Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các loại hình của NHTM gồm:

Các loại hình của NHTM gồm:

Tải bản đầy đủ - 0trang

14



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



- Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, với hoạt động

thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ ngân hàng

cho khách hàng trong nên kinh tế quốc dân. Luật các tổ chức tín dụng mới nhất

năm 2010 đã định nghĩa: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được

thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác

theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận” (Điều 4, mục 3)

- Luật NHNN định nghĩa: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh

tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này

cấp tín dụng, cung cấp dịch vụ thanh tốn”.

Ngân hàng thương mại có các đặc trưng cơ bản:

+ Là một tổ chức được phép nhận tiền gửi với trách nhiệm hoàn trả.

+ Sử dụng tiền gửi của khách hàng để cho vay, chiết khấu, đầu tư, …

+ Thực hiện các khoản thanh toán và các dịch vụ ngân hàng cho khách

hàng.

Trong các ngân hàng trung gian, NHTM là loại hình kinh doanh điển hình.

Hệ thống các NHTM chiếm vị trí quan trọng nhất về quy mô tài sản và về thành

phần các nghiệp vụ. Hoạt động của NHTM bao gồm 3 lĩnh vực: nghiệp vụ nợ

(huy động vốn), nghiệp vụ có (cho vay kinh doanh) và nghiệp vụ môi giới trung

gian (dịch vụ thanh tốn, đại lí, tư vấn, thơng tin, giữ hộ chứng từ có giá…).

Ba loại nghiệp vụ đó có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ, thúc đẩy nhau phát

triển, tạo nên uy tín cho ngân hàng.

1.1.2



Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại ra đời và phát triển gắn liền với các hoạt động sản



xuất kinh doanh của nền kinh tế. NHTM hoạt động với ba hoạt động chính là

hoạt động huy động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động khác (các hoạt

SV: Hồng Thu Hương



14



Lớp CQ49/15.07



16



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Toàn



động về dịch vụ ngân hàng như dịch vụ tư vấn, thanh toán hộ, giữ hộ, …). Các

hoạt động này có quan hệ mật thiết, đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động

của ngân hàng, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và

thế mạnh cạnh tranh cho ngân hàng và tạo nên một chính thể thống nhất.

a. Hoạt động huy động vốn

Đây là nghiệp vụ tạo vốn, tạo cho NH có khả năng hoạt động và cạnh tranh

trên thị trường được. Các nghiệp vụ huy động vốn của NH bao gồm:

- Nghiệp vụ hoạt động tiền gửi: là nghiệp vụ quan trọng nhất trong nghiệp vụ

huy động vốn của NH và cũng là đối tượng chủ yếu trong hoạt động quản lý tài

sản nợ của NH bao gồm tiền gửi của các tổ chức cá nhân và tiền gửi dân cư.

- Nghiệp vụ huy động vốn dưới hình thức phát hành các phiếu vay nợ: mục

đích nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cấp thiết như việc phát hành trái phiếu, các

chứng chỉ tiền gửi có thời hạn khác nhau.

- Vay trên thị trường liên ngân hàng là nhân tố quyết định việc tạo lập mới

vốn khả dụng cho NH, tạo điều kiện cho NH tăng khả năng sinh lời.

b. Hoạt động sử dụng vốn

Những nghiệp vụ sử dụng vốn hình thành nên tài sản của ngân hàng mà khi

lên bản cân đối kế tốn nó nằm bên phía tài sản có. Như vậy, tài sản chủ yếu của

ngân hàng là các tài sản tài chính hay còn gọi là các hình thức trái quyền (như cổ

phiếu, trái phiếu và các khoản cho vay), thay vì tài sản thực như nhà cửa, công

cụ và nguyên vật liệu.

Huy động vốn được rồi, NHTM phải làm thể nào để hiệu quả hoá những

nguồn tài sản này. Hầu như tất cả các khoản mục bên tài sản nợ của ngân hàng

đều là vốn vay, nghĩa là ngân hàng phải trả lãi suất cho nó đến từng giờ. Do đó

để khỏi bị thiệt hại, ngân hàng luôn luôn phải cho vay hoặc đầu tư ngay số tài

sản ấy vào những dịch vụ sinh lãi. Từ lãi thu được, ngân hàng sẽ dùng nó để trả

SV: Hồng Thu Hương



16



Lớp CQ49/15.07



18



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



lãi suất cho vốn đã vay, thanh tốn các chi phí trong hoạt động, phần còn lại sẽ là

lợi nhuận của ngân hàng. Nói cách khác, nghiệp vụ có của ngân hàng là những

nghiệp vụ thực hiện sử dụng những khoản vốn đã huy động (tập trung ở nghiệp

vụ nợ) nhằm mục đích sinh lợi.

