đáp ứng nhu cầu

của khách hàng, xây dựng mức giá dự kiến,...

- Đề ra các biện pháp huy động mọi nguồn lực trong ngân hàng nhằm thoả

mãn tối đa các nhu cầu của khách hàng. Theo dõi quá trình thực hiện các nhiệm

vụ của chiến lược marketing phục vụ khách hàng ở các bộ phận trong ngân hàng.

- Định kỳ, đánh giá phân tích việc giải quyết các mối quan hệ với khách

hàng để tìm ra được sự phù hợp hay khơng phù hợp, từ đó có biện pháp uốn nắn

kịp thời nhằm khơng ngừng hồn thiện và nâng cao công tác phục vụ khách

hàng...

Hoạt động của bộ phận marketing chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Giám đốc

và có sự liên hệ thông tin hỗ trợ lẫn nhau với các phòng ban khác, đảm bảo triển

khai đồng bộ các hoạt động chuyên sâu của hoạt động marketing, mà không bị

chồng chéo.



SV: Hồng Thu Hương



122



Lớp CQ49/15.07



124



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



3.2.5 Nâng cao trình độ giao dịch viên, cán bộ quan hệ khách hàng…

Chất lượng cán bộ, nhân viên ngân hàng là nhân tố quan trọng, nếu khơng

nói là quan trọng nhất để kiến tạo sức mạnh cạnh tranh trong môi trường kinh

doanh hiện đại. Do vậy, cần phải không ngừng đào tạo, đào tạo lại, đào tạo nâng

cao trình độ cho tồn bộ cán bộ, nhân viên ngân hàng. Để quá trình đào tạo hiệu

quả cần tiến hành phân loại đối tượng đào tạo. Ví dụ, đối với cán bộ mới tuyển

dụng, cán bộ mới từ nghiệp vụ khác chuyển sang, thì cần có phương pháp đào

tạo cơ bản phải bài bản, lý thuyết là chủ yếu gắn với liên hệ thực tế tại chi nhánh

và trong hệ thống. Đào tạo nâng cao và chuyên sâu theo nghiệp vụ, theo đối

tượng khách hàng phục vụ cho cán bộ có thời gian cơng tác nhất định với

phương pháp chủ yếu là nêu câu hỏi gợi mở, trao đổi hướng dẫn họcviên thảo

luận... Quá trình lựa chọn giáo viên giảng dạy nên sử dụng nhiều hơn giảng viên

đang làm việc tại NHTM, vừa có trình độ chun mơn, vừa có kinh nghiệm xử

lý các tình huống chủ yếu dạy về thực hành, nâng cao kỹ năng tác nghiệp.

Mặt khác, cần tăng cường bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về các văn bản,

chế độ mới; kiến thức lý luận, khoa học mới; kinh nghiệm thực tế tổng kết từ

thực tiễn hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh... Trong đào tạo, bồi dưỡng tác

nghiệp cần lưu ý đào tạo để nhân viên thực hiện nhiệm vụ một cách chủ động, có

tính chun nghiệp và tính luật cao; vừa tuân thủ các quy trình cơng nghệ ngân

hàng, vừa phát huy được tính tích cực, chủ động, năng động, sáng tạo trong hoạt

động thực tiễn nhằm đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao trong cơng việc

được giao. Ngồi hình thức tổ chức học tập trung, nên trang bị cho các phòng

nghiệp vụ những tài liệu, báo chí chuyên ngành ngân hàng, tài chính, thị trường,

kinh tế... để khuyến khích cán bộ, nhân viên tự tìm hiểu và thu thập thơng tin.

Về lĩnh vực Marketing, kiến thức marketing cần được trang bị cho tất cả

cán bộ trong ngân hàng, đặc biệt là các nhân viên giao dịch. Bởi vì nhân viên

giao dịch là những người trực tiếp phục vụ khách hàng vì vậy họ phải am hiểu

SV: Hồng Thu Hương



124



Lớp CQ49/15.07



126



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Toàn



nhu cầu của khách hàng hơn ai hết. Qua giao tiếp họ có thể xác định nhu cầu và

những mong đợi của khách hàng, mỗi lần gặp gỡ khách hàng là cơ hội tốt để

ngân hàng hiểu rõ về khách hàng của mình hơn. Đồng thời, chính qua các nhân

viên giao dịch mà hình ảnh về ngân hàng hình thành trong khách hàng. Trong

quan hệ với khách hàng, nhân viên giao dịch phải ứng xử cho thật phù hợp, tạo

“hình ảnh đẹp” về ngân hàng cho khách hàng. Vì vậy, bên cạnh việc đào tạo

chun mơn nghiệp vụ cho nhân viên, ngân hàng cần tổ chức các khoá học về

marketing và nghệ thuật giao tiếp bán hàng nhằm nâng cao khả năng ứng xử hợp

lý vơí từng đối tượng khách hàng và đóng góp tích cực trong việc phát hiện và

thoả mãn nhu cầu khách hàng.