c. Các hoạt động khác

Các hoạt động này không thể hiện trên bảng cân đối tài sản. Các hoạt động

này ít rủi ro hay khơng có rủi ro nhưng mang lại cho NH thu nhập cao và tạo

điều kiện cho hoạt động nhận tiền ký thác và cho vay của NH. Bên cạnh các hoạt

động kinh doanh được phép trực tiếp thực hiện, Luật các tổ chức tín dụng cũng

quy định các NHTM được phép thực hiện gián tiếp thông qua việc thành lập hay

mua lại công ty con, công ty liên kết, bao gồm: Bảo lãnh phát hành chứng khốn,

mơi giới chứng khốn; quản lý, phân phối chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán;

cho thuê tài chính; bảo hiểm, …

1.2 Nguồn vốn của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm về nguồn vốn

Khi nói đến thuật ngữ “trung gian tài chính” ta thường hay nghĩ tới hai

loại hình tổ chức cơ bản đó là: các tổ chức nhận tiền gửi (bao gồm các ngân hàng

thương mại, các hiệp hội tiết kiệm và cho vay) và các trung gian đầu tư (bao gồm

các Cơng ty tài chính, các Cơng ty bảo hiểm...). Nhưng cho dù có được hiểu thế

nào đi chăng nữa thì ngân hàng thương mại, xét về khối lượng tài sản cũng như

những đóng góp đối với nền kinh tế, vẫn ln giữ vai trò quan trọng hàng đầu.

Các ngân hàng thương mại luôn đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lên hàng đầu và

để làm được điều đó, cơng cụ cơ bản đầu tiên phải có là vốn kinh doanh. Các nhà

kinh tế đưa ra định nghĩa về vốn kinh doanh của NHTM như sau: Vốn của ngân

hàng thương mại là những gía trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo

lập hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ

kinh doanh khác.



SV: Hoàng Thu Hương



18



Lớp CQ49/15.07



20



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



Như vậy, nguồn vốn là cơ sở, tiền đề để quyết định đến quy mô kinh

doanh, tồn tại và phát triển của các Ngân hàng thương mại. Do đó có thể khái

quát khái niệm về nguồn vốn của ngân hàng thương mại như sau: Nguồn vốn của

Ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huy

động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân hàng.

1.2.2 Các loại nguồn vốn

Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kì doanh nghiệp nào cũng cần có

vốn. NHTM cũng vậy, NHTM thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ nên

đòi hỏi phải có một lượng vốn lớn, đa dạng hơn các doanh nghiệp khác. Vốn đối

với NHTM rất quan trọng. Nó quyết định quy mơ, khả năng sinh lời, xu hướng

hoạt động và phát triển của ngân hàng. Vốn nói chung của ngân hàng thương mại

bao gồm: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay, vốn khác. Mỗi loại vốn đều có

những đặc điểm, tính chất và vai trò riêng trong đối với hoạt động của ngân hàng

thương mại.

• Vốn tự có – vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu là vốn thuộc quyền sở hữu

của Ngân hàng thương mại, là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng tạo lập được.

Vốn chủ sở hữu bao gồm: Vốn điều lệ, vốn chủ sở hữu bổ sung, các quỹ dự trữ,

các tài sản nợ khác..

Vốn tự có của NHTM chiếm một tỷ trọng nhỏ trong các khoản mục tiêu

tạo nên nguồn vốn nhưng nó có vai trò cực kì quan trọng đối với các Ngân hàng.

Vốn tự có chính là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có được giấy phép hoạt động

và là một tấm đệm chống lại rủi ro phá sản vì nó là nguồn trang trải những thua

lỗ trong hoạt động. Do tính chất thường xuyên ổn định nên Ngân hàng có thể sử

dụng nó vào các mục đích khác nhau như trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, tạo tài

sản cố định phục vụ cho bản thân Ngân hàng, có thể sử dụng cho vay, đặc biệt là

đầu tư góp vốn liên doanh. Mặt khác với chức năng bảo vệ, vốn thuộc sở hữu

của ngân hàng được coi như là tài sản đảm bảo gây lòng tin với khách hàng, duy

trì khả năng thanh tốn cho khách hàng khi ngân hàng hoạt động thua lỗ. Hơn

nữa, nó là một căn cứ quyết định đối với quy môt và khối lượng vốn huy động

SV: Hoàng Thu Hương



20



Lớp CQ49/15.07



22



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



cũng như hoạt động cho vay và bảo lãnh của ngân hàng. Quy mô và sự tăng

trưởng vốn thuộc chủ sở hữu của ngân hàng sẽ quyết định năng lực phát triển

của Ngân hàng thương mại. Khi đánh giá về quy mô của một Ngân hàng thương

mại thì tiêu chí đầu tiên được đề cập là vốn chủ sở hữu của Ngâ hàng đó.

Vốn tự có của Ngân hàng bao gồm:

- Vốn điều lệ: là mức vốn được hình thành khi Ngân hàng được thành lập.

Vốn điều lệ luôn lớn hơn hoặc bằng vốn pháp định. Vốn pháp định là mức vốn

tối thiểu phải có khi thành lập một Ngân hàng do pháp luật quy định.

- Vốn chủ sở hữu bổ sung trong quá trình hoạt động:

Vốn chủ sở hữu của Ngân hàng thương mại có thể tăng theo nhiều phương thức

khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh doanh cụ thể của Ngân hàng thương mại

đó, bao gồm:

* Nguồn vốn bổ sung từ lợi nhuận: Khi hoạt động kinh doanh tạo ra lợi

nhuận thì Ngân hàng thương mại có thể chuyển một phần lợi nhuận thành nguồn

vốn nhằm đầu tư. Lượng vốn tích tụ từ thu nhập tùy theo chiến lược kinh doanh

của Ngân hàng trong từng thời kỳ.

* Nguồn vốn bổ sung từ việc phát hành thêm cổ phiếu góp thêm, cấp thêm:

Để mở rộng quy mô hoạt động, để đổi mới trang thiết bị, hoặc để đáp ứng nhu

cầu gia tăng vốn chủ sở hữu do ngân hàng trung ương quy định. Đặc điểm của

hình thức tạo vốn này là khơng thường xun, song giúp Ngân hàng thương mại

có được lượng vốn chủ sở hữu lớn vào lúc cần thiết.

* Các quỹ dự trữ của Ngân hàng: Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng có

nhiều quỹ. Các quỹ này được trích lập từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân

hàng và được sử dụng vào các mục đích nhất định. Mỗi quỹ có một mục đích

riêng: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc

lợi, quỹ khen thưởng…

* Các tài sản nợ khác: Các khoản chênh lệch do đánh giá lại tài sản, chênh

lệch tỷ giá, vốn đầu tư xây dựng mua sắm do Nhà nước cấp, trái phiếu chuyển

đổi hoặc cổ phần ưu đãi do Ngân hàng thương mại phát hành, đây là thành phần



SV: Hoàng Thu Hương



22



Lớp CQ49/15.07



24



Học viện tài chính



GVHD:Th.S Trần Cảnh Tồn



khá đặc biệt trong nguồn vốn chủ sở hữu bởi nó được hình thành từ một khoản

vay trung và dài hạn của ngân hàng.

•Vốn huy động: Theo quan niệm của các nhà kinh tế học và các nhà Ngân

hàng trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng ngoài nguốn vốn thuộc chủ sở hữu thì

tất cả các nguồn vốn còn lại được coi là nguồn huy động. Như vậy, nguồn vốn

huy động của các NHTM chiếm tỷ trọng tới hơn 90% trong tổng nguồn vốn. Vì

vậy, các hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng tồn tại và phát triển được là nhờ

nguồn vốn huy động này.

Nguồn vốn huy động không thuộc sở hữu của NHTM nhưng ngân hàng có

quyền sử dụng tạm thời khoản vốn này và cho vay đối với khách hàng, tổ chức

tín dụng. Đồng thời ngân hàng phải trả lãi cho nguồn vốn huy động đó, dưới

dạng lãi tiền gửi, lãi trái phiếu, lãi kỳ phiếu… được tính trên thời gian huy động,

số tiền huy động, lãi suất thỏa thuận giữa khách hàng gửi tiền và ngân hàng.

Ngoài ra ngân hàng phải có trách nhiệm hồn trả đầy đủ và đúng hạn khoản vốn

này.

Như vậy, Nguồn vốn huy động là khoản tiền tệ mà Ngân hàng thương mại

huy động được từ các doanh nghiệp, cá nhân, các ngân hàng và tổ chức kinh tế xã hội thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn hình thành nên

nguồn vốn chủ yếu trong kinh doanh.

Vốn huy động của NHTM bao gồm:

- Nhận tiền gửi: là nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được từ các doanh

nghiệp, tổ chức kinh tế, cá nhân… trong xã hội thông qua quá trình nhận tiền

gửi, thanh tốn hộ, các khoản cho vay tạo tiền gửi và các nghiệp vụ kinh doanh

khác. Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối tượng

khách hàng khác nhau, Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng nó để cho vay, chiết

khấu, thanh tốn…nhưng khơng có quyền sở hữu, Ngân hàng có trách nhiệm

phải hồn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút tiền

để sử dụng. Tiền gửi chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động của

các NHTM.

SV: Hoàng Thu Hương



24



Lớp CQ49/15.07



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các loại hình của NHTM gồm:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×