Cần quy định cụ thể về phong cách của nhân viên ngân hàng khi giao dịch

với khách hàng và giáo dục động viên nhân viên thực hiện nghiêm túc như: quy

trình đón tiếp khách hàng đến giao dịch, thái độ phục vụ ân cần, nhiệt tình tạo sự

thoải mái, yên tâm và tin tưởng vào ngân hàng; trang phục, xưng hô... phải phù

hợp; giải quyết cơng việc nhanh gọn theo đúng quy trình nghiệp vụ và thời gian

quy định; giải thích rõ rành, nhanh gọn, chính xác những vướng mắc của khách

hàng; ln giữ đúng lời hẹn với khách hàng... Nắm vững nhiệm vụ của bản thân

và của bộ phận mình làm việc, hiểu rõ về mối quan hệ công việc giữa các bộ

phận để có thể hướng dẫn khách hàng đến đúng nơi cần giải quyết. Đối với

những vấn đề phát sinh vượt thẩm quyền giải quyết phải xin ý kiến của cấp trên,

không được tự ý từ chối khách khi chưa có ý kiến của lãnh đạo...

3.2.6 Tăng cường quản trị nguồn vốn huy động

Công tác quản trị nguồn vốn huy động cần được chú ý và lên kế hoạch

trước một cách cẩn thận. Công tác quản trị nguồn vốn huy động ở đây chính là

khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đã huy động được. Để khai thác và sử

dụng tối đa nguồn vốn huy động thì ngân hàng cần phải nâng cao hiệu quả sử

dụng vốn vì nó là yếu tố quyết định đến hoạt động huy động vốn. Sử dụng vốn

SV: Hoàng Thu Hương



126



Lớp CQ49/15.07



128



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



có hiệu quả thì mới kích thích hoạt động huy động vốn, có tạo được vốn thì mới

có thể sử dụng vốn và ngược lại. Vì vậy ngân hàng chỉ có thể hoạt động tốt trên

cơ sở kết hợp hài hoà giữa huy động vốn và sử dụng vốn. Đẩy mạnh hoạt động

tín dụng là một biện pháp để nuôi dưỡng nguồn vốn cho tương lai. Ngân hàng

không chỉ quan tâm đến việc hiện nay thu hút được bao nhiêu nguồn vốn mà còn

phải tìm cách nuôi dưỡng nguồn vốn cho tương lai. Để đảm bảo nuôi dưỡng

nguồn vốn cho tương lai ngân hàng cần làm tốt cơng tác tín dụng, nâng cao chất

lượng tín dụng giúp cho ngân hàng hạn chế rủi ro, đảm bảo thu hồi vốn đúng

thời hạn để tiếp tục cho vay. Những thơng tin về nhu cầu mở rộng tín dụng cần

chính xác để trên cơ sở đó ngân hàng ln có đủ vốn cho kinh doanh, tránh tác

động xấu của việc ứ đọng vốn hoặc thiếu vốn. Để thực hiện được u cầu đó

chất lượng của cơng tác thẩm định cũng phải không ngừng được nâng cao .

3.2.7 Nâng cao vị thế và uy tín của Ngân hàng

Đối với mỗi NHTM uy tín quyết định đến sự thành cơng hay thất bại trong

hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Khi ngân hàng thực sự có uy tín, tạo được

lòng tin với khách hàng thì khách hàng mới biết đến và sử dụng các dịch vụ của

ngân hàngmột cách thường xuyên và liên tục.

Một trong những yếu tố để nâng cao uy tín của ngân hàng với khách hàng

chính là chất lượng phục vụ của ngân hàng đối với khách hàng. Chất lượng dịch

vụ của ngân hàng thể hiện ở nhiều yếu tố: Mức độ phong phú của các dịch vụ,

thời gian phục vụ, thái độ phục vụ, trình độ nghiệp vụ, các tiện ích mà sản phẩm,

dịch vụ ngân hàng mang lại cho khách hàng... Muốn có được uy tín cao trên thị

trường ngân hàng nên làm các việc sau:

- Ln giữ chữ tín với khách hàng, đảm bảo đủ khả năng thanh tốn khi

khách hàng có u cầu.

- Thực hiện tốt quy trình nghiệp vụ, giảm thiểu sai sót, nếu có sai sót phải

xử lý kịp thời và bồi thường thoả đáng nếu sai sót gây thiệt hại cho khách hàng.

SV: Hoàng Thu Hương



128



Lớp CQ49/15.07



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH TÂY HÀ NỘI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